1
CHƢƠNG 1. CÁC VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng không chỉ trong bản thân doanh
nghiệp mà cả trong nền kinh tế, nó là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia
mà tại đấy diễn ra quá trình sản xuất kinh doanh như: Đầu tư, tiêu thụ và phân phối.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tài chính doanh nghiệp, các nhà kinh tế đã
tìm kiếm khái niệm tài chính trên các vấn đề có tính chất nguyên lý khác nhau của họ
mà thường tập trung vào 5 nguyên tắc sau:
+ Nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp
+ Sự bảo đảm có lợi ích cho những người bỏ vốn dưới các hình thức khác nhau.
+ Khía cạnh thời hạn của các loại vốn.
+ Sự diễn giải các khái niệm về vốn như là tổng giá trị của các loại tài sản dưới
hai dạng vốn trừu tượng và vốn cụ thể.
+ Chỉ ra quá trình thay đổi của vốn trong các trường hợp tăng giảm và thay đổi
cấu trúc của nó.
Dựa vào các nguyên tắc đó ta có khái niệm tài chính doanh nghiệp là một trong
những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm
giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh được
biểu hiện dưới hình thái tiền tệ. Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn, hoạt động
tài chính là những quan hệ tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối,
sử dụng và quản lý vốn một cách có hiệu quả. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà
nước, hay khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ.
Trên thị trường tài chính doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn
doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư tối
ưu; huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, phân bổ hợp lý các
nguồn vốn, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả
năng sinh lời của vốn kinh doanh.
Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh. Vai trò này của tài chính doanh
nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao
động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi phát hành cổ phiếu, hàng
hoá bán, dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân
phối quỹ tiền thưởng, quỹ tiền lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế… Ngoài ra, nếu
người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính doanh
nghiệp phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành đòn bẩy kinh
tế có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất,
Thang Long University Library
3
kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích
tiêu dùng xã hội.
Giám sát kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tình hình tài
chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính thực hiện mà các nhà
quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp, để từ đó có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của
doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa ra các quyết
định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục tiêu đã định.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết là
phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn phụ
thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính doanh nghiệp và các
nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp.
1.2. Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó, họ có thể định hướng cho giám đốc tài chính
cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ
phần và lập kế hoạch dự báo tài chính. Cuối cùng phân tích tài chính còn là công cụ để
kiểm soát các hoạt động quản lý.
Đối với các nhà đầu tƣ: Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm hàng đầu của họ
là thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi và sự rủi ro. Vì vậy, họ cần các thông tin về điều
kiện tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh và tiềm năng tăng trưởng của
các doanh nghiệp.
Trước hết họ quan tâm tới lĩnh vực đầu tư và nguồn tài trợ. Trên cơ sở phân tích
các thông tin về tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh hàng năm, các nhà đầu tư
sẽ đánh giá được khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp; từ đó
đưa ra những quyết định phù hợp. Bên cạnh đó, chính sách phân phối cổ tức và cơ cấu
nguồn tài trợ của doanh nghiệp cũng là vấn đề được các nhà đầu tư hết sức coi trọng vì
nó trực tiếp tác động đến thu nhập của họ. Bởi vậy, các yếu tố như tổng số lợi nhuận
ròng trong kỳ có thể dùng để trả lợi tức cổ phần, mức chia lãi trên một cổ phiếu năm
trước, sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của
doanh nghiệp cũng như hiệu quả của việc tái đầu tư luôn được các nhà đầu tư xem xét
trước tiên khi thực hiện phân tích tài chính.
Đối với các chủ nợ: Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng hay
các nhà cung ứng vật tư hàng hóa cho doanh nghiệp, mối quan tâm của họ chủ yếu
hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ chú ý đặc biệt đến số lượng
tiền và các tài sản khác có thể chuyển nhanh thành tiền, từ đó so sánh với số nợ ngắn
hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ
ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm tới số vốn của chủ sở hữu,
bởi vì số vốn này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp bị rủi ro.
Như vậy, kỹ thuật phân tích có thể thay đổi theo bản chất và theo thời hạn của các
Thang Long University Library
5
khoản nợ, nhưng cho dù đó là cho vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập
được. Xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định
nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã
đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và ra quyết định.
6
Dự đoán và quyết định
Mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính. Đối với chủ
doanh nghiệp, phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định tăng trưởng, phát triển,
tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Đối với người cho vay và đầu
tư đó là các quyết định về tài trợ và đầu tư. Đối với cấp trên của doanh nghiệp là các
quyết định quản lý doanh nghiệp.
1.2.4. Thông tin sử dụng để phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn
thông tin: từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài
doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều giúp
cho nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng.
Trong những thông tin bên ngoài, cần lưu ý những thông tin chung (thông tin liên
quan đến trạng thái kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lại suất), thông tin về
ngành kinh doanh (Thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu
ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần, ) và các thông tin
pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho
các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp )
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có
thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin
quan trọng bậc nhất. Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động Tài chính
trong các doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
Bảng cân đối kế toán
Là một báo cáo tài chính, mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời
động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi
tiết. Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của
doanh nghiệp.
Thuyết minh BCTC gồm những nội dung cơ bản sau:
- Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
- Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán.
- Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng.
- Các chính sách kế toán áp dụng.
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán.
- Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả HĐKD
- Thông tin bổ sung cho khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.2.5. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp
nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên
ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và
chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng trên
thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau.
8
1.2.5.1. Phương pháp so sánh.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng
thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện
hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình
hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được
so với doanh nghiệp cùng ngành.
định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày
càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ
sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh
nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp.
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính
toán hàng loạt các tỷ lệ.
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và
phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng
giai đoạn.
1.2.5.3. Phương pháp Dupont.
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở
Mỹ. Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên
phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn. Mô hình Dupont được thể
hiện qua công thức:
Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
*
Tổng tài sản
VCSH
Tổng tài sản
VCSH
Hay ROE =ROA* Đòn bẩy tài chính
Ngoài ra, mô hình Dupont còn được khai triển chi tiết qua công thức:
Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
phân tích khái quát về tình hình tài chính được thể hiện qua các vấn đề cơ bản sau:
đánh giá năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp hiện tại và đánh giá tính
hợp lý của những chuyển biến về giá trị, cơ cấu tài sản.
Để nhận định được năng lực kinh tế thực sự của tài sản doanh nghiệp, trước tiên
người phân tích nên tiến hành thẩm định giá trị kinh tế thực của tài sản doanh nghiệp
nắm giữ, xem xét tình hình chuyển đổi của chúng trên thị trường. Cụ thể, việc xem xét
này thường được tiến hành theo nội dung cơ bản sau:
+ Xem xét và đánh giá các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp
hiện nay trên thị trường có giá trị kinh tế hay không, so với giá trị kế toán trên báo cáo
kế toán cao hay thấp hơn, khả năng chuyển đổi trên thị trường của các khoản đầu tư
chứng khoán ngắn hạn như thế nào. Một khi các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn
doanh nghiệp đang nắm giữ có giá trị kinh tế cao hơn giá trị kế toán, khả năng chuyển
đổi trên thị trường diễn thuận lợi thì đây là một dấu hiệu tốt về tiềm lực kinh tế các
khoản đầu tư tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp, dấu hiệu này ít nhất cũng tác động
tích cực đến tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp trong kỳ kế toán tiếp theo.
+ Xem xét các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán có thực hay không và
tình hình thu hồi có diễn ra thuận lợi hay không. Thông thường, khi xem xét năng lực
kinh tế của các khoản phải thu chúng ta nên quan tâm đến những dấu hiệu của các con
nợ về uy tín, về khả năng tài chính. Một khi, các dấu hiệu về con nợ đều lạc quan thì
khả năng kinh tế của các khoản nợ phải thu sẽ cao, mức sai lệch giữa giá trị thực với
giá trị kế toán nhỏ và nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của doanh
nghiệp trong kỳ kế tiếp. Ngược lại, nếu những dấu hiệu về con nợ bi quan thì giá trị
Thang Long University Library
11
kinh tế của nợ phải thu thường sẽ thấp, mức chênh lệch giữa giá trị thực với giá trị kế
toán sẽ tăng cao và đôi khi nó chỉ còn tồn tại trên danh mục tài sản doanh nghiệp chỉ là
con số kế toán.
+ Xem xét các mục hàng tồn kho của doanh nghiệp có tính hữu dụng trong sản
xuất kinh doanh và có giá trị kinh tế thực sự trên thị trường hay không.
12
toán). Quá trình so sánh tiến hành quá nhiều thời kỳ thì sẽ giúp cho người phân tích có
được sự đánh giá đúng đắn hơn về xu hướng, bản chất của sự biến động.
1.3.2. Phân tích khái quát tình hình biến động nguồn vốn
Tương tự như phân tích khái quát về tình hình biến động tài sản, việc phân tích
tình hình biến động nguồn vốn được tiến hành thông qua các vấn đề cơ bản sau: Đánh
giá tính hợp lý, hợp pháp nguồn vốn của doanh nghiệp và Phân tích sự biến động các
khoản mục nguồn vốn.
Để nhận định được tính hợp lý và hợp pháp của nguồn vốn doanh nghiệp, trước
hết nên tiến hành xem xét những danh mục nguồn vốn trên báo cáo tài chính doanh
nghiệp hiện có tại một thời điểm có thực không, nó tài trợ cho những tài sản nào,
những nguồn vốn này doanh nghiệp được phép khai thác hợp pháp hay không. Cụ thể
việc xem xét này thường được tiến hành theo nội dung sau:
+ Xem xét và đánh giá các khoản nợ ngắn hạn doanh nghiệp đang khai thác như
vay ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả trước, thuế các khoản phải nộp nhà
nước có phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán của doanh nghiệp hay
do bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh hình thành.
+ Xem xét và đánh giá các khoản nợ dài hạn doanh nghiệp đang khai thác như
vay dài hạn, nợ dài hạn khác có phù hợp với mục đích sử dụng dài hạn, phù hợp với
đặc điểm luân chuyển vốn trong thanh toán dài hạn của doanh nghiệp hay do bị động
trong sản xuất kinh doanh hình thành.
+ Xem xét và đánh giá các khoản nợ khác như chi phí phải trả, tài sản thừa chờ
xử lý, nhận ký quỹ ký cược dài hạn có thực sự tồn tại và phù hợp với mục đích sử
dụng vốn hay không. Đặc biệt là chi phí phải trả cần phải được xem xét trong mối
quan hệ với kế hoạch dài hạn của chi phí này, tính hiện thực của nó trong tương lai.
Chi phí phải trả có thể làm giảm lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp và lại làm tăng
lợi nhuận trong tương lai. Vì vậy, nếu không phân tích rõ nguồn gốc thì dễ nhận xét sai
lầm về bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
+ Xem xét và đánh giá vốn chủ sở hữu doanh nghiệp đang khai thác như nguồn
ảnh hưởng đến doanh thu thuần như: sự biến động của nền kinh tế, của chính sách, luật
pháp hay sự cạnh tranh của các đối thủ. Nếu nền kinh tế có nhiều biến động tiêu cực
như: lạm phát tăng, sức mua yếu, nợ xấu nhiều, hay Nhà nước ban hành các chính
sách hạn chế hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp thì doanh thu
thuần của doanh nghiệp sẽ giảm. Ngược lại, nếu tình hình nền kinh tế tốt, các chính
sách của Nhà nước rõ ràng, ổn định và không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường thì doanh thu thuần của công ty sẽ tăng lên.
Giá vốn hàng bán: phản ánh toàn bộ chi phí mua hàng để sản xuất sản phẩm,
hàng hoá. Nếu giá vốn hàng bán tăng lên cho thấy doanh nghiệp đang mua nhiều hàng
hóa và nguyên vật liệu đầu vào hơn. Như vậy, có thể kết luận rằng doanh nghiệp đang
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc do dự đoán được nhu cầu sử dụng hàng
hóa, dịch vụ chuẩn bị tăng nên tăng cường tích trữ hàng hóa. Ngược lại giá vốn hàng
bán giảm phản ánh doanh nghiệp đang thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc
doanh nghiệp đã tìm được nguồn cung cấp hàng hóa, nguyên vật liệu có giá thành thấp
hơn. Tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cao cho
14
thấy doanh nghiệp đang tốn quá nhiều chi phí cho hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào
và ngược lại.
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm: Chi phí bán hàng là chi phí phục vụ cho quá
trình lưu thông hàng hoá như chi phí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao tài sản cố định,
vận chuyển, quảng cáo, tiếp thị… và chi phí quản lý doanh nghiệp. Sự tăng giảm của
chi phí phụ thuộc nhiều vào những chính sách quản lý của doanh nghiệp cũng như tình
hình biến động giá cả nguyên vật liệu trên thị trường, chi phí nhân công và các chi phí
khác như: điện, nước, chi phí thuê mặt bằng, Thông qua việc so sánh chi phí qua các
năm có thể thấy được hiệu quả sử dụng tài sản, nguồn vốn của của doanh nghiệp.
Lợi nhuận: là số tiền lãi mà doanh nghiệp có được sau khi lấy doanh thu thuần
trừ đi giá vốn hàng bán và các loại chi phí. Sự tăng, giảm của lợi nhuận qua các năm
cho thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hiệu quả hay
không hiệu quả. Lợi nhuận tăng cho thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu
giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn vì xuất hiện dấu hiệu doanh nghiệp đã sử dụng
một phần nguồn vốn ngắn hạn vào tài sản dài hạn. Mặc dù nợ ngắn hạn có khi do
chiếm dụng hợp pháp hoặc có mức lãi thấp hơn lãi nợ dài hạn tuy nhiên chu kỳ luân
chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán cho nên dễ dẫn đến những vi phạm nguyên
tắc tín dụng và có thể đưa đến một hệ quả tài chính xấu hơn.
Ngoài ra mối quan hệ cân đối còn được thể hiện thông qua tài sản dài hạn như sơ
đồ sau:
TSCĐ
Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu
Đầu tư tài chính dài hạn
Xây dựng cơ bản dở dang
Ký quỹ, ký cược dài hạn
Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ vốn chủ
sở hữu thì đó là điều hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng mục đích nợ dài
hạn và cả vốn chủ sở hữu, nhưng nếu phần thiếu hụt được bù đắp từ nợ ngắn hạn là
điều bất hợp lý như trình bày ở phần cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Nếu phần tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn điều này chứng tỏ một phần nợ dài hạn đã
chuyển vào tài trợ tài sản ngắn hạn. Hiện tượng này vừa làm lãng phí chi phí lãi vay nợ
dài hạn vừa thể hiện sử dụng sai mục đích nợ dài hạn. Điều này có thể dẫn đến lợi
nhuận kinh doanh giảm và những rối loạn do mất cân bằng tài chính doanh nghiệp.
Ngoài ra, khi phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn chúng ta
cần chú trọng đến nguồn vốn lưu động thường xuyên. Nguồn vốn lưu động thường
xuyên không những biểu hiện quan hệ giữa cân đối giữa tài sản với nguồn vốn mà nó
còn có thể cho chúng ta nhận thức được những dấu hiệu tình hình tài chính trong sử
dụng tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. Vốn lưu động thường xuyên được tính
bằng TSNH trừ đi nguồn vốn ngắn hạn hoặc nguồn vốn dài hạn trừ tài sản dài hạn.
Như vậy, nếu vốn lưu động thường xuyên lớn hơn không và lớn hơn nhu cầu vốn
lưu động thiết yếu, thì đây là một dấu hiệu tài chính lành mạnh và đảm bảo cân đối
giữa tài sản với nguồn vốn trong hoạt dộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngược lại, vốn lưu động thường xuyên nhỏ hơn nhu cầu tài sản ngắn hạn thiết yếu
Khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán thực sự của doanh
nghiệp trước các khoản nợ ngắn hạn, nó cho biết những chỉ tiêu có tính thanh khoản
cao nhất trong tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có đáp ứng được nhu cầu nợ ngắn
hạn hay không. Hệ số này được tính bằng công thức:
Khả năng thanh toán nhanh
=
TSNH – hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Thang Long University Library
17
Hệ số này Hệ số này thường được so sánh với hệ số trung bình của ngành, thông
thường khả năng thanh toán của công ty được đánh giá an toàn khi hệ số này > 1 vì
công ty có thể trang trải các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán bớt hàng tồn kho.
Khả năng thanh toán tức thời cho biết tiền và các khoản tương đương tiền có
đáp ứng được nhu cầu thanh toán cho các khoản nợ ngán hạn của doanh nghiệp hay
không và được tính bằng:
Khả năng thanh toán tức thời
=
Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số này Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh mà tỷ số về khả năng thanh
toán tức thời bằng bao nhiêu là hợp lý. Thông thường, tỷ số này xấp xỉ 0,5 là tốt. Nếu
quá lớn cho thấy tài sản của doanh nghiệp tồn tại dưới dạng tiền nhiều làm cho hiệu
quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp sẽ không cao. Ngược lại, nếu tỷ số này quá nhỏ
lại phản ánh một tình hình tài chính không lành mạnh, khó khăn trong việc thanh toán
các khoản nợ phải trả ngay.
1.3.5.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tồn tại các khoản phải thu trong doanh
nghiệp là điều khó tránh khỏi. Nhờ các chính sách bán chịu mà doanh nghiệp có thể
thu hút thêm khách hàng, mở rộng thị trường, duy trì thị trường có sẵn, nâng cao hiệu
quả sử dụng máy móc, thiết bị… Tuy nhiên việc bán chịu có thể khiến doanh nghiệp
chịu rủi ro, đó là việc giảm giá trị hàng hoá, tốc độ chu chuyển vốn chậm, rủi ro về khả
năng thu hồi nợ. Do đó doanh nghiệp cần phải quan tâm đến kỳ thu tiền trung bình và
đưa ra các chính sách nhằm rút ngắn thời gian này.
Vòng quay hành tồn kho cho biết hàng tồn kho quay vòng bao nhiêu lần trong
một kỳ, nó phản ánh mối quan hệ giữa hàng tồn kho và giá vốn hàng bán trong một kỳ
kinh doanh theo công thức:
Vòng quay hàng tồn kho
=
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho
Tỷ số này có giá trị cao sẽ ủng hộ lòng tin của khách hàng vào khả năng thanh
toán của doanh nghiệp, nếu tỷ số thấp sẽ cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh trì trệ
và kém năng động của doanh nghiệp đó. Nhưng cũng có thể doanh nghiệp tăng mức
dự trữ nguyên vật liệu khi dự đoán trước giá sản phẩm sẽ tăng hoặc do có sự gián đoạn
trong khâu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất. Bởi vậy khi so sánh cần có thêm
những thông tin về dự trữ nhằm đảm bảo tính chuẩn xác. Đây là một chỉ tiêu khá quan
trọng để đánh giá hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ số này đo
lường tính thanh khoản của hàng tồn kho. Nếu việc quản lý hàng tồn kho của doanh
nghiệp không hiệu quả sẽ phát sinh chi phí lưu trữ hàng tồn kho làm giá bán tăng.
Thời gian quay vòng hàng tồn kho cho ta biết trung bình kể từ khi doanh
nghiệp mua hàng đến khi bán được hàng mất bao nhiêu thời gian theo công thức:
Thời gian quay vòng hàng
tồn kho
=
360
Vòng quay hàng tồn kho
khoảng thời gian từ khi thanh toán các khoản nợ đến khi thu được tiền và được tình
theo công thức:
CCC = RCP + ICP – PDP
Trong đó,
RCP (Receivable Collection Period) là kỳ thu tiền khách hàng
ICP (Inventory Conversion Period) là kỳ chuyển đổi hàng tồn kho
PDP (Payable Deferral Period) là kỳ thanh toán cho nhà cung cấp
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt càng ngắn thì thì tốc độ thu hồi vốn lưu động càng
nhanh, làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chu kỳ tiền mặt có thể được rút
ngắn bằng cách giảm thời gian chuyển đổi hàng tồn kho qua việc xử lý và bán hàng
hóa nhanh hơn hoặc bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng qua việc tăng tốc
thu nợ hoặc bằng cách kéo dài thời gian thanh toán qua việc trì hoãn trả nợ cho nhà
cung cấp.
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản cho biết một đồng tài sản đem lai bao nhiêu
đồng doanh thu và được tính bằng công thức:
20
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ tài sản vận động nhanh, góp phần làm tăng doanh
thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngược lại. Tuy nhiên chỉ số này phụ thuộc vào
đặc diểm của ngành nghề kinh doanh, đặc điểm cụ thể của tài sản trong các doanh
nghiệp.
Hiệu số sử dụng TSNH cho biết một đồng TSNH đem lại bao nhiêu đồng doanh
thu và được tính bằng công thức:
Hiệu suất sử dụng TSNH
=
Doanh thu thuần
chấp nhận được. Có nghĩa Hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60).
Tỷ số khả năng trả lãi này cho biết một công ty có khả năng đáp ứng được
nghĩa vụ trả nợ lãi của nó đến mức nào.
Tỷ lệ khả năng trả lãi
=
Lợi nhuận trước thuế và lãi
Chi phí lãi vay
Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty
cho các chủ nợ của mình càng lớn. Tỷ lệ trả lãi thấp cho thấy một tình trạng nguy
hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm EBIT xuống dưới mức nợ lãi
mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ.
Tỷ số trên nếu lớn hơn 1 thì công ty hoàn toàn có khả năng trả lãi vay. Nếu nhỏ
hơn 1 thì chứng tỏ hoặc công ty đã vay quá nhiều so với khả năng của mình, hoặc công
ty kinh doanh kém đến mức lợi nhuận thu được không đủ trả lãi vay.
Tỷ số khả năng trả nợ cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng có thể sử dụng
được để chuẩn bị cho mỗi đồng trả nợ gốc và lãi, được xác định bằng công thức:
Tỷ lệ khả năng trả nợ
=
GVHB + Khấu hao + EBIT
Nợ gốc + Chi phí lãi vay
Đây là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư vào dự án của doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
Nói chung đến thời điểm trả nợ, nếu K > 1 thì có thể nói là khả năng trả nợ của công ty
là khá tốt, về mặt lý thuyết hệ số này càng cao cho thấy khả năng trả nợ của doanh
nghiệp các tốt. Tuy nhiên nếu hệ số này cao quá có thể cho thấy thực trạng rằng việc
quản lý và luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp là chưa tốt.
1.3.5.4. Phân tích chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Đối với doanh nghiệp thì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận, nhưng lợi nhuận
không phải là chỉ tiêu để chúng ta đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình đầu tư - sản
xuất - tiêu thụ, khả năng quản lý các mặt của doanh nghiệp. Muốn đánh giá được tính
hiệu quả của quá trình trên thì chúng ta cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với
công ty với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương
trong cùng ngành.
1.3.6. Phân tích mối quan hệ giữu các chỉ tiêu tài chính bằng phương trình Dupont
Các tỷ số phân tích theo phương pháp so sánh được trình bày ở phần trên đều ở
dạng một phân số. Điều đó có nghĩa là mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm tùy thuộc
vào hai nhân tố: mẫu số và tử số của phân số đó. Tuy nhiên các tỷ số tài chính còn ảnh
hưởng lẫn nhau. Hay nói cách khác một tỷ số tài chính lúc này được trình bày bằng
một vài tỷ số tài chính khác, đó chính là nguyên lý của phương trình Dupont.
Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ
số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng
nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng
tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
*
Tổng tài sản
VCSH
Tổng tài sản
VCSH
Thang Long University Library
23
Hay ROE =ROA* Đòn bẩy tài chính
Ngoài ra, mô hình Dupont còn được khai triển chi tiết qua công thức:
Lợi nhuận ròng
=
Lợi nhuận ròng
*
Doanh thu
Các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh chủ yếu bắt nguốn từ các hoạt động sinh
lời cơ bản của doanh nghiệp. Bởi vậy, nhìn chung luồng tiền này là kết quả giao dịch
và sự kiện có tham gia vào việc xác định lãi hoặc lỗ ròng. Các luồng từ các hoạt động
kinh doanh thường có: tiền nhận được từ việc bán hàng hay cung cấp dịch vụ; tiền
nhận được từ bản quyền, phí, hoa hồng và các doanh thu khác; tiền trả cho người lao
động; tiền trả hay khoản hoàn thuế thu nhập (Trừ trường hợp chũng có thể được xác
định cụ thể là hoạt động đầu tư hay tài chính); tiền nhận hay trả từ các hợp đồng dùng
24
cho các mục đích mua bán hay thương mại; các giao dịch mua bán máy móc hay mua
bán các trái phiếu cho mục đích thương mại…cũng được xem là các luồng tiền từ hoạt
động kinh doanh. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh dương cho biết công ty đang làm
ăn có hiệu quả, có khả năng trả ngay các khoản nợ đến hạn. Ngược lại, dòng tiền từ
hoạt động kinh doanh âm tức là công ty đang làm ăn thua lỗ, lúc này doanh thu từ việc
bán hàng hóa và dịch vụ không đủ trang trải các chi phí phát sinh, ảnh hưởng lớn đến
lợi nhuận của công ty.
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư
Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra
liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm:
- Các khoản chi tiền mua nhà xưởng, máy móc, thiết bị, tài sản vô hình, các tài
sản dài hạn khác liên quan đến các chi phí tăng đã được vốn hóa và các nhà xưởng,
máy móc, thiết vị tự tạo; các khoản tiền nhận từ bán các nhà xưởng, máy móc, thiết bị,
tài sản vô hình và các tài sản dài hạn khác.
- Trả tiền để mua cổ phần hay các công cụ nợ của các doanh nghiệp khác và lợi
tức trong các liên doanh; tiền thu từ việc bán cổ phần hay các công cụ nợ từ các doanh
nghiệp khác và lợi tức liên doanh
- Tiền trả hoặc thu từ các hợp đồng trong tương lai, hợp đồng kỳ hạn…
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư âm thể hiện quy mô của công ty ngày càng được
mở rộng. Bởi vì công ty cần nhiều tiền để đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị hơn
số tiền thu được từ việc khấu hao, thanh lý và nhượng bán tài sản cố định khiến cho
có một tỷ lệ phần trăm chính xác nào để tham chiếu, nhưng rõ ràng, tỷ số này càng cao
càng tốt. Cũng cần lưu ý rằng tỷ số này trong các công ty sẽ khác với tỷ số trung bình
của ngành. Nhà đầu tư nên theo dõi diễn biến lịch sử của chỉ số này để phát hiện ra
những sai khác đáng kể so với dòng tiền trung bình của công ty/doanh thu cũng như so
sánh chỉ số này của công ty với các công ty trong ngành. Ngoài ra, cần theo dõi xem
khi doanh thu tăng thì dòng tiền tăng như thế nào; và điều quan trọng là chúng thay đổi
với tốc độ ngang nhau theo thời gian hay không.
- Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt động đầu tƣ
Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt
động đầu tư
=
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt
động đầu tư
Tổng dòng tiền vào
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng dòng tiền thu vào có bao nhiêu phần trăm là
dòng tiền từ hoạt động đầu tư. Chỉ tiêu này âm cho thấy công ty đang tích cực đầu tư
mua sắm máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất. Ngược lại chỉ tiêu này dương lại cho
thấy công ty thu hẹp quy mô hoạt động.
- Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt động tài chính
Tỷ trọng dòng tiền từ hoạt
động tài chính
=
Lưu chuyển thuần từ hoạt động
tài chính
Tổng dòng tiền vào
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng dòng tiền thu vào có bao nhiêu phần trăm là
dòng tiền từ hoạt động tài chính. Chỉ tiêu này dương cho thấy công ty đang sử dụng
nguồn vốn nợ nhiều hơn và ngược lại chỉ tiêu này âm cho thấy công ty đang sử dụng
nhiều vốn chủ sở hữu hơn.