SỬ DỤNG THƠ, VĂN ĐỂ PHỤC VỤ
BÀI GIẢNG LỊCH SỬ 9
PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, trước tác động
ngày càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn trở
ngại do chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp hơn so với yêu cầu.
Hơn thế nữa khi hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thì cũng kéo theo đó có nhiều
nền văn hóa du nhập vào nước ta, hơn bao giờ hết chúng ta hiểu rằng những
tinh hoa, văn hóa dân tộc đang bị lung lay khi bản sắc dân tộc đang dần mất đi.
Khi chính những con người Việt Nam lại quên đi nguồn gốc, lịch sử dân tộc.
Đặc biệt là những năm gần đây, khi kết quả thi tốt nghiệp Phổ thông và thi vào
Đại học của môn Lịch sử quá thấp đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề là vì sao
lại như vậy? Có lẽ học sinh không thích học môn Lịch sử vì cho rằng đó chỉ là
môn phụ, không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, khó nhớ, nhiều sự kiện.
Và ngay cả ngoài xã hội cũng không xem trọng đối với môn học này. Vậy thì
phải làm sao để thu hút được học sinh có hứng thú và chuyên tâm hơn trong
môn Lịch sử? Việc dạy và học lịch sử đang thu hút sự quan tâm, chú ý của toàn
xã hội. Từ năm 2006 – 2007, Bộ Giáo Dục – Đào Tạo bắt đầu triển khai chương
trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học. Vậy mục tiêu của
chương trình đổi mới là gì ? Đó là nhằm thay đổi cách học và học theo hướng
tích cực hóa hoạt động của học sinh mà một trong những phương pháp để tích
cực hóa hoạt động dạy và học là dạy học liên môn.
Dạy học liên môn là dùng các kiến thức liên quan ở các bộ môn khác để
bổ sung, hỗ trợ làm sáng rõ kiến thức mà các em đang được học trong các môn
học. Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở
trường phổ thông nói chung và môn Lịch sử nói riêng. Phương pháp này góp
phần bổ sung lượng kiến thức các môn học khác cho bài học, giúp học sinh hứng
thú say mê học tập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học. Một trong những cách
1
thực hiện phương pháp dạy học liên môn là lồng ghép thơ, văn vào bài giảng
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" " phải bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng lý thuyết vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh" -
( Luật Giáo Dục - 2005); Lịch sử có chức năng, nhiệm vụ góp phần vào nhiệm
vụ giáo dục thế hệ trẻ nhằm "nâng cao dân trí, đào tạo năng lực, bồi dưỡng
nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực
thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội". Tác dụng quan trọng của sử học cũng như của bộ
môn lịch sử ở trường phổ thông, là giáo dục trí tuệ , tư tưởng chính trị, tình
cảm đạo đức.
Nhưng lịch sử lại là một chuỗi các sự kiện rất khó nhớ mà học sinh hiện
nay lại thích học các môn tự nhiên để ra trường có nhiều cơ hội việc làm thì
những bộ môn xã hội này rất ít được các em quan tâm. Nếu như giáo viên mà
không tích cực đổi mới phương pháp thì chắc chắn các em sẽ chán học, giờ dạy
sẽ nhàm chán, hiệu quả sẽ không cao. Vậy làm sao để học sinh không nhàm
chán, bớt căng thẳng mà lại hứng thú trong học tập? Ngoài việc tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin, sử dụng đồ dùng dạy học mới, hiện đại, tranh ảnh
phong phú ra thì việc lồng ghép thơ văn vào dạy học sử là không thể thiếu. Chỉ
có thơ, văn mới đem lại được sự nhẹ nhàng, bớt khô cứng trong việc dạy - học
lịch sử mà thôi.
2. Cơ sở thực tiễn:
Qua giảng dạy môn Lịch sử 9 nhiều năm ở trường THCS Hoài Hải, tôi đã
rút ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rất quý. Đó là: khi sử dụng
thơ, văn vào bài giảng lịch sử sẽ gây hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu
bài. Khi tôi đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú.
Những tiết học như vậy lớp học trở nên hấp dẫn hơn, các em có ấn tượng lâu
hơn, nắm bài tốt hơn so với những tiết học không sử dụng thơ, văn trong bài
giảng. Qua thể nghiệm bằng hai cách dạy của bản thân, tôi thấy những tiết dạy
có sử thơ, văn học sinh tập trung chú ý hơn, tâm lí thoải mái hơn, không khí lớp
học cũng nhẹ nhàng hơn và mức độ hiểu cũng như tiếp thu bài tốt hơn.
Lớp Số bài Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
9A1 34 6 17.65 8 22.8
6
10 2.94 8 22.8
6
2 5.88
9A2 35 8 22.8
6
10 28.5
7
9 25.71 7 20 1 2.86
9A3 34 6 17.65 7 20.59 10 2.94 8 22.8
6
3 8.8
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Các tác phẩm văn học với những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ
đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức và
khắc sâu nó một cách dễ dàng. Để thực hiện hiệu quả của việc vận dụng thơ, văn
trong dạy học lịch sử giáo viên có thể sử dụng một số phương pháp sau:
5
Thứ nhất: Đưa vào bài giảng một đoạn thơ, một đoạn văn ngắn hay tóm
tắt một đoạn truyện ngắn để minh họa những sự kiện đang học nhằm làm nội
dung bài học phong phú và giờ học thêm sinh động.
Thứ hai: Dùng một đoạn trích để cụ thể hóa sự kiện, nêu ra một kết luận
khái quát nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn về một thời kì, một sự kiện lịch sử.
Thứ ba: Tài liệu thơ, văn có sử liệu được sử dụng để tổ chức những buổi
ngoại khóa như: Theo dòng lịch sử, sinh hoạt đầu giờ chào cờ, trò chơi lịch sử
Khi đưa thơ, văn có sử liệu vào bài giảng lịch sử giáo viên cần lưu ý nên
đưa vào thời điểm nào cho hợp lí nhất? Giáo viên có thể sử dụng một số giải
Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền
Thuế rừng tre gỗ, thuế tiền bán buôn…
Trăm thứ thuế, thuế gì cũng ngặt
Thắt chặt dần như thắt chỉ xe”
(Á tế á ca)
Nhằm khắc họa tội ác của thực dân Pháp xâm lược cũng như nỗi thống
khổ của nhân dân ta do chính sách bóc lột bằng cách mở các đồn điền hết sức
tàn bạo, giáo viên cung cấp đoạn thơ sau và qua đó yêu cầu học sinh nêu suy
nghĩa của bản thân mình về thân phận người nông dân Việt Nam trong thời kì
này.
“Nửa đêm thuế thúc trống dồn
Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy.
Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ
Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu
Bán thân đổi mấy đồng xu
Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!”
(Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu)
1.3. Bài 15 – Tiết 17 : "Phong trào cách mạng Việt Nam sau chiến
tranh thế giới thứ nhất ( 1919 - 1925)".
Khi dạy phần: Phong trào Dân tộc Dân chủ công khai ( 1919 – 1925),
giáo viên đọc đoạn thơ sau sẽ giúp học sinh nhận diện được nhân vật lịch sử này
là ai, gắn liền với sự kiện nào.
7
Sau khi học sinh nhận diện xong, giáo viên giúp học sinh hiểu thêm về
gương hy sinh anh dũng của anh hùng Phạm Hồng Thái trong vụ ám sát toàn
quyền Méc-lanh - tường thuật cụ thể về vụ ám sát tên toàn quyền Méc-lanh tại
Sa Diện – Trung Quốc.
“Một tấm lôi đình kinh vũ trụ
Tấm gan trung nghĩa động thần minh
Chiếc thân đã gửi cho dòng nước
Nghệ Tĩnh ( 1930 - 1931).
1.6. Bài 21 – Tiết 25: Việt Nam trong những năm 1939 - 1945.
Khi nói về kết quả của cuộc khởi nghĩa Nam Kì bị thất bại, thực dân Pháp
đã đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa, nhiều cán bộ lãnh đạo Nam Kì bị bắt, bị kết
án tử hình, nhưng dù trong hy sinh vẫn giữ nguyên tư thế của người chiến thắng:
Các anh chị bước lên đài gươm máy
Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi
(Quyết hy sinh - Tố Hữu)
1.7. Bài 22 - Tiết 26: Cao trào cách mạng tiến tới Tổng Khởi nghĩa
tháng Tám năm 1945.
Lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu
nước là niềm vui mừng khôn xiết đối với đồng bào và dân tộc Việt Nam. Nhưng
không chỉ con người mới cảm được nhận niềm vui mừng mà cả cảnh vật cũng
thế. Vậy để giúp học sinh dễ nhớ thời gian trở về nước của Bác, giáo viên sử
dụng đoạn thơ: “…Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt
Sáng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về… Im lặng. Con chim hót
Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…
Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Nhớ thương hòn đất, ấm hơi Người
Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi!”
(Theo chân Bác - Tố Hữu)
9
1.8. Bài 23 - Tiết 28: Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự thành lập
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.
Khi giáo viên đọc đoạn trích sau chắc chắn học sinh sẽ nhớ rõ ràng về
trình tự khởi nghĩa và giành thắng lợi trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám
1945:
Tổng khởi nghĩa! Lệnh truyền đêm trước
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, mắt nhắm, còn ôm.
Những bàn tay xẻ núi, lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta tiến lên chiến trường tiếp viện.
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
- Mặc dù khó khăn, gian khổ nhưng quân dân ta vẫn lạc quan yêu đời:
Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát.
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)
Dạy xong diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ giáo viên đọc đoạn thơ
sau sẽ khắc họa được ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn của cuộc kháng chiến chống
Pháp - đó là chiến thắng " Lẫy lừng năm Châu, chấn động Địa Cầu". Chín năm
(từ 1945 - 1954) chiến đấu chống thực dân Pháp mới làm nên chiến thắng lẫy
lừng để đưa đất nước ta bước sang thời kì mới - miền Bắc hoàn toàn giải phóng,
chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN.
"Mường Thanh Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng".
"Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng".
(Ta đi tới - Tố Hữu)
1.10. Bài 28 - Tiết 39 – “Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh chống
đế quốc Mĩ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam 1954-1965”.
11
Sau 1954 miền Bắc hoàn toàn giải phóng bắt tay xây dựng CNXH, nông
thôn miền Bắc phấn khởi trên con đường làm ăn tập thể. Giáo viên đọc những
câu thơ sau sẽ giúp học sinh thấy được sự vui mừng của người nông dân khi
ruộng để canh tác - họ thực sự trở thành người chủ ở nông thôn.
lược "Chiến tranh cục bộ " và thắng lợi bước đầu trong chiến lược " Việt Nam
hóa chiến tranh" của đế quốc Mĩ thì xảy đến một cái tang chung gây nên một tổn
thất to lớn cho dân tộc Việt Nam.
1.12. Bài 30 - tiết 46 – “ Hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước (1973 - 1975)”.
Sau khi đọc đoạn thơ dưới đây xong, giáo viên hỏi: Đoạn thơ nhắc đến sự
kiện nào? Tôi dám khẳng định tất cả các em sẽ biết đó là chiến dịch Hồ Chí
Minh toàn thắng vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 - 4, trong giờ phút thiêng liêng
ấy lòng mỗi người dân đều rạo rực muốn dâng chiến công lên Bác. Những câu
thơ như thế đã giúp các em ghi nhớ sự kiện dễ dàng hơn, không khí lớp học nhẹ
nhàng hơn nhiều so với tiết học không sử dụng thơ.
Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa
(Toàn thắng về ta - Tố Hữu)
1.13. Bài 32 - tiết 49: Xây dựng đất nước, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
(1976 - 1985).
Nhằm giúp học sinh biết được những thành tựu của nước ta trong việc
thực hiện kế hoạch 5 năm (1981 - 1985) giáo viên cung cấp mấy vần thơ:
Chặn sông Đà, ta làm ra thác điện
Cho sáng núi rừng, sáng đến mai sau
Sắt Thái Nguyên, hãy làm ra thép luyện
Cho tay ta vươn tới mạnh giàu!
( Tố Hữu)
2. Sử dụng văn để dạy học lịch sử 9:
13
* Dạy bài 24 - Cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân
chủ nhân dân (1945 - 1946).
Nhằm giúp học sinh hiểu rõ hơn về tình hình kinh tế nước ta sau cách
như những sự kiện lịch sử quan trọng của nước nhà. Việc đưa thơ văn vào bài
giảng lịch sử là một trong những cách mà giáo viên thực hiện phương pháp
dạy học liên môn. Với phương pháp này, giáo viên đã giúp các em học môn
Lịch sử với tâm trạng thích thú, dễ nhớ và hăng say lĩnh hội kiến thức hơn.
15
PHẦN III: KẾT LUẬN
Với đề tài sáng kiến kinh nghiệm này sẽ giúp quý thầy, cô sưu tầm thơ
văn; giúp các em có hứng thú hơn trong việc học môn Lịch sử và lĩnh hội kiến
thức tốt hơn. Nhưng muốn thực hiện tốt việc vận dụng thơ, văn vào bài giảng
Lịch sử 9, trước hết giáo viên phải hiểu cặn kẽ và thật tâm đắc với những tư liệu
mình đã lựa chọn, tư liệu phải có giá trị văn học cao. Tài liệu phải là một bức
tranh sinh động về sự kiện, nhân vật lịch sử đang học. Tư liệu luôn đảm bảo
tính vừa sức của học sinh và có nguồn gốc, xuất xứ chính xác, rõ ràng. Giáo viên
không nên ôm đồm, quá tải trong việc vận dụng kiến thức thơ văn nhằm tránh
biến giờ học lịch sử thành giờ học Ngữ văn.
Khi đọc thơ, văn giáo viên phải đọc có cảm xúc, truyền cảm nhằm giúp
học sinh cảm nhận, lĩnh hội tốt thông tin mà giáo viên cung cấp. Cần minh họa
thông tin một cách hợp lí, lô gíc….để tính thuyết phục, hấp dẫn được tăng cao.
Trong giờ dạy Lịch sử, giáo viên lồng ghép thơ, văn vào bài giảng ( tùy
theo bài mà áp dụng cho phù hợp) để giảm bớt không khí nặng nề, sự khô khan
của môn học; nhưng cũng có thể sử dụng thơ văn trong các chuyên đề như:
Theo dòng lịch sử, Bàn tròn lịch sử, Trò chơi lịch sử nhằm giúp học sinh nhớ
các sự kiện, nhân vật lịch sử tốt hơn
So sánh với kết quả dạy học truyền thống trong những năm học trước đây,
với việc dạy học có sử dụng thơ văn trong giảng dạy môn Lịch sử thì việc tiếp
thu bài học của các em đạt kết quả cao hơn, không khí hứng thú trong học tập
tốt hơn, có sự hoạt động đồng bộ giữa thầy và trò.
Sau khi sử dụng thơ, văn để phục vụ bài dạy thì chất lượng của học sinh ở
khối 9 ngày càng được nâng lên. Kết quả cụ thể như sau:
Năm học Khối SL Giỏi Khá TB Yếu
2004
2. Luật Giáo Dục.
3. Tuyển tập thơ Tố Hữu - NXB Kim Đồng.
4. Thơ Hồ Chí Minh
5. Ngữ Văn 8 - NXB GD Việt Nam.
18
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: MỞ ĐẦU:
I. Sự cần thiết của đề tài 1
II. Nhiệm vụ của đề tài 2
III. Phương pháp tiến hành 2
IV. Cơ sở và thời gian tiến hành 2
PHẦN II: KẾT QUẢ:
I. Thực trạng 5
II. Giải pháp thực hiện 5
1. Sử dụng thơ để dạy học Lịch Sử 9 6
2. Sử dụng văn để dạy học Lịch sử 9 13
PHẦN III : KẾT LUẬN: 16
19