BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
KHOA KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG THU- CHI TIỀN MẶT TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
GV hướng dẫn: NGUYỄN NGỌC DUNG
SVTT: BÙI HỒNG THẮM
MSSV: 06064078
TP.Hồ Chí Minh, 2010
LỜI NHẬN XÉT VÀ CHẤM ĐIỂM CỦA GVHD
2.1.2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 11
2.1.2.1 Môi trường kiểm soát 11
2.1.2.2 Đánh giá rủi ro 11
2.1.2.3 Hoạt động kiểm soát 12
2.1.2.3.1 Kiểm soát hiện vật 12
2.1.2.3.2Kiểm tra độc lập việc thực hiện 13
2.1.2.3.3 Soát xét lại việc thực hiện 14
2.1.2.4 Thông tin và truyền thông 14
2.1.2.5 Gíam sát 15
2.1.3 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB 15
2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại 16
2.2.1 Nội dung kiểm soát 16
2.2.2 Rủi ro ngân hàng 16
2.2.3 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ tại NHTM 16
2.2.4 Các hoạt động kiếm soát tại NHTM 19
2.2.5 Các thủ tục kiểm soát nội bộ 19
2.2.5.1 Tóm tắt các quy trình 21
2.2.5.2 Phân tích, đánh giá các quy trình 21
CHƯƠNG 3: KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỀ HOẠT ĐỘNG THU – CHI TIỀN MẶT
TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 22
3.1 Định nghĩa 22
3.2 Mô hình tổ chức 23
3.2.1 Đối với các đơn vị chưa áp dụng mô hình teller một cửa 23
3.2.2 Đối với các đơn vị áp dụng mô hình teller một cửa 23
3.3 Trách nhiệm 23
3.4 Đóng gói niêm phong tiền mặt 25
3.5 Giao nhận tiền mặt trong nội bộ quỹ 28
3.6 Kiểm quỹ và xử lý thừa thiếu 28
3.7 Hệ thống sổ sách 30
3.8 Các loại báo cáo 30
Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam trong thời gian gần đây đã dần thoát
hẳng ra khỏi đám mây u tối của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nửa đầu 2008.
Các chỉ số kinh tế vừa công bố cho thấy tình hình đã có nhiều chuyển biến khá
sáng sủa hơn trước nhiều, các doanh nghiệp đã làm ăn có lãi, qua đó kính thích thị
trường vốn phát triển. Thị trường chứng khoán đã phán ứng khá tích cực với những
thông tin trên, khi hầu hết các chỉ số đều tăng điểm khá cao so với năm 2009. Chỉ
số công nghiệp Dow Jones leo lên 10.866 điểm cao nhất trong vòng 2 năm qua khi
dơi xuống mức thấp nhất 6.557 hôm ngày 6/3/2009. Tình hình chứng khoán trong
nước cũng có nhiều khá quan hơn trước sau một thời gian dài trầm lắng. chỉ số Vn-
index đã lấy lại sức khi để bốc hơi hết 994 điểm khi từ đỉnh 1.180 dơi xuông mức
thấp nhất 236 điểm hôm 27/2/2009. Trong thời gian tới không biêt thị trường sẽ
chuyển biến như thế nào? Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều nhà đầu tư muốn quan
tâm. Là một sinh viên kế hoạch và đầu tư với chút quan tâm về thị trường chứng
khoán em muốn tự mình tìm đáp án cho vấn đề nghi vấn trên. Do đó em chọn đề tài
“ Dự báo chỉ số VN-index và chứng khoán Nam đến hết năm 2010” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2.Phạm vi nghiên cứu
Do những hạn chế về trình độ chuyên môn và thời gian nên nội dung nghiên
cứu chỉ giới hạn trong phạm vi TTCK TP.HCM chỉ số Vn-index. Đề tài không
nghiên cứu trái phiếu và cổ phiếu giao dịch trên thị trường OTC và HaSTC.
3.Mục tiêu nghiên cứu
Trước hết đánh giá tổng quan về thị trường chứng khoán, tìm hiểu và nhiên
cưu những yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến thị trường chứng khoán. Đồng
thời tìm hiểu về phân tích kĩ thuật trong dự báo giá chứng khoán.
Cuối cùng nghiên cứu tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam trong thời gian
4 tháng đầu năm. Từ đó dự báo xu hướng thị trường chứng khoán Việt Nam dựa
trên su hướng phát triển kinh tế theo quang điểm phân tích cơ bản. Đồng thời vận
dụng vào su hướng giá theo quan điểm phân tích kĩ thuật để dự báo chỉ số VN-
index trong thới 6 tháng cuối năm.
Phương pháp nghiên cứu
Kiểm toán nội bộ Ngân hàng.
Khoá luận gồm 4 chương:
Chương I: Khái quát về ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
Chương II: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ
Chương III: Kiểm soát nội bộ về hoạt động thu- chi tiền mặt tại Ngân hàng
TMCP Kỹ Thương Việt Nam
Chương IV: Nhận xét và kiến nghị
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG
VIỆT NAM ( TECHCOMBANK )
1.1Bối cảnh thành lập
NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank được thành lập vào ngày
27/09/1993 theo giấy phép hoạt động số 0040/NH-GP có hiệu lực từ ngày 06/08/1993
và đi vào hoạt động trong thời hạn 20 năm. Với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng và
trụ sở lúc đầu được đặt tại 27 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Ngân hàng được thành lập để tiến hành các hoạt động ngắn hạn bao gồm nhận tiền gửi
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức và cá nhân tuỳ theo tính chất và khả
năng nguồn vốn của Ngân hàng ; thực hiện các nghiệp vụ kinh donh ngoại hối, chiết
khấu thương phiếu, trái phiếu và các chứng từ có giá; cung cấp các dịch vụ cho các
khách hàng; và các dịch vụ Ngân hàng khách mà NHNN cho phép.
1994-1995
- Tăng vốn điều lệ lên 51,495 tỷ đồng.
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá trình phát triển
nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn.
1996
- Thành lập Chi nhánh Techcombank Thăng Long cùng Phòng Giao dịch Nguyễn Chí
Thanh tại Hà Nội.
- Thành lập Phòng Giao dịch Thắng Lợi trực thuộc Techcombank Hồ Chí Minh.
- Tăng vốn điều lệ tiếp tục lên 70 tỷ đồng.
1998
2004
- Ngày 09/06/2004: Khai trương biểu tượng mới của Ngân hàng.
- Ngày 30/6/2004: Tăng vốn điều lệ lên 234 tỉ đồng.
- Ngày 02/8/2004: Tăng vốn điều lệ lên 252,255 tỷ đồng.
- Ngày 26/11/2004: Tăng vốn điều lệ lên 412 tỷ đồng.
- Ngày 13/12/2004 Ký hợp đồng mua phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ với
Compass Plus.
2005
- Thành lập các chi nhánh cấp 1 tại: Lào Cai, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, T.P
Nha Trang (tỉnh Khánh Hoà), Vũng Tàu.
- Đưa vào hoạt động các phòng giao dịch: Techcombank Phan Chu Trinh (Đà Nẵng),
Techcombank Cầu Kiều (Lào Cai), Techcombank Nguyễn Tất Thành, Techcombank
Quang Trung, Techcombank Trường Chinh (Hồ Chí Minh), Techcombank Cửa Nam,
Techcombank Hàng Đậu, Techcombank Kim Liên (Hà Nội).
- 21/07/2005, 28/09/2005, 28/10/2005: Tăng vốn điều lệ lên 453 tỷ đồng, 498 tỷ đồng
và 555 tỷ đồng.
- 29/09/2005: Khai trương phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ của hãng Compass
Plus.
- 03/12/2005: Nâng cấp hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhất Tenemos
T24 R5.
2006
- Nhận giải thưởng về thanh toán quốc tế từ the Bank of NewYorks, Citibank,
Wachovia.
- Tháng 2/2006: Phát hành chứng chỉ tiền gửi Lộc Xuân.
- Tháng 5/2006: Nhận cúp vàng “Vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững” do Tổng
liên đoàn lao động Việt Nam trao.
- Tháng 6/2006: Call Center và đường dây nóng 04.9427444 chính thức đi vào hoạt
động 24/7.
- Tháng 8/2006: Moody’s, hãng xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới đã công bố xếp
hạng tín nhiệm của Techcombank, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam được xếp
vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO do Bộ Công thương trao tặng.
2008
- 02/2008: Nhận danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do độc giả của báo
Sài Gòn Tiếp thị bình chọn
- 03/2008: Ra mắt thẻ tín dụng Techcombank Visa Credit, 05/2008: Triển khai máy
gửi tiền tự động ADM Triển khai hàng loạt dự án hiện đại hóa công nghệ như: nâng
cấp hệ thống phần mềm ngân hàng lõi lên phiên bản T24.R7, là thành viên của cả hai
liên minh thẻ lớn nhất Smartlink và BankNet, kết nối hệ thống ATM với đối tác chiến
lược HSBC, triển khai số Dịch vụ khách hàng miễn phí (hỗ trợ 24/7) 1800 588 822,
- 06/2008: Tài trợ cuộc thi Sao Mai Điểm Hẹn 2008
- 08/08/2008: Ra mắt Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Techcombank AMC
- 09/2008: Nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2008 do Hội Doanh nghiệp trẻ trao
tặng
- 09/2008: Tăng tỷ lệ sở hữu của đối tác chiến lược HSBC từ 15% lên 20% và tăng
vốn điều lệ lên 3.165 tỷ đồng
- 09/2008: Ra mắt thẻ đồng thương hiệu Techcombank – Vietnam Airlines – Visa
- 19/10/2008: Nhận giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty cổ
phần hàng đầu Việt Nam” do UBCK trao tặng.
Hiện nay, Techcombank hiện đang phục vụ hơn 15.000 khách hàng doanh nghiệp vừa
và nhỏ, chiếm khoảng 65% doanh số tín dụng và 90% doanh thu từ các dịch vụ phi tín
dụng của Ngân hàng. Techcombank hiện đang cung cấp “ siêu thị dịch vụ trọn gói “ hỗ
trợ tối đa hoạt động kinh doanh trong nước cũng như nước ngoài bao gồm tài khoản,
tiền gửi, tín dụng, đầu tư dự án, tài trợ xuất nhập khẩu, quản lý nguồn tiền, bao thanh
toán, thuê mua, dịch vụ ngoại hối và quản lý rủi ro, các chương trình cho vay ưu đãi và
hỗ trợ xuất nhập khẩu theo các thoả thuận ký với các tổ chức quốc tế.
Với các doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân có quy mô lớn, hiện chiếm khoảng 8%
doanh số tín dụng và 8% doanh thu các dịch vụ phi tín dụng, Techcombank đang
cung cấp một loạt các dịch vụ hỗ trợ hiện đại như quản lý ngân quỹ, thu xếp vốn đầu
tư dự án, thanh toán quốc tế và các dịch vụ Ngân hàng điện tử.
Techcombank đang phục vụ gần 500.000 khách hàng dân cư, chiếm 27% doanh số tín
Bộ phận
TTQT
Bộ phận
kế toán
giao dịch
Bộ phận
ngân quỹ
Bộ phận
phân tích
và hỗ trợ
KH
Bộ phận
kế toán
tín dụng
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
2.1 Hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung
2.1.1 Khái niệm và mục tiêu của kiểm soát nội bộ
2.1.1.1 Định nghĩa
Theo báo cáo của COSO “ Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý,
hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp
một sự bảo đảm hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ.
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.”
2.1.1.2 Mục tiêu của kiểm soát nội bộ
- Đối với báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ phải đảm bảo về tính trung thực và
đáng tin cậy, bởi vì chính con người quản lý đơn vị phải có trách nhiệm lập báo cáo tài
chính phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành.
- Đối với tính tuân thủ, kiểm soát nội bộ trước hết phải đảm bảo hợp lý niệc chấp
- kể cả mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động của đơn vị có thể không
thực hiện được, và phải cố gắng kiểm soát những rủi ro này.
Chẳng hạn, những rủi ro có thể làm cho báo cáo tài chính của đơn vị không đáng
tin cậy như: báo cáo tài chính có thể trình bày những tài sản mà trên thực tế không có
hoặc không thuộc quyền sở hữu của đơn vị; tổng giá trị tài sản và các khoản công nợ
có thể được đánh giá là không đúng; khai báo không đầy đủ doanh thu và chi phí; trình
bày những thông tin tài chính không phù hợp với các nguyên tắc hoặc chuẩn mực kế
toán… Những rủi ro trên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau đây và đòi hỏi
các nhà quản lý phải quan tâm:
o Những thay đổi trong cơ chế của tổ chức hoặc môi trường họat động.
o Sự thay đổi nhân sự.
o Việc tiến hành nghiên cứu mới hoặc sửa đổi hệ thống thông tin.
o Sự tăng trưởng nhanh chóng của đơn vị.
o Những thay đổi về kỹ thuật ảnh hưởng đến quá trình sản xuất sản phẩm
hoặc hệ thống thông tin của đơn vị.
o Những chương trình giới thiệu về lĩnh vực kinh doanh, sản phẩm, hoặc quá
trình sản xuất mới.
o Sự sắp xếp lại tổ chức mới của đơn vị.
o Mở rộng hoặc thanh lý những hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị ở
nước ngoài.
o Áp dụng nguyên tắc kế toán mới.
Ngoài việc nhận định những nguyên tắc như trên, các nhà quản lý nhất thiết phải
đánh giá những rủi ro trong phạm vi hoạt động kinh doanh của đơn vị, vì trong những
vấn đề kế toán tài chính và lập báo cáo có sự khác biệt rất lớn giữa các ngành (công
nghiệp, ngân hàng, bảo hiểm…), cũng như giữa các đơn vị cùng ngành.
2,1,2,3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị
của nhà quản lý được thực hiện. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi những
hành động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hay có thể
gặp phải.
mối liên hệ với tổng thể để đánh giá quá trình thực hiện. Soát xét lại quá trình thực
hiện giúp nhà quản lý biết được một cách tổng quát là mọi thành viên có theo đuổi
mục tiêu của đơn vị một cách hữu hiệu và hiệu quả hay không. Nhờ thường xuyên
nghiên cứu về những vấn đề bất thường xảy ra trong quá trình thực hiện, nhà quản lý
có thể thay đổi kịp thời chiến lược hoặc kế hoạch hay những điều chỉnh thích hợp.
2.1.2.4 Thông tin và truyền thông
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ thông tin. Thông tin và truyền thông
chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm
soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt
động tài chính và sự tuân thủ. Sau đây là những mục tiêu chủ yếu mà một hệ thống kế
toán phải đạt được:
- Xác định các ghi chép tất cả các nghiệp vụ có thật.
- Diễn giải nghiệp vụ một cách chi tiết, để cho phép phân loại đúng đắn các
nghiệp vụ.
- Đo lường giá trị của các nghiệp vụ để ghi chép đúng giá trị của chúng.
- Xác định đúng kỳ hạn của các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra để ghi chép đúng kỳ.
- Trình bày đúng đắn các nghiệp vụ và những công bố có liên quan trên báo cáo
tài chính.
Để đạt được các điều trên, cần phải chú ý đến hai bộ phận quan trọng trong hệ
thống kế toán đó là chứng từ sổ sách có liên quan.
Với đặc trưng là đăng ký từng nghiệp vụ kinh tế vừa xảy ra, chứng từ cho phép
kiểm tra giám sát tỉ mỉ từng hành vi kinh tế thông qua thủ tục lập chứng từ. Ngoài ra,
chứng từ còn cho phép ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm để bảo vệ tài sản của
đơn vị. Ví dụ thủ tục lập và xét duyệt phiếu chi sẽ giúp ngăn chặn những nghiệp vụ chi
tiền mặt không phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, chứng từ còn là căn cứ pháp lý để
giải quyết tranh chấp giữa các đối tượng, kể cả bên trong và bên ngoài đơn vị. Tóm lại,
với chức năng tiền kiểm, chứng từ đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống thông
tin kế toán nói riêng, và trong hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung trong đơn vị.
Sổ sách kế toán được xem là bước trung gian tiếp nhận những thông tin ban đầu
trên chứng từ để xử lý nhằm hình thành thông tin tổng hợp trên các báo các tài chính
- Giám sát định kỳ thường được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ
do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện.
2.1.3 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB
Ở bất kỳ đơn vị nào, dù đã được đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ
thống, thế nhưng một hệ thống kiểm soát nội bộ vẫn không thể hoàn toàn hữu hiệu .
Bởi lẽ, ngay cả khi có thể xây dựng hệ thống hoàn hảo về cấu trúc, thì hiệu quả thật sự
của nó vẫn tùy thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức là phụ thuộc vào năng lực
làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng nhân sự. Nói cách khác, hệ thống kiểm
soát nội bộ chỉ có thể giúp hạn chế tối đa những sai phạm mà thôi, vì nó có các hạn
chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn,đãng trí,
đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới.
- Khả năng đánh lừa, lẩn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau
hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị.
- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát
sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm
trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua.
- Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt
động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận gây ra.
- Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền
hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng.
2.2 Hệ thống kiếm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại
2.2.1 Nội dung kiểm soát
- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ gốc và chứng từ ghi sổ
+ Kiểm soát tính rõ ràng, đầy đủ, trung thực các nội dung ghi trên chứng từ, kiểm soát
tính hợp pháp, hợp lệ của nghiệp vụ kinh tế phát sinh .
+ Kiểm tra ngày, tháng, năm lập chứng từ, số chứng từ
+ Kiểm tra số tiền bằng số, bằng chữ đảm bảo khớp đúng
+ Kiểm soát việc chấp hành các quy chế tài chính
+ Kiểm soát các chữ ký trên chứng từ
vướng mắc trong kinh doanh để hoạch định và thực hiện các biện pháp đối phó.
- Ngăn chặn, phát hiện các sai phạm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Đảm bảo việc ghi chép, hạch toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức các giao
dịch phát sinh của ngân hàng. Đảm bảo việc lập các báo cáo tài chính kịp thời, hợp lệ
và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan.
- Đảm bảo tài sản và thông tin không bị lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích.
Các yếu tố cấu thành cơ chế kiểm soát nội bộ gồm môi trường kiểm soát chung, hệ
thống kế toán, các loại kiểm soát và thủ tục kiểm soát.
Môi trường kiểm soát chung được hiểu là các nhân tố xung quanh tác động đến việc
thiết kế, hoạt động và sự hữu hiệu của các chính sách, thủ tục kiểm soát của ngân hàng
như đặc thù về cơ chế quản lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, các quy định của
pháp luật, các yêu cầu của khách hàng và cổ đông.
Thông qua việc quan sát, đối chiếu, tính toán và ghi chép các giao dịch phát sinh, hệ
thống kế toán không những cung cấp thông tin cho các cấp quản lý ra quyết định mà
còn có tác dụng kiểm soát nhiều mặt hoạt động của ngân hàng. Chính vì thế, hệ thống
kế toán là một mắt xích quan trọng của cơ chế kiểm soát nội bộ.
Thủ tục hay quy trình kiểm soát là trình tự và nội dung của các bước công việc mà
bộ phận kiểm soát nội bộ có thẩm quyền phải thực hiện để hoàn thành trách nhiệm
được giao. Tuỳ từng lĩnh vực hoạt động của ngân hàng mà quy trình và thủ tục kiểm
soát được tiến hành khác nhau. Tuy nhiên, dù thủ tục kiểm soát có khác nhau thì vẫn
phải đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc phân công, phân nhiệm;
nguyên tắc bất kiêm nhiệm và nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn. Hoạt động kiểm
soát của ngân hàng, do đó, sẽ được phân loại như sau:
- Kiểm soát quản lý là việc kiểm soát các hoạt động riêng lẻ của ngân hàng, do
nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động đó tiến hành. Kiểm soát quản lý diễn
ra thường xuyên và là hoạt động quan trọng nhất trong cơ chế kiểm soát nội bộ của
ngân hàng.
- Kiểm soát xử lý được đặt ra để kiểm tra việc xử lý các giao dịch, tức là kiểm tra
lại những công việc mà nhân viên ngân hàng đã thực hiện và đã được công nhận, cho
phép, phân loại, tính toán, ghi chép và tổng hợp trong báo cáo.
Việc yêu cầu phê duyệt và ủy quyền cho các giao dịch lớn một giới hạn nhất
định nào đó sẽ đảm bảo rằng việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng được phê duyệt bởi
các lãnh đạo phù hợp. Điều này cũng góp phần đảm bảo việc quy trách nhiệm cho các
hành vi đã thực hiện