GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY
1.1 Khái niệm chung về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ.
1.1.1 Khái niệm.
Các quan hệ dân sự luôn được hình thành và diễn ra liên tục trong
đời sống kinh tế, xã hội. Không phải lúc nào người ta cũng đáp ứng được nhu
cầu vốn để sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng. Do đó, luôn luôn
hiện hữu nhu cầu vay vốn xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân, tổ chức, ở
những hoàn cảnh cụ thể nên quan hệ vay mượn là mối quan hệ khá phổ biến
trong các quan hệ dân sự. Khi cho người khác vay một khoản vốn nhất định,
bên vay có thể thực hiện, thực hiện một phần hoặc không thực hiện các nghĩa
vụ trả nợ đã giao kết với bên cho vay. Trong trường hợp bên vay không thực
hiện được nghĩa vụ đã cam kết thì bên cho vay lấy gì thu hồi được khoản tiền,
không lẽ chịu mất trắng hay sao? Do đó, để bảo vệ bên cho vay tại điều 318
Bộ luật dân sự 2005 pháp luật đã quy định các biện pháp bảo đảm (BPBĐ)
nghĩa vụ như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh, đặt cọc, ký cược, ký
quỹ, tín chấp.
Các BPBĐ nghĩa vụ là một thiết chế ra đời khá sớm ở nhiều quốc
gia có hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới. Việc thực hiện các BPBĐ
nghĩa vụ luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao
dịch dân sự, đặc biệt là bên có quyền trong giao dịch này. Với ý nghĩa đó, việc
thực hiện các BPBĐ đã góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ
dân sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc
có thực hiện nhưng không đúng nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ gây ra.
Đồng thời, các BPBĐ nghĩa vụ còn tạo điều kiện khắc phục những thiệt hại
cho bên có quyền một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Với những phân tích ở trên ta có thể hiểu BPBĐ nghĩa vụ theo 2
phương diện:
Về mặt khách quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là sự quy định của
pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự hoặc các quan hệ dân
luật dân sự năm 1995 và Nghị định số 178/1999/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện
Luật các tổ chức tín dụng 1997 (trong khi hai nghị định này chỉ được ban
hành cách nhau bốn mươi ngày).
2
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
Với đặc trưng hoạt động tín dụng ngân hàng (TDNH) là đi vay và
cho vay, hoạt động kinh doanh này đem lại hơn 80% lợi nhuận cho NH. Vì
vậy, để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng thì NH cần thiết tạo ra cho
mình cơ sở bảo đảm cho việc thu hồi nợ khi khách hàng vay không tự nguyện
trả nợ hoặc không đủ khả năng trả nợ khi hết hạn vay. Chính từ thực tế này,
pháp luật cho phép NH và khách hàng vay thỏa thuận lựa chọn áp dụng
BPBĐ bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng
tài sản của bên thứ ba.
Như vậy, bảo đảm tiền vay là việc NH áp dụng các biện pháp nhằm
phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã
cho khách hàng vay, lãi vay và các khoản phỉ (nếu có). Đó còn là sự thỏa
thuận giữa các bên cho vay và người đi vay hoặc người thứ ba nhằm áp dụng
các biện pháp cách thức để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi
phát sinh của khách hàng cho các NH.
1.1.3 Đặc điểm chung của các biện pháp bảo đảm tiền vay.
Mỗi BPBĐ tiền vay bằng tài sản, bằng bảo lãnh ở NH theo quy
định của pháp luật hiện hành thì đều có những đặc điểm riêng, nhưng nhìn
chung các BPBĐ này có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, BPBĐ là một nghĩa vụ bổ sung. Có nghĩa là các biện pháp
này không tồn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với nghĩa vụ chính (là
nghĩa vụ trả nợ) trong hợp đồng TDNH đồng thời việc thực hiện nghĩa vụ này
chỉ xảy ra khi có sự vi phạm nghĩa vụ chính trong hợp đồng TDNH. Do đó,
nghĩa vụ này sẽ chấm dứt khi nghĩa vụ chính đã thực hiện đầy đủ; hay sự vô
hiệu hợp đồng có nghĩa vụ bảo đảm có thể kéo theo sự vô hiệu của giao dịch
tài sản. Đặc trưng này thể hiện ở chỗ: tài sản phải thuộc sở hữu hợp pháp của
bên đi vay, bên bảo lãnh; tài sản không có tranh chấp vào thời điểm vay và
được phép giao dịch.
Ba là, phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được
xác định trong nội dung quan hệ chính.
Điều 319 Bộ luật dân sự 2005: “Nghĩa vụ dân sự có thể được bảo
đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật;
nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vị bảo đảm thì
nghĩa vụ được như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường
thiệt hại”.
Điều đó có nghĩa khi thỏa thuận các BPBĐ tiền vay, NH và khách
hàng có thể thỏa thuận phạm vi bảo đảm tiền vay. Trong hợp đồng tín dụng
nếu các bên có thỏa thuận TSBĐ chỉ được dùng để bảo đảm một phần nghĩa
4
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
vụ trả nợ thì dù cho giá trị tài sản có lớn hơn toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, phần
còn lại của nghĩa vụ cũng không được bảo đảm bằng tài sản đó. Trong trường
hợp này nếu khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình dẫn
đến các NH phải xử lý TSBĐ thì tài sản đó chỉ được dùng để trả nợ trong
phạm vi phần nghĩa vụ có bảo đảm được xây dựng trong hợp đồng.
Bốn là, các BPBĐ tiền vay bằng tài sản có chức năng dự phòng.
Chức năng dự phòng ở đây được thể hiện ở chỗ TSBĐ chỉ được
dùng để khấu trừ nghĩa vụ nếu người vay không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng việc trả lãi gốc, lãi vay và các khoản phí. Trong một quan hệ
TDNH, BPBĐ tiền vay được xem là đương nhiên chấm dứt khi bên vay tự
giác thực hiện nghĩa vụ của họ đối với NH, tức khi đến hạn, bên đi vay đã
thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình. Có thể nói rằng, các BPBĐ
có chức năng dự phòng, có nghĩa là các BPBĐ chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ
chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhằm qua đó bảo
vi gian dối bằng cách dùng chính tài sản thế chấp, cầm cố để tiếp tục bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại NH khác hoặc bán, chuyển nhượng cho bên thứ
ba. Nếu căn cứ khoản 1 Điều 11 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, thì
GDBĐ chỉ có hiệu lực pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.
Cho nên, những hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản chưa đăng ký nói trên sẽ
không có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba và quyền, lợi ích của NH nhận bảo
đảm sẽ không được pháp luật bảo vệ.
1.2 Tài sản bảo đảm tiền vay
1.2.1 Khái niệm
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về TSBĐ là Bộ luật dân sự
2005, tiếp đến là nghị định 165/1999/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm cũng đã
hoàn thiện hơn về phạm vi TSBĐ. Hơn một tháng sau thì Nghị định số
178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay ở các tổ chức tín dụng đã ra đời. Cả 2
Nghị định này đều được ban hành bởi Chính phủ nhưng có một số điểm lại
mâu thuẫn nhau. Ví dụ như nghị định 165/1999/NĐ-CP thì có quy định về
việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản hình thành trong tương lai nhưng
Nghị định số 178/1999/NĐ-CP thì quy định “Tài sản bảo đảm tiền vay là tài
sản của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản của bên bảo
lãnh dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với tổ chức tín dụng”.
Nghị định này chỉ nói tới tài sản hình thành từ vốn vay, như vậy là đã hạn chế
tài sản hình thành trong tương lai của khách hàng vay, mà tài sản này có thể
dùng làm TSBĐ. Thấy được sự thiếu xót này nên khi Nghị định số
6
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
163/2006/NĐ-CP ra đời đã có sự sửa đổi cụ thể “ Tài sản bảo đảm là tài sản
mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận
bảo đảm. TSBĐ có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và
được phép giao dịch”. Nghị định số 178/1999/NĐ-CP cũng được coi là quy
định khá chặt chẽ về TSBĐ. Tại điều 11 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP thì
Bên cạnh những tài sản NHCT nhận làm bảo đảm thì có một số tài
sản mà NHCT không nhận làm bảo đảm. Chúng bao gồm:
• QSD đất hình thành trong tương lai.
• QSD đất mà trên giấy chứng nhận QSD đất ghi nhận bên bảo
đảm chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính với nhà nước.
• Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, vật liệu,
hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý mua trả chậm, trả dần có thời hạn trả
chậm, trả dần từ 1 năm trở lên của bên bảo đảm mà hợp đồng mua trả chậm,
trả dần giữa bên bảo đảm và bên bán tài sản đã được bên bán tài sản đăng ký
tại cơ quan đăng ký GDBĐ.
Như vậy, tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản mà bên bảo đảm dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ với NH cho vay. Tài sản bảo đảm có thể
là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch.
1.2.2 Điều kiện của tài sản bảo đảm tiền vay
Theo Bộ luật dân sự 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì
TSBĐ phải thỏa mãn hai điều kiện sau:
• Thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc sở hữu của người thứ ba
mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên
có nghĩa vụ đối với bên có quyền. Ví dụ về một số loại tài sản mà NHCT quy
định như sau: các tài sản hình thành ở nước ngoài, được đăng ký QSH ở nước
ngoài; quyền tài sản phát sinh từ quyền đòi nợ, quyền tác giả, quyền sở hữu
công nghiệp, các quyền khác phát sinh từ hợp đồng; Có quy định này là bởi
vì TSBĐ là một loại cam kết của khách hàng vay với NH khi khách hàng
không trả được nợ. Do đó, tài sản này rất có thể sẽ bị thanh lý để NH thu hồi
vốn, lãi và các khoản phí từ khách hàng. Vậy muốn định đoạt được TSBĐ, tài
sản đó phải an toàn về phương diện sở hữu, tức là thuộc quyền sở hữu của
khách hàng vay.
• Tài sản được phép giao dịch nghĩa là tài sản không bị cấm giao
dịch và được NHCT chấp nhận làm TSBĐ. Chúng ta đã biết rằng TSBĐ là
nghĩa vụ bổ sung và mang tính dự phòng chỉ bị xử lý khi có hành vi vi phạm
Nghị định số 178/1999/NĐ-CP và căn cứ quy định của Bộ luật dân sự 2005,
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã không quy định việc mua bảo hiểm đối với
TSBĐ và tài sản không có tranh chấp là điều kiện bắt buộc của TSBĐ. Mặc
9
SVTH: Chu Minh Hoàng
Luận văn tốt nghiệp
dù có loại bỏ một số quy định bất cập của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP liên
quan đến điều kiện của TSBĐ, nhưng Nghị định số 163/2006/NĐ-CP không
loại bỏ toàn bộ các điều kiện trên mà vẫn giữ lại hai điều kiện để phù hợp với
thực tế và quy định của Bộ luật Dân sự 2005. Theo đó, tài sản được dùng để
cầm cố, thế chấp để bảo đảm tiền vay phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của
bên có nghĩa vụ hoặc bên thứ ba và được phép giao dịch. Tuy nhiên, trong
những trường hợp cụ thể, các bên vẫn có thể thỏa thuận áp dụng một hoặc cả
hai điều kiện trên trong GDBĐ, miễn sao điều kiện đó có tính khả thi, thực
hiện được trên thực tế và bảo đảm an toàn vốn vay cho ngân hàng, không làm
ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của khách hàng.
1.3 Đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay
1.3.1 Khái niệm
Có nhiều quan điểm về đăng ký GDBĐ và một số tác giả cho rằng:
“Đăng ký GDBĐ là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận
việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với
bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự,
nhằm xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa người cùng nhận bảo đảm bằng
một tài sản” còn quan điểm về đăng ký GDBĐ trong hoạt động tín dụng thì
“Đăng ký GDBĐ trong hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng, bên đi
vay hoặc việc người ủy quyền hợp pháp thực hiện việc đăng ký các hợp đồng
cầm cố, thế chấp tài sản tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Xét nội dung thì khái niệm mà tác giả đưa ra chưa mang tính bao
quát. Ở khái niệm thứ nhất, các quan điểm này chỉ nhìn nhận một số trường
hợp xảy ra trong GDBĐ về cầm cố, thế chấp tài sản và việc cầm cố, thế chấp
- Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm
trong GDBĐ có đăng ký được xác định dựa trên thứ tự về thời điểm đăng ký.
• Đăng ký GDBĐ nhằm mục tiêu công khai hóa các GDBĐ cho
mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu, qua đó giúp họ có các thông tin
chính xác, tin cậy trước khi quyết định xác lập các giao dịch dân sự. Đặc biệt
quan trọng đối với hoạt động đầu tư vốn trong và ngoài nước để phát triển sản
xuất, kinh doanh, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tín dụng
không những phát triển nhanh, mà còn phát triển ổn định. Khi cá nhân, tổ
chức ký kết hợp đồng bảo đảm và có đăng ký GDBĐ tại cơ quan có thẩm
quyền thì thông tin đăng ký sẽ được lưu giữ tại cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng
ký GDBĐ hoặc cơ sở dữ liệu lưu giữ tại các văn phòng đăng ký QSD đất ở
11
SVTH: Chu Minh Hoàng
Luận văn tốt nghiệp
cấp huyện. Vì vậy, trước khi cấp tín dụng cho khách hàng, các NH hoàn toàn
có thể tận dụng được thông tin này.
• Đăng ký GDBĐ làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng bảo đảm
trong một số trường hợp pháp luật quy định (như đối với thế chấp QSD đất).
Hầu hết các NH đều cho vay dưới hình thức có bảo đảm bằng tài sản để hạn
chế rủi ro. Khi ký kết các hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản để vay vốn,
không phải mọi trường hợp đều bắt buộc phải công chứng, chứng thực theo
quy định hoặc NH có thể thỏa thuận được với khách hàng để đi công chứng
hợp đồng khi pháp luật không bắt buộc phải công chứng. Trong trường hợp
này, đăng ký GDBĐ sẽ mang giá trị chứng cứ cho việc xác lập các quan hệ
GDBĐ giữa các bên.
• Đăng ký GDBĐ còn là một trong các biện pháp thực hiện công
tác quản lý nhà nước về các loại tài sản có liên quan.
Thông qua sự thống kê về số lượng các GDBĐ được đăng ký, nhà
nước có thể biết được tình hình cho vay của các NH, chủng loại và số lượng
các tài sản được dùng làm TSBĐ để từ đó ban hành những chính sách pháp
quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở lý luận như sau:
Thứ nhất, việc đăng ký GDBĐ đòi hỏi phải thực hiện một cách
chính xác, khách quan để qua đó bảo đảm độ tin cậy cho cá nhân, tổ chức
trong và ngoài nước khi tìm hiểu các thông tin được đăng ký.
Thứ hai, thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký
GDBĐ, nhà nước thực hiện chức năng quản lý các đối tượng thuộc diện đăng
ký bắt buộc, tạo sự minh bạch trong các quan hệ dân sự, kinh tế.
Thứ ba, hiện nay công tác xác định một tài sản thuộc sở hữu của cá
nhân hay tổ chức đều thuộc về cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc
đăng ký cũng dựa trên nền tảng là cơ quan nhà nước để bảo đảm tính đồng bộ
trong quản lý nhà nước.
Các cơ quan có thẩm quyền đăng ký GDBĐ
a) Trung tâm đăng ký GDBĐ thực hiện việc đăng ký GDBĐ đối với
các loại tài sản, trừ trường hợp quy định tại khoản b, c, d dưới đây.
b) Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực nơi đã đăng ký
tàu biển thực hiện việc đăng ký GDBĐ với tàu biển.
c) Cục hàng không dân dụng Việt Nam thực hiện việc đăng ký
GDBĐ đối với tàu bay.
13
SVTH: Chu Minh Hoàng
Luận văn tốt nghiệp
d) Văn phòng đăng ký QSD đất, phòng tài nguyên và môi trường
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện việc đăng ký giao dịch về
QSD đất, tài sản gắn liền với đất (bao gồm cả nhà ở), QSD đất và tài sản gắn
liền với đất bao gồm cả tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai.
Văn phòng đăng ký QSD đất thuộc sở tài nguyên và môi trường nơi
có đất thực hiện việc đăng ký thế chấp trong trường hợp bên bảo đảm là tổ
chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư tại
Việt Nam.
Văn phòng đăng ký QSD đất thuộc phòng tài nguyên và môi trường
lợi chính của các bên tham gia GDBĐ tài sản bởi TSBĐ không phải là bất
biến và đôi khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh (ví dụ, thế chấp xe
tải chở hàng của doanh nghiệp). Vì vậy, sự thay đổi về số lượng, chất lượng,
giá trị là điều không thể tránh khỏi. Nên việc đăng ký thay đổi nội dung
GDBĐ là một yêu cầu cần thiết để tránh rủi ro không đáng có cho các bên
tham gia giao dịch.
1.3.5.3 Đăng ký gia hạn:
Đăng ký gia hạn là trường hợp các bên thỏa thuận kéo dài thời hạn
đăng ký khi thời hạn đăng ký đã hết hiệu lực. Theo Nghị định số
178/1999/NĐ-CP lẫn Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và quy định về TSBĐ
tiền vay của NHCT thì thời hạn chấm dứt việc đăng ký GDBĐ là 5 năm kể từ
ngày có hiệu lực ngoại trừ một số TSBĐ. Do đó, khi đến hết thời hạn là 5 năm
mà các bên còn có nhu cầu thì đến cơ quan đăng ký xin gia hạn và mỗi lần gia
hạn là 5 năm tiếp theo.
1.3.5.4 Đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm:
Đăng ký văn bản thông báo xử lý TSBĐ là một trong các thủ tục
đăng ký bắt buộc đối với các bên tham gia GDBĐ khi TSBĐ đã được đăng ký
tại cơ quan có thẩm quyền bị xử lý theo thỏa thuận hoặc theo quy định. Thông
thường việc xử lý TSBĐ chỉ xảy ra khi bên bảo đảm vi phạm nghĩa vụ của
mình và bên nhận bảo đảm bắt buộc phải xử lý TSBĐ để bảo đảm cho quyền
lợi của mình. Trong trường hợp này pháp luật về đăng ký GDBĐ bắt buộc
phải đăng ký văn bản thông báo. Mục đích của việc đăng ký này là xác định
thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực
hiện nhiều nghĩa vụ. Nếu bên nhận bảo đảm trong trường hợp này là khác
nhau thì dựa trên thời điểm đăng ký để cơ quan đăng ký xác định thứ tự ưu
15
SVTH: Chu Minh Hoàng
Luận văn tốt nghiệp
tiên thanh toán giữa các bên. Đồng thời cơ quan đăng ký sẽ gửi văn bản thông
báo cho tất cả các bên nhận bảo đảm còn lại để các bên xác định được quyền
16
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
các luật sư và công chứng viên này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
(nếu có). Để làm được điều này thì các luật sư hay công chứng viên phải tiến
hành các hoạt động tra cứu giấy tờ, nguồn gốc hình thành các loại tài sản đó
(kể cả động sản và bất động sản). Sau khi xác định đúng quyền sở hữu của
bên bảo đảm thì các luật sư, công chứng viên sẽ tiến hành đăng ký.
1.4 Vai trò của các biện pháp biện pháp bảo đảm tiền vay
đối với ngân hàng
Thứ nhất, bảo đảm tài sản tiền vay được đề cập đến như một
BPBĐ thực hiện hợp đồng, tạo cho NH có được thế chủ động trong việc thu
hồi nợ.
Xét về mặt lý luận, hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng, hợp
đồng TDNH – được xem là một hình thức pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện
đúng quyền và nghĩa vụ các bên. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ hợp đồng thôi thì
chưa mang lại niềm tin vững chắc cho NH. Bởi lẽ, hợp đồng tín dụng có thực
hiện tốt hay không trong quá trình cung ứng vốn cho nền kinh tế còn phụ
thuộc nhiều vào các yếu tố: môi trường pháp luật, môi trường kinh tế, tư cách
chủ thể của người vay… Yêu cầu bảo đảm tiền vay chính là một BPBĐ thực
hiện hợp đồng.
Quan hệ tín dụng là quan hệ dựa trên cơ sở lòng tin. Trong quan hệ
tín dụng, NH chuyển giao vốn cho khách hàng và nhận được lời cam kết hoàn
trả. Như vậy, NH chỉ dựa vào lời cam kết đó mà cấp tín dụng. Chính vì thế,
chỉ khi nào cam kết đó đạt đến độ tin cậy cao, đủ tin tưởng thì NH mới cho
vay. Điều này cũng cho thấy một khi cấp phát tín dụng, NH rơi vào thế bị
động trong việc thực hiện quyền yêu cầu thanh toán khi đến hạn. Bởi vì lúc
này việc trả nợ cho NH có thực hiện được hay không phụ thuộc rất nhiều vào
hành vi thực tế của khách hàng. Để bảo vệ nguồn vốn cho mình, đòi hỏi NH
phải tìm mọi cách để kiểm soát khả năng trả nợ “thực tế” của khách hàng, ít
mại đã xác lập quyền đối với tài sản được bảo đảm và như vậy khả năng thu
hồi vốn là cao hơn. Đồng thời với GDBĐ, các NH thương mại sẽ có vị trí cao
hơn trong thứ tự giải quyết các khoản vay đối với đối tượng được sử đụng để
bảo đảm. Lấy ví dụ như một tài sản được sử dụng để bảo đảm cho một khoản
vay, tài sản đó sẽ được thanh lý để trả hết nợ cho NH có bảo đảm trước khi
phần còn lại được sử dụng để trả các nghĩa vụ khác cho chủ sở hữu.
Bên cạnh đó, pháp luật về GDBĐ tạo ra cơ chế xử lý TSBĐ nhanh
chóng, thuận tiện và đỡ tốn kém, bởi đây là yếu tố có ý nghĩa hiện thực hóa
vai trò, ý nghĩa của BPBĐ thực hiện nghĩa vụ. Xử lý TSBĐ để thu hồi nợ là
khâu cuối cùng, rất quan trọng bảo đảm quyền của chủ nợ được thực thi trên
thực tế, nên về nguyên tắc, chủ nợ có bảo đảm phải được trao quyền chủ động
18
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
xử lý TSBĐ. Kèm theo đó là điều kiện bảo đảm tính công khai và hợp lý về
mặt kinh tế trong quá trình chủ nợ xử lý TSBĐ. Trong trường hợp khách hàng
vay sử dụng hình thức thế chấp thì pháp luật cần có quy định cho phép chủ nợ
được linh hoạt trong việc thu hồi TSBĐ để xử lý thu hồi nợ, mà không cần
thông qua xét xử 2 cấp của tòa án, như giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc
theo quyết định của thẩm phán.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CÁC
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG NGÂN HÀNG
CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH 6
2.1 Các biện pháp bảo đảm tiền vay theo Nghị định 163
Nếu như trước đây, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP chỉ quy định các
BPBĐ tiền vay là cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh
bằng tài sản của bên thứ ba và bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay thì
các BPBĐ được quy định trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã được nâng
lên ngang bằng với các BPBĐ được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005, bao
gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp. Cho
Nam, trước Bộ luật dân sự 1995, khái niệm cầm cố được quy định tại khoản 2
Điều 2 Nghị định 17 ngày 16/01/1990 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Hợp
đồng kinh tế năm 1989 và được hiểu là: “ … trao động sản thuộc quyền sở
hữu của mình cho người cùng quan hệ hợp đồng để giữ làm tin và bảo đảm tài
sản trong trường hợp vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết …”. Tại điều 329 bộ
luật dân sự 1995 đã lần đầu tiên nêu ra khái niệm về cầm cố tài sản “cầm cố
tài sản là việc bên có nghĩa vụ giao tài sản là động sản thuộc sở hữu của mình
cho bên có quyền để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự; nếu tài sản cầm cố
có đăng ký quyền sở hữu, thì các bên có thỏa thuận bên cầm cố vẫn giữ tài
sản cầm cố hoặc giao cho bên thứ ba giữ”. Như vậy, quan điểm này trong bộ
luật dân sự 1995 bó buộc phạm vi của TSBĐ cầm cố chỉ là động sản. Thêm
vào đó trong luật dân sự 1995 tồn tại khái niệm “cầm cố mà không chuyển
giao vật lý”, tức là trường hợp tài sản cầm cố có đăng ký quyền sở hữu thì các
bên có thể thỏa thuận để bên cầm cố có thể giữ tài sản cầm cố. Luật dân sự
1995 phân biệt cầm cố và thế chấp trên cơ sở TSBĐ nghĩa vụ là động sản hay
20
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
bất động sản. Quan điểm này khác với Bộ luật dân sự 2005 vì Bộ luật dân sự
2005 chỉ quan tâm đến việc chuyển giao có tính chất vật lý của tài sản cầm cố
để phân biệt với biện pháp thế chấp tài sản. “Cầm cố tài sản là việc một bên
(sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia
(sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Bộ
luật dân sự 2005 đã rất hợp lý khi không bó buộc phạm vi của tài sản cầm cố
như trước, đồng thời quan điểm về phân biệt cầm cố và thế chấp dựa trên sự
chuyển giao vật lý của tài sản là khá phù hợp với thông lệ quốc tế.
Trong hợp đồng cầm cố bao giờ cũng có hai bên đó là bên nhận
cầm cố và bên cầm cố. Trong quan hệ vay vốn tại NH thì bên nhận cầm cố là
NH, bên cầm cố là khách hàng vay vốn hoặc là người thứ ba cam kết dùng tài
sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho khoản vay của khách hàng vay.
01/07/2006, có hiệu lực sau Bộ luật dân sự 2005 và do vậy sẽ áp dụng quy
định của luật nhà ở 2005, tức là nhà ở không là đối tượng của cầm cố tài sản.
Qua đó ta nhận thấy khi ký kết hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng
tài sản, các bên cần lựa chọn hình thức bảo đảm không chỉ phù hợp với các
quy định của pháp luật về GDBĐ mà còn phải phù hợp với luật chuyên ngành
điều chỉnh đối tượng TSBĐ đó.
Ngoài hai đối tượng đất đai và nhà ở nghiên cứu ở trên ra thì vấn đề
về tài sản hình thành trong tương lai có thể là TSBĐ hay không vẫn là một
vấn đề đang tranh cãi. Tuy nhiên, theo quan điểm tác giả, do Nghị định số
163/2006/NĐ-CP đã quy định rõ ràng TSBĐ có thể là tài sản hình thành trong
tương lai, do đó, tài sản cần cố, vốn là một loại TSBĐ, hoàn toàn có thể là tài
sản hình thành trong tương lai nên không thể chuyển giao vật lý cho bên nhận
cầm cố được, vì vậy nên không thể cầm cố tài sản hình thành trong tương lai.
Dẫu vậy, có lẽ pháp luật nên quy định theo hướng mở hơn, đó là quy định cho
phép tài sản hình thành trong tương lai được cầm cố, việc chuyển giao tài sản
cầm cố có thể là bắt đầu từ thời điểm mà tài sản được hình thành.
2.2.2 Bảo đảm tiền vay bằng thế chấp tài sản.
Theo điều 342 Bộ luật dân sự 2005 “Thế chấp tài sản là việc một
bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế
chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”
22
GVHD: Ths. Nguyễn Thị Hằng
Luận văn tốt nghiệp
Khác với bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005 không dùng tiêu
chí động sản, bất động sản để phân biệt cầm cố và thế chấp, thay vào đó cầm
cố và thế chấp được phân biệt ở chỗ có chuyển giao hay không có chuyển
giao tài sản cho bên nhận bảo đảm. Do đó, khái niệm thế chấp trong hoạt
động cho vay vốn của NH cũng có những thay đổi nhất định. Theo đó trong
quan hệ vay vốn NH, thế chấp tài sản là việc khách hàng vay hoặc người thứ
Tương tự như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản cũng bao gồm có hai
bên đó là bên nhận thế chấp và bên thế chấp. Bên nhận thế chấp là NH còn
bên thế chấp là khách hàng vay vốn hoặc người thứ ba cam kết dùng tài sản
thuộc sở hữu của mình để bảo đảm khoản vay của khách hàng vay.
Theo khái niệm về thế chấp thì đối tượng của thế chấp bao gồm cả
động sản và bất động sản đáp ứng các điều kiện của TSBĐ. Song theo tập
quán một số nước như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan thì NH thường quan
tâm đến tài sản thế chấp có giá trị cao như nhà, đất. Mặc dù, QSD đất và tài
sản gắn liền với đất là loại tài sản khó chuyển nhượng. Tuy nhiên theo quan
điểm của tác giả thì đây là loại TSBĐ “bền vững nhất”, bởi nó không bao giờ
mất giá hoàn toàn và nhiều khi lại trở thành “tài sản vô giá”. Nếu xét về tính
thanh khoản thì đây là loại tài sản không phải lúc nào muốn bán thì bán được,
khả năng chuyển hóa thành tiền không dễ dàng, việc xác định giá trị của nó
cũng rất khó, do vậy NH nhận thế chấp có thể gặp khó khăn khi khủng hoảng.
Thực tế, trong hoạt động cho vay của NH hiện nay thì cầm cố và
thế chấp tài sản là hai BPBĐ tiền vay được hầu hết các NH thương mại ưu
chuộng bởi vì nếu khách hàng không trả được nợ thì NH đã có tài sản của
khách hàng để thu hồi nợ. Tuy nhiên, việc cho vay này sẽ phức tạp hơn chút ít
nếu bên bảo đảm là pháp nhân được tổ chức lại. Thấy được sự rắc rối trong
vấn đề này nên NHCT đã có quy định như sau:
• NH và bên bảo đảm phải thỏa thuận về việc thừa kế, thực hiện
nghĩa vụ bảo đảm và GDBĐ trong quá trình pháp nhân tổ chức lại, nếu không
thỏa thuận được thì NH phải yêu cầu khách hàng vay thực hiện nghĩa vụ trả
nợ trước thời hạn; nếu không yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn thì
giải quyết như sau:
- Trong trường hợp chia tách pháp nhân thì pháp nhân bị
tách và pháp nhân được tách phải liên đới thực hiện GDBĐ
- Trong trường hợp chia pháp nhân thì các pháp nhân mới
phải liên đới thực hiện GDBĐ.
24
lãnh có sự tham gia của bên thứ ba là bên bảo lãnh. Đây là mối quan hệ 3 bên:
bên nhận bảo lãnh (ngân hàng), bên được bảo lãnh (khách hàng vay), bên bảo
lãnh (các tổ chức hoặc cá nhân). Một điểm khác biệt nữa giữa hình thức bảo
lãnh với cầm cố, thế chấp tài sản đó là: với “cầm cố” hay “thế chấp” là những
25