Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Để một nền kinh tế bền vững thì nhân tố con người luôn đóng vai trò
quyết định. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cùng với xu hướng trên, Việt Nam luôn tạo mọi
điều kiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt
hơn cho nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Tuy giáo dục đóng vai trò quan trọng là vậy, nhưng thời gian gần đây dư
luận đang “ nóng “ lên vì những thông tin học sinh bỏ học. Theo kết quả kiểm
tra phong trào thi đua “ trường học thân thiện học sinh tích cực ” năm học 2011-
2012 tại 12 tỉnh thành gồm có : Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định,
Thanh Hóa, Bình Định, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sóc Trăng,
Hậu Giang, TP Hồ Chí Minh con số bỏ học tính riêng học kỳ I lên tới gần
14.000, nhiều nhất là TP HCM với trên 5.600. Số vụ học sinh đánh nhau là 384
(nhiều nhất là ở Quảng Ninh 169 vụ), số học sinh vi phạm bị kỷ luật là 376
(nhiều nhất là Lạng Sơn 151 em).Tình trạng học sinh bỏ học đang tăng hàng loạt
ở các địa phương khiến những ai quan tâm đến giáo dục không khỏi băn khoăn,
trăn trở. Nếu vấn đề này không được quan tâm đúng mức sẽ đưa đến những hậu
quả xấu cho chính bản thân các em, gia đình các em và xã hội.
Có thể thấy rằng, việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học hiện nay là
vấn đề hết sức bức thiết và đòi hỏi sự quan tâm của tất cả các ban ngành. Là một
giáo viên chủ nhiệm lớp từ nhiều năm nay, bản thân tôi cũng đúc rút ra một số
kinh nghiệm mà tôi đã thực hiện và thấy có hiệu quả nên tôi chọn đề tài: “ Một
số kinh nghiệm trong việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trong trường
họchiện nay”, nhằm góp phần tìm hiểu thực trạng và nêu lên những suy nghĩ về
biện pháp khắc phục vấn đề này.
1
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận của vấn đề
nhiều khó khăn thiếu thốn, nhận thức của người dân về học tập chưa cao, độ tuổi
các em học sinh THPT lại là độ tuổi lao động chính của các gia đình, đây là một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều học sinh phải bỏ học, là hiện
tượng đáng lo ngại, cần được quan tâm và suy nghĩ.
2. Nguyên nhân học sinh bỏ học.
Trong những năm học trước do số học sinh của nhà trường bỏ học nhiều.
Cụ thể năm học 2010 – 2011 là 60 em, năm học 2011 – 2012 là 62 em, năm học
2012- 2013 là 61 em. Qua tìm hiểu thực tế tôi được biết học sinh trường THPT
Lê Lai – Ngọc Lặc bỏ học gồm một số nguyên nhân sau:
2.1/ Nguyên nhân từ phía gia đình học sinh:
Địa bàn tuyển sinh của trường THPT Lê Lai gồm 10 xã, nhưng có tới 05
xã thuộc vùng 135 đó là Vân Am, Phùng Giáo, Phùng Minh, Phúc Thịnh,
Nguyệt Ấn, như vậy có khoảng 50% số học sinh trong trường thuộc vùng 135,
vì điều kiện kinh tế của gia đình còn quá khó khăn, cha mẹ các em phải đi làm
ăn xa ( trong thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Lâm Đồng ) nên ít có điều
kiện quan tâm đến việc học của con em. Những đối tượng học sinh này phần lớn
sống với ông bà, những người bà con, các em ít được chỉ bảo, động viên trong
việc học dẫn đến học yếu,chán nản và bỏ học. Bên cạnh đó có một số đối tượng
do hoàn cảnh gia đình bị đổ vỡ, cha mẹ ly hôn, cảm giác các em như bị bỏ rơi,
chán nản không có ý thức phấn đấu trong học tập dần dần sa sút, xấu hổ với bạn
bè sinh ra bỏ học.
3
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
Ngoài những em học sinh phải bỏ học vì gia đình khó khăn thì cũng có
em gia đình khá giả, bản thân cũng muốn đi học nhưng bố mẹ lại muốn các em ở
nhà phụ giúp việc buôn bán hay làm một số công việc khác, đó là những người
chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học, họ chỉ nhìn thấy cái lợi trước
mắt bên cạnh đó có một số sinh viên ra trường chưa xin được việc làm, và họ
nghĩ rằng con em mình có học và thi đậu đại học thì sau này cũng không xin
được việc làm, vì lý do đó mà những bậc phụ huynh này đã không cho con mình
Và lúc đó, các em sẽ thật sự trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Với
những em có hoàn cảnh kinh tế khá giả, bố mẹ có thể bao bọc hoặc lo cho các
em một công việc nào đó nhưng còn những em có hoàn cảnh khó khăn thì sao?
Khi không có công ăn việc làm, khó khăn sẽ chồng chất khó khăn và nếu không
có bản lĩnh các em sẽ trở thành “tay sai” của tệ nạn xã hội (như trộm cướp, bài
bạc, mại dâm ).
Có thể nói hậu quả từ việc bỏ học là rất tệ hại mà chúng ta không thể
lường hết được. Nó tác động xấu đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của
cả nước nói chung và của địa phương có học sinh bỏ học như huyện Ngọc Lặc
nói riêng.Thậm chí ở những địa phương có tỷ lệ học sinh bỏ học đông sẽ xảy ra
tình trạng “khủng hoảng cộng đồng”. Vì một số thanh niên ở địa phương không
có tri thức kéo theo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, cuộc sống nghèo
khó. Không có tri thức rất dễ sinh nhiều con, ảnh hưởng của sự gia tăng dân số.
Còn sự nghèo khó nó sẽ dẫn đến con đường tội phạm, làm ăn phi pháp.
III. Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Lê
Lai – Ngọc Lặc.
Xuất phát từ nguyên nhân, thực trạng và những hậu quả của tình trạng bỏ
học của học sinh phổ thông nói chung và học sinh trường THPT Lê Lai nói
riêng, qua quá trình tìm hiểu thực tế kết hợp với ý kiến của ban giám hiệu nhà
trường tôi xin nêu lên một số giải pháp đối với vấn đề này như sau:
5
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
1. Giải pháp tức thời
1.1/ cần có ngay một cuộc vận động “ nói không với hiện tượng học sinh bỏ học
vì hoàn cảnh khó khăn ”
Không thể để cho các em vì nghèo mà thất học. Cần rà soát lại những
chính sách ưu tiên, hỗ trợ những học sinh nghèo, bổ sung những ưu đãi mới, có
những giải pháp vận động nguồn tài chính cho học sinh nghèo, thực hành tiết
kiệm dành tiền cho học sinh nghèo, đẩy mạnh phong trào từ thiện trong các nhà
trường, vận động những học sinh khá giúp đỡ bạn nghèo. Hiện học sinh nghèo
cách nghĩ mới và quyết định trở lại trường học.
1.3/ Phân loại đối tượng học sinh :
Mỗi giáo viên chủ nhiệm phải lên danh sách những học sinh có nguy cơ
bỏ học ( có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc,
học sinh học kém ) phân nhóm để có những biện pháp phù hợp giúp đỡ các em,
đối với những học sinh có nguy cơ bỏ học giáo viên phải thường xuyên tới thăm
gia đình các em, trò chuyện với các bậc phụ huynh, hiểu được những suy nghĩ
của các em và gia đình để kịp thời có những biện pháp giải quyết. Đối với học
sinh học kém, học sinh ở lại lớp giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân, nếu do còn
yếu kém kiến thức ở lớp dưới thì tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo để học sinh theo
kịp bạn bè.
Ví dụ: Cuối năm học 2010 – 2011 tôi đã nhờ riêng ba giáo viên đó là thầy Lê
Đức Quang dạy bộ môn toán, cô Hoàng Thị Liên dạy bộ môn hóa học và cô
Hoàng Thị Hằng dạy bộ môn tiếng Anh ra ba đề thi khảo sát, mục tiêu của đề thi
khảo sát là tìm những học sinh còn yếu kiến thức cơ bản của ba môn này, với
vai trò là giáo viên chủ nhiệm lớp 10C1, tôi đã cho lớp tiến hành thi khảo sát ba
môn này, sau đó nhờ các giáo viên trực tiếp ra đề chấm và phân loại học sinh
hổng kiến thức cơ bản của ba môn này. Sau khi có kết quả khảo sát tôi đã đích
thân nhờ các giáo viên dạy phụ đạo ba môn này cho các em. Kết quả đến năm
7
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
lớp 11 các em học sinh này đã có sự tiến bộ rõ rệt.( Tôi chỉ cho khảo sát ba môn
này vì các môn khác kiến thức lớp trên ít liên quan trực tiếp đến kiến thức lớp
dưới, hoặc có liên quan nhưng khi dạy giáo viên nhắc lại các em sẽ nhớ ngay).
Với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn giáo viên chủ nhiệm đề xuất các
chính sách hỗ trợ cho học sinh như, miễn giảm các khoản đóng góp trong nhà
trường, tạo điều kiện cho các em tiếp tục theo học.
1.4/ Cần có những chế tài với những trường hợp buộc học sinh bỏ học.
Nhiều gia đình không thực sự khó khăn nhưng buộc con em mình nghỉ để
lao động. Nhà trường nên phối hợp với chính quyền địa phương kiên trì tuyên
để các giáo viên dự giờ và góp ý cho nhau Từ đó các giáo viên được bồi dưỡng
thêm về chuyên môn như cách giảng bài, cách truyền đạt kiến thức ngắn gọn, dễ
hiểu gây được hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em biết tư duy sáng tạo,
độc lập suy nghĩ.
Một vấn đề nữa gây ra sự khô khan cho học sinh khi học trên lớp đó là, giáo
viên luôn dạy theo cách truyền thống, không đổi mới phương pháp, không sử
dụng hoặc rất ít sử dụng đồ dùng dạy học. Hàng năm các nhà trường nên rà soát
lại toàn bộ đồ dùng dạy học và các thiết bị thí nghiệm để bổ sung thật đầy đủ, từ
đó có biện pháp bắt buộc giáo viên phải sử dụng đồ dùng hoặc thiết bị thí
nghiệm. Tôi tin rằng với những thay đổi trong phương pháp truyền đạt kiến thức
theo hướng tích cực sẽ giúp các em cảm thấy thú vị, yêu thích việc học tập hơn
và nhận thấy rất nhiều điều bổ ích trong việc học tập, từ đó sẽ khắc phục tình
trạnh học sinh chán học dẫn đến bỏ học.
2.3/ Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp trong việc
đưa trẻ đến trường, ngăn chặn tình trạng bỏ học.
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo chặt chẽ của chính
quyền các cấp. Đặc biệt là sự nổ lực của ban chỉ đạo phổ cập cấp xã, huyện và
sự phối hợp tốt của các ban ngành đoàn thể trong việc vận động đưa trẻ đến
9
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
trường, kiểm tra khảo sát thường xuyên tình hình học tập thực tế của học sinh
trên địa bàn dân cư. Tăng cường công tác tuyên truyền và đẩy mạnh xã hội hóa
giáo dục. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức trách
nhiệm của từng người dân và cộng đồng dân cư trong quá trình triển khai thực
hiện công tác phổ cập giáo dục, góp phần hạn chế tình trạng bỏ học của học
sinh.
Có chính sách hỗ trợ đặc biệt, đủ mạnh cho các địa phương khó khăn. Các
địa phương cần ưu tiên dành kinh phí của mình và các nguồn tài chính vận động
được của quỹ khuyến học, các công ty đóng trên địa bàn để cấp học bổng, xe
đạp cho các học sinh thuộc diên xóa đói giảm nghèo hoặc các học sinh có hoàn
Để thấy được hết cá tính của học sinh, GVCN cần tạo đựơc mối quan hệ
gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy nhất sau cha mẹ của các em.
Chú ý khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ dễ cảm hóa
được các em, khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ thổ lộ những tâm tư tình
cảm với GVCN mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy bảo
của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em.
Ví dụ:Em Ngô Thị Hương Dung- học sinh lớp 10C1 do tôi chủ nhiệm là
một học sinh học rất yếu, em thường xuyên không thuộc bài cũ và điểm rất kém
ở các bài kiểm tra, em chán nản và có ý định bỏ học nhưng vì gia đình ép nên
em đành phải đi học. Em tỏ ra lầm lì ít nói, mặc cảm với bạn bè, với thầy cô, xa
lánh mọi người, nhất là đối với tôi em lại càng lẩn tránh hơn.
Thấy vậy tôi tìm cách gần gũi em bằng cách: Trong tuần học thứ 10 em
không thuộc bài 2 lần đều bị điểm 1 và giáo viên bộ môn ghi tên vào sổ đầu bài-
Lẽ ra như các tuần trước, những em không thuộc bài thì bị phê bình trước lớp,
buộc viết bản cam kết, nhưng để có thể gần gũi em tôi không phê bình việc
không thuộc bài cũ mà trong tiết sinh hoạt này tôi chỉ chú ý đến việc phê bình
các em còn mất trật tự trong tiết học, tôi tìm cách tuyên dương em: (bạn Hương
Dung là một học sinh học rất yếu, tuy vậy bạn lại rất có tinh thần tập thể, trong
các tiết học bạn đều nghiêm túc lắng nghe thầy cô giảng bài, không gây ảnh
hưởng đến các bạn khác ). Sau lần tuyên dương ấy em Dung có một thái độ
11
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
khác, tôi nhận thấy em có mong muốn gần gũi với mọi người hơn. Thế là trong
buổi lao động tôi tìm cách tâm sự cùng em, dần dần mối quan hệ giữa tôi và em
ngày thêm gần gũi, lúc đó em mới thật sự thổ lộ hết mong muốn của mình. Em
tâm sự với tôi rằng: “Em học yếu, đó là điều em luôn mặc cảm, việc học đối với
em như một gánh nặng, gia đình em chẳng ai giúp được gì cho em, nhà lại ở
cách xa các bạn, điều kiện gia đình lại khó khăn, em muốn nghỉ học đi vào Bình
Dương làm ở công ty dày da, em nghĩ em học yếu quá, có học cho lắm sau này
cũng chẳng làm được việc gì. Hơn nữa việc đi vào Bình Dương làm ở công ty
đổi riêng, tôi đều tìm cách khen ngợi những tiến bộ của em.
Một trường hợp khác, gia đình kinh tế khá giả, cha mẹ buôn bán, lo việc
kinh doanh không quan tâm đến việc học tập của con em, như gia đình em Lê
Đức Tài. Tài là một học sinh học khá từ những năm học ở THCS, lên THPT Tài
theo bạn bè hay bỏ học, được cha mẹ thường xuyên cho tiền nên Tài tha hồ chơi
điện tử, thường xuyên bỏ học, có lần Tài đã “ dọa ” bố mẹ bỏ nhà đi, khi bố mẹ
và chị gái của em gọi điện nhưng em cố tình không nghe điện thoại, chỉ khi tôi
gọi thì em nghe và hứa sáng mai về đi học luôn Với Tài tôi dùng biện pháp
khác tôi theo dõi em nhiều hơn, hễ em có vi phạm gì là tôi biết ngay và mỗi lần
trao đổi với em tôi đều đưa ra những chi tiết rất chính xác, ví dụ chiều nay em
bỏ học tiết 2, 3 đi chơi điện tử ở quán với em , sáng thứ ba em xin nghỉ học
với lý do ốm đau nhưng cô biết em chơi điện tử với ban lớp Tất cả việc làm
của em cô đều biết, em biết vì sao cô biết nhiều về em như vậy không? em biết
vì sao cô quan tâm tới em nhiều không? Cha, mẹ bận bịu công việc cốt tạo sự
nghiệp và cũng là tạo điều kiện để em ăn học, lo cho tương lai của em, nhiều bạn
gia đình vất vả mà các bạn vẫn cố gắng học tốt như bạn Bình, bạn Thắm còn
em có điều kiện tốt mà không lo học tập. Chơi bời với các bạn thời gian rồi sẽ
chán, em có thể chơi cả đời được không? nếu bây giờ không lo học thì sau này
em có thể làm được gì? rồi cha mẹ em sẽ ra sao? có xấu hổ với mọi người vì đã
có một đứa con như em không? Dần dần Tài thấy được cái sai của mình và Tài
cũng đã sửa đổi.
3.2/ Giáo dục bằng tập thể
13
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
Ở lứa tuổi THPT bạn bè có một vị trí rất lớn trong mối quan hệ xã hội của
các em, thường ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được việc nào là cần thiết
hơn, chính vì thế đa phần trong quan hệ với thầy cô giáo các em thường có biểu
hiện bao che cho nhau, nhất là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá
biệt, mặc dù biết việc làm của bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em
đều trả lời một câu chung nhất ( không biết) - đối với những em có quan hệ gần
quy định những em cán sự lớp phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động,
nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn. Khi nhận chức danh lớp phó
Khanh rất thích, tuần đầu tiên Khanh có tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị
phê bình là nói chuyện riêng, cuối tuần nhận xét tình hình chung của lớp tôi cho
các em phát biểu phê bình vai trò trách nhiệm của Khanh. Sau đó tôi nhận xét
chung."Tuy rằng trong tuần qua bạn Khanh vẫn còn sai sót - có vi phạm kỷ luật,
nhưng so với các tuần trước nề nếp của lớp ta tuần này tiến bộ hơn và bản thân
Khanh cũng có tiến bộ, vì sự tiến bộ của lớp ta có thể xí xoá cho bạn và cho bạn
cơ hội để khẳng định vai trò của mình ở tuần học tiếp theo". Về sau Khanh đã ý
thức được trách nhiệm của mình và không còn vô kỷ luật như trước nữa.
Đối với những đối tượng thích gây rối tập thể, nghịch ngợm (lớp bị phê
bình là niềm vui của các em) Đối với đối tượng này tôi dùng cách đẩy mạnh
các hoạt động của lớp để các em thấy được những việc làm của mình không có
tác dụng gì khi cả lớp đều có chung một sự quyết tâm nỗ lực vươn lên, làm cho
các em bị tách ra khỏi tập thể, không thể gây rối tập thể được và vô hiệu hoá
những hành động nghịch ngợm của các em. Không làm hại được tập thể lại bị
tách ra khỏi tập thể, các em tự khắc thấy mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ. Từ đó
chính các em có mong muốn được sống chung trong một tập thể đoàn kết. Khi
các đối tượng này thấy được những lỗi lầm của mình, GVCN lớp cần động viên
HS trong lớp gần gũi khích lệ để các em hoà nhập với tập thể.
3.3/ Kết hợp với phụ huynh học sinh
Có thể trao đổi qua các cuộc họp phụ huynh học sinh chung của lớp, GVCN báo
cáo kết quả rèn luyện của từng em và có thể mời phụ huynh các đối tượng này ở
lại để trao đổi riêng, tránh sự mặc cảm của phụ huynh.
15
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
Có thể trao đổi qua việc đến thăm gia đình học sinh. Thường học sinh cá
biệt thì lại có phụ huynh cá biệt ; một là không quan tâm đến việc học của con
em, hoặc không dám đối diện với sự thật về những sai phạm của con
mình thường những phụ huynh này ít tham gia vào các cuộc họp chung kể cả
đồng thời lồng vào từng chút một những khuyết điểm của các em để nhắc nhở
khắc phục.
Ví dụ: em Phan Thanh Sự là một học sinh cá biệt của lớp tôi chủ nhiệm năm
học 2011 - 2012
Các môn học thuộc lĩnh vực tự nhiên em học rất tốt, nhưng các môn đòi
hỏi học thuộc bài thì em học rất yếu, thậm chí môn Tiếng Anh em đạt điểm kém.
Em luôn đem đến sự phiền toái cho lớp như thường xuyên nói chuyện trong giờ
học, bỏ học đi chơi điện tử, xem đá bóng, chơi bi da, có hôm bỏ nhà đi chơi rồi
ngủ ở nhà bạn Cha mẹ em phiền hà, lớp cũng rất phiền hà.
Đối với đối tượng này tôi theo dõi thật sát đồng thời cứ mỗi lần không
thuộc bài tôi cho em viết một bản kiểm điểm, cam kết với giáo viên bộ môn và
cam kết với lớp. Sau đó tôi trao đổi với GVBM về tính cách cá biệt của em
đồng thời mong muốn có sự kết hợp giáo dục bằng cách thường xuyên kiểm tra
bài em, nhất là trong tiết học luôn gọi em phát biểu trước lớp ưu tiên chọn
những câu hỏi tương đối dễ để em trả lời được và thường xuyên khen để khích
lệ em, nên bỏ qua lỗi nhỏ của các em.
Với biện pháp trên qua một học kỳ em Sự đã tiến bộ rõ rệt cuối năm học
em đã đạt được danh hiệu học sinh tiên tiến .
4. Một số giải pháp khác
Từ những nguyên nhân đã phân tích cho thấy, học sinh bỏ học không
hoàn toàn là lỗi ở các em mà ngoài ra còn ở người lớn vì thế tôi cũng nêu thêm
một số giải pháp khác:
- Thứ nhất: Kết hợp các tổ chức chính quyền ở địa phương ( các xã, các
làng ), tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho các bậc làm cha, làm mẹ
17
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
về tầm quan trọng của việc học và tạo điều kiện cho các em học tập thật tốt, về
việc giáo dục con cái, nhất là cần hiểu tâm lý của con cái. Biện pháp này chỉ có
hiệu quả khi người cán bộ quả lý giáo dục cũng như người các bộ ở địa phương
có đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh trước nhiệm vụ bức thiết này.
các giải pháp ngắn hạn là tiền đề cho việc thực hiện cho việc thực hiện giải pháp
dài hạn đạt kết quả tốt, giúp các em học sinh có những điều kiện tốt nhất để tiếp
tục được đến trường.
IV. Hiệu quả thực tế của đề tài
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng của vấn đề học sinh bỏ học ở
trường THPT Lê Lai – Ngọc Lặc – Thanh Hóa, để từ đó tìm ra các giải pháp và
áp dụng vào thực tế ở lớp mình chủ nhiệm, bản thân tôi thật sự thấy hài lòng với
kết quả thu được trong suốt thời gian làm chủ nhiệm khóa học 2010-2013 của
lớp C1. Trong ba năm làm chủ nhiệm lớp C1 chỉ có duy nhất một học sinh nghỉ
học vì phải theo gia đình vào Tây Nguyên sinh sống, trong khi đó ở các lớp khác
bình quân trong một năm học có từ 02 đến 03 em học sinh bỏ học. Qua việc
khảo sát sự biến động sỹ số học sinh hàng năm cho thấy kết quả cụ thể như sau:
Năm học 2010-2011:
ST
T
Lớp Sỹ số
đầu
năm
Sỹ số
cuối
năm
Số HS
bỏ
học
Nguyên nhân bỏ học
1 10C1 49 48 01 Theo gia đình vào Tây Nguyên sinh sống
2 10C2 50 48 02 01 bỏ do lực học yếu, 01 do hoàn cảnh gia
đình khó khăn
3 10C3 47 44 03 02 bỏ do hoàn cảnh gia đình khó khăn, 01 bỏ
do lực học yếu.
Nguyên nhân bỏ học
1 11C1 05 53 53 0
2 11C2 05 53 50 03 Nhà xa trường, hoàn cảnh gia đình
khó khăn
3 11C3 06 50 40 10 04 bỏ do gia đình khó khăn, 01bỏ
do gia đình ít quan tâm, dẫn đến
chơi bời, 03 bỏ do lực học yếu, 02
bỏ vì là học sinh cá biệt bị đình chỉ
học
4 11C4 0 52 52 0 Lớp chọn toán
5 11C5 02 52 51 01 Bỏ do lực học yếu
6 11C6 0 51 51 0 Lớp chọn văn
7 11C7 06 52 47 05 02 bỏ do gia đình không cho đi
học, 01 bỏ do theo bạn đi Hà Nội,
02 bỏ do lực học yếu
8 11C8 08 51 49 02 01 bỏ do hoàn cảnh gia đình, 01 là
học sinh cá biệt, bị đình chỉ học
9 11C9 Giải tán lớp do tụt sỹ số nhiều
10 11C10 06 52 47 05 01 bỏ do lực học yếu, 02 bỏ vì là
học sinh cá biệt bị đình chỉ học, 02
bỏ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn
20
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
11 Tổng 38 467 441 26
Năm học 2012 – 2013
ST
T
Lớp Nhận
thêm
từ C3
dụng có hiệu quả một số giải pháp trên. Theo tôi nếu được sự quan tâm của tất
cả các cấp lãnh đạo để triển khai một cách đồng bộ các giải pháp trên thì chắc
chắn kết quả sẽ còn tốt hơn nhiều.
21
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I. Kết luận
1. Hiện tượng bỏ học của học sinh ở bậc THPT nói chung, trường THPT
Lê Lai – Ngọc Lặc – Thanh Hóa nói riêng vẫn còn xảy ra, việc ngăn ngừa hiện
tượng bỏ học của học sinh là trách nhiệm của những người làm công tác giáo
dục, việc tìm ra những nguyên nhân tác động dù là khách quan hay chủ quan để
đưa ra biện pháp ngăn ngừa kịp thời để hạn chế đến mức thấp nhất là việc làm
cần thiết phù hợp với quy luật phát triển của xã hội và yêu cầu về phổ cập giáo
dục THPt hiện nay, song song với việc tìm tòi, nghiên cứu, nắm bắt hiện tượng
để thấy bản chất của hiện tượng là việc làm nghiêm túc, từ đó khắc phục hiện
tượng học sinh bỏ học, tiến đến chỉnh đốn về chất lượng và đảm bảo về số lượng
trong nhà trường với mục tiêu của ngành giáo dục đề ra. “Nâng cao chất lượng
và hiệu quả trong giáo dục”.
II. Đề xuất
- Sở giáo dục và đào tạo sớm có các giải pháp chung về chuyên đề “ khắc
phục tình trạng học sinh bỏ học” để tập huấn, triển khai đến toàn bộ các bậc học
trong toàn ngành giáo dục.
- Mỗi nhà trường nên phối hợp, tham mưu với tất cả các ban ngành, các
cấp lãnh đạo từ cấp huyện đến cấp xã, thôn bản để có giải pháp khắc phục tình
trạng học sinh bỏ học ở địa phương mình một cách phù hợp và có hiệu quả nhất.
- Trên đây là một vài giải pháp và kết quả đạt được của bản thân trong quá
trình chủ nhiệm lớp. Tuy nhiên với những kinh nghiệm của bản thân tôi còn
nhiều hạn chế, nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Thời gian tới,
tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng với sự nổ
lực không ngừng của bản thân để đề tài này được hoàn thiện hơn. Rất mong ý
3. Hậu quả của việc học sinh bỏ
học 3
III. Các giải pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở trường THPT Lê
Lai - Ngọc
Lặc 4
1. Giải pháp tức
thời 4
1.1 Cần có ngay cuộc vận động "Nói không với
hiện " 4
24
Liên hệ Nguyễn Văn Hùng: 0946734736; Email:
1.2 Nhà trường cần phối hợp với các cơ quan đoàn thể
khác 5
1.3 Phân loại đối với học
sinh 5
1.4 Cần có chế tài đối với những trường hợp buộc học sinh
6
2. Giải pháp dài
hạn 6
2.1 Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động "hai
không" 6
2.2 Thay đổi phương pháp dạy và
học 6
2.3 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng 7
3. Giải pháp giáo dục học sinh cá
biệt 7
3.1 Giáo dục bằng tâm
lý 8
3.2 Giáo dục bằng tập