Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG VIỆC ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
A. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
I. Khái niệm :
Theo điều 2 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 12/12/1997: Chính sách
tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của nhà nước
nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân
dân.
II. Mục tiêu :
Mục tiêu chính sách tiền tệ là mục tiêu mà ngân hàng Trung ương hoạch
định phải đạt được trong suốt quá trình điều hành chính sách tiền tệ. Thông
thường chính sách tiền tệ có hai loại mục tiêu chính: mục tiêu tiền tệ và mục
tiêu kinh tế.
1. Mục tiêu tiền tệ:
Mục tiêu tiền tệ là một hệ thống các mục tiêu về phương diện tiền tệ cần
đạt được bao gồm điều hòa khối tiền tệ, kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền
(MV), bảo vệ giá trị quốc nội và quốc ngoại của đồng tiền bằng cách ổn định
giá.
Mục tiêu điều hòa khối tiền tệ: là mục tiêu nhằm giữ vững mối quan
hệ cân đối giữa tiền và hàng. Nguyên tắc chung để đạt được mục tiêu này là giữ
nguyên, tăng hay giảm khối lượng tiền tệ tùy theo tình hình các nền kinh tế tăng
trưởng hay suy thóai. Thành phần của khối tiền tệ gồm có tiền giấy, tiền cắc do
Ngân hàng Trung ương phát hành và bút tệ được sáng tạo ra từ ngân hàng
thương mại. Do vậy để điều hòa khối tiền tệ ngoài việc kiểm sóat việc phát
hành, ngân hàng Trung ương còn phải kiểm soát khối dự trữ của ngân hàng
thương mại với tổng số tiền gởi mà nó huy động được.
Mục tiêu kiểm soát tổng số thanh toán bằng tiền: việc kiểm soát khối
tiền tệ đơn thuần như trên có nhược điểm là không lưu ý đến tốc độ lưu thông
tiền tệ. Điều này làm cho việc kiểm sóat giá cả thiếu cơ sở vững chắc vì ngoài
vậy sự biến động tỷ giá sẽ ảnh hưởng đến sức mua đồng tiền, từ đó tác động ít
hay nhiều đến hoạt động của nền kinh tế tùy theo mức độ hướng ngoại của nền
kinh tế đó. Do vậy,chính sách tiền tệ cũng cần nhắm đến mục tiêu ổn định tỷ giá
hối đoái để góp phần vào việc ổn định nền kinh tế nói chung.
2. Mục tiêu kinh tế
Mục tiêu kinh tế của chính sách tiền tệ là hệ thống các mục tiêu cuối
cùng mà nền kinh tế phải đạt được nhờ việc áp dụng chính sách tiền tệ đem lại.
Đó là các mục tiêu: tăng trưởng kinh tế; tăng mức nhân dụng và giảm thiểu
những thăng trầm chu chuyển kinh tế.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế: Khối tiền tệ tăng hay giảm đều có tác
động mạnh đến lãi suất và số cầu tổng quát, từ đó tác động đến sự gia tăng đầu
tư sản xuất và cuối cùng tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức tác động lên
sự tăng trưởng của nền kinh tế. Bởi vậy, chính sách tiền tệ phải nhằm vào mục
tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối lượng tiền tệ thích
hợp.
Mục tiêu tăng mức nhân dụng: khi gia tăng đầu tư sản xuất và gia tăng
sản xuất, các xí nghiệp thu dụng thêm nhiều nhân công. Để đạt mục tiêu này
chính sách tiền tệ nhằm vào việc mở rộng và gia tăng khối tiền tệ để vừa làm
cho sức tiêu thụ tăng lên, vừa làm cho nhà sản xuất mở rộng đầu tư nhằm thu
hút thêm nhân công.
3
Mục tiêu giảm thiểu những thăng trầm chu kỳ kinh tế: Trong kinh tế
thị trường, sự phát triển kinh tế thường biến chuyển qua nhiều giai đọan mang
tính chất chu kỳ, có lúc tăng trưởng, có lúc ngừng trệ và có lúc suy thoái.
Những thăng trầm mang tính chất chu kỳ đó có thể giảm bớt về cường độ hoặc
rút ngắn về thời gian nhờ vào một chính sách tiền tệ thích hợp. Cụ thể là mở
rộng khối tiền tệ trong giai đoạn suy thoái để sớm chuyển sang giai đoạn phục
hưng, tiết chế khối tiền tệ thế nào để vừa chống lạm phát vừa không xảy ra tình
trạng ngưng trệ và sớm chuyển sang giai đoạn tăng trưởng kinh tế với một tỷ lệ
lạm phát có thể chấp nhận được.
Theo Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá ngắn
hạn do NHTW thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia
Các công cụ tài chính được phép giao dịch trên NVTTM bao gồm các
loại giấy tờ có giá phát hành bằng đồng Việt Nam như: Tín phiếu NHNN, trái
phiếu chính phủ (tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình
trung ương, trái phiếu đầu tư do Quỹ Hỗ trợ phát hành công trái) và trái phiếu
chính quyền địa phương do UBND TP.HCM và TP. Hà Nội phát hành.
Theo Quyết định 01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước ban hành về Quy chế nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở: Là việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua,
bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá với các tổ chức tín dụng.
5
Như vậy đã có điểm khác biệt và thay đổi tích cực, giấy tờ có giá được
giao dịch không phân biệt giấy tờ có giá ngắn hạn hay dài hạn mà chỉ quy định
về thời gian, tức là các giao dịch đối với giấy tờ có giá diễn ra trong ngắn hạn
đã được gọi là nghiệp vụ thị trường mở.
Các nghiệp vụ trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai
loại: mua bán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Ở Mỹ,
nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ
dài hạn. Ở Việt nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp vụ thị
trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc,
chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác.
Khi NHTW mua/bán các chứng khoán, nó sẽ làm tăng/giảm ngay lập
tức dự trữ của các NHTM, dù người bán là NHTM hay khách hàng của NHTM.
Vì thế khả năng tạo tiền gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống ngân
hàng tăng/giảm xuống, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
rút tiền từ tài khoản để mua chứng khoán sẽ làm giảm dự trữ của NHTM.
Nếu muốn tăng tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức mua có kỳ
hạn bằng hợp đồng mua lại chứng khoán từ các tổ chức tín dụng.
Nếu muốn giảm tiền tạm thời thì NHTW sử dụng phương thức bán có kỳ
hạn bằng các hợp đồng mua lại chứng khoán của NHTM.
=>Việc tăng giảm liên tục hoặc tăng giảm có kỳ hạn sẽ tác động lên khả
năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng liên tục hay tạm thời và từ đó tác động đến
lãi suất trên thị trường vốn ngắn hạn.
Thứ hai: Nghiệp vụ thị trường mở vừa linh hoạt nhưng vừa chính xác, có
7
thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào.
Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ dù ở mức nhỏ như
thế nào đi nữa, nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt được bằng cách mua
hay bán một lượng nhỏ chứng khoán và ngược lại.
Với tính linh hoạt của nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể sử dụng
nó để nới lỏng hoặc thắt chặt tiền tệ bất cứ mức độ nào qua việc mua hoặc bán
chứng khoán với số lượng phù hợp.
C. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT :
1. THỰC TRẠNG
Ngày 30/3/2007, NHNN Việt Nam vừa tổ chức Hội nghị tổng kết hoạt
động nghiệp vụ thị trường mở năm 2006 và triển khai giải pháp điều hành năm
2007.
Theo đánh giá của nhiều ngân hàng thương mại, năm 2006, NVTTM đã
được điều hành linh hoạt, góp phần hạn chế những bất cập của thị trường. Đặc
biệt, hoạt động NVTTM đã phát huy vai trò điều tiết vốn khả dụng của các tổ
chức tín dụng, đáng chú ý là sự gia tăng mạnh về số phiên giao dịch, doanh số
giao dịch, và xu hướng mua bán 2 chiều ngày càng thể hiện rõ.
Theo báo cáo của Ban điều hành NVTTM, năm 2006, NHNN đã thực
hiện 133 phiên chào bán giấy tờ có giá. Tổng doanh số bán ra đạt khoảng
87.400 tỷ đồng, tăng mạnh so với các năm 2005 và 2004 (năm 2004: 950 tỷ