Cấu tứ tự sự của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - Pdf 27

Nguyễn huy Thiệp
Nguyễn huy Thiệp ....................................................................................................1
Cấu tứ tự sự của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ....................................................2
2 - Những con người "từng săn đuổi bao điều phù du" ............................................6
3 - Con người với tâm trạng "Sao tôi cứ như lạc loài"..............................................9
Chân dung Nguyễn Huy Thiệp................................................................................13
Đọc lại Vi Thuỳ Linh...............................................................................................17
Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học VN sau 1986....................................................21
Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp................................................................25
Hiện tượng Vi Thùy Linh........................................................................................36
Một cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết chiến tranh...................................................43
Mâu thuẫn trong ứng xử nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp ..............................51
Hình thức đa thanh mới qua truyện Nguyễn Huy Thiệp.........................................54
Lịch sử trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp
Hậu hiện đại.............................................................................................................63
NGUYỄN HUY THIỆP: NHỮNG CHUYỆN HUYỀN, KỲ, NÚI, SÔNG VÀ
NƯỚC......................................................................................................................81
Nguyễn Huy Thiệp - Hợp lưu giữa nguồn mạch dân gian và tinh thần hiện đại ...94
Nguyễn Huy Thiệp - Đưa nhân vật vào lập trường đối thoại..................................99
Nguyễn Huy Thiệp................................................................................................106
Sự thức nhận về vai trò, vị trí của nhà văn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
...............................................................................................................................112
Những dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài............................................................117
1.Vào đề.................................................................................................................117
2. Câu chuyện về một thế giới vô nghĩa, vô hồn...................................................119
3. Cuộc chia tay với những vị ngữ bất biến của nguyên tắc dụ ngôn....................128
4. Nguyên tắc đồng dao hay là thế ưu thắng của văn bản ngôn từ, sự bơ vơ của lời
và vật, chữ và nghĩa ..............................................................................................133
4.1. Nhan đề tác phẩm...........................................................................................136
4.3. Vai văn học và vai xã hội của hình tượng nhân vật. Hiện tượng nhại thể loại,

1- "Tội ác và trừng phạt"
Ngay từ những truyện ngắn đầu tiên, cây bút văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp đã thu
hút sự chú ý của người đọc. Có nhiều lý do tạo nên hiệu quả ấy, nhưng trước hết
phải kể đến khả năng phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội hết sức sắc sảo của
nhà văn. Đời sống xã hội trong khoảng hơn chục năm trở lại đây có nhiều biến
chuyển. Những người có lương tri quan tâm lo lắng nhiều hơn vì sự xuống cấp của
những chuẩn mực đạo đức. Quan hệ con người trong cộng đồng nảy sinh nhiều tội
ác. Cũng như bao nhà văn khác, Nguyễn Huy Thiệp dành nhiều sự quan tâm đối
với vấn đề này. Nhưng điều tạo nên sự độc đáo và vị trí không thể thay thế của
Nguyễn Huy Thiệp chính là khả năng nhìn nhận và lý giải hiện thực xã hội này.
Điều gì làm nảy sinh tội ác? Nguyễn Huy Thiệp cho rằng đó là bởi con người ta
tăm tối về mặt nhận thức. Một đời sống tinh thần nhạt nhẽo, một tâm hồn vô cảm
chính là lý do dẫn đến cái ác. Trong truyện ngắn Chảy đi sông ơi, khi cậu bé bị
chết đuối được chị Thắm cứu thoát - nhân vật xưng tôi - hỏi chị Thắm rằng tại sao
người ta lại có thể đang tâm bỏ mặc cậu dưới dòng nước, chị bảo cậu: "Đừng trách
họ thế (…). Có ai yêu thương họ đâu… Họ đói mà ngu muội lắm", "người ta tăm
tối lắm(…). Con người vô tâm nhiều như bụi bặm trên đường". Người ta không
cứu cậu bởi "những người đánh cá có lệ không cứu những ai chết đuối…". Ở đây
có một sự tiếp nối của Nguyễn Huy Thiệp với những tư tưởng về định kiến xã hội
của nhà văn Nam Cao, khi Nam Cao lên tiếng bênh vực những con người bình
thường (như Đức trong Nửa đêm…) phải chịu sự ghét bỏ, xa lánh của các thành
viên khác trong cộng đồng xã hội chỉ bởi những lý do hoàn toàn không có căn cứ.
Điển hình cho sự tăm tối, ngu muội về tinh thần dẫn đến tội ác tập trung trong
truyện ngắn Tội ác và trừng phạt. Tác phẩm này có dáng dấp một tiểu luận về "tội
ác và trừng phạt" hơn là một truyện ngắn. Câu chuyện về nhân vật tội nhân trong
tác phẩm này quá khủng khiếp, vượt ngoài sự tưởng tượng của người đọc. Cô gái
mười sáu tuổi phạm tội giết bố và ba đứa em. Không phải cô không có tính người
mà đó chính là một hành động bùng phát của hổ thẹn, nhục nhã ê chề. Cô sống
trong một gia đình có một người bố, một bà mẹ mù và ba đứa em ở một vùng biệt
lập trên vùng núi Tây Bắc. Một lần đi đường, người bố không kìm được thú tính đã

tâm thần. Đó hoàn toàn là một sự trừng phạt mà những con người như y đã tự
chuốc lấy.
Triết lý nhân sinh sâu sắc hơn nữa khi Nguyễn Huy Thiệp còn chỉ ra rằng chính sự
coi thường mạng sống của những sinh linh bé nhỏ trong thế giới tự nhiên xung
quanh con người cũng dẫn đến tội ác. Ở đây có một sự liên quan với vấn đề nhận
thức. Nhiều người chưa nhận thức được rằng sự sống của những con vật cũng là
một phần gắn bó hữu cơ với sự sống của con người. Có những kẻ không bao giờ
tiếc xót khi nâng nòng súng lên hủy diệt sự sống của những con thú tội nghiệp
(Con thú lớn nhất…). Qua truyện ngắn Muối của rừng có thể nhận thấy những tình
cảm nâng niu, trìu mến của nhà văn đối với thế giới tự nhiên. Hỏi ai không yêu tự
nhiên, yêu môi trường sống của mình khi đọc những dòng văn:
"Sau tết Nguyên đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc
non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng vừa tình cảm. Điều
ấy một phần là do mưa xuân.
Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không
khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống
vai trần thì thật tuyệt thú. Tất cả những trò nhố nhăng đê tiện vấp phải hàng ngày
hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da".
Chính bởi yêu thế giới tự nhiên, yêu những sinh vật đang cùng tồn tại với con
người trong cùng một môi trường sống, Nguyễn Huy Thiệp đã dành nhiều trang
viết về những tội ác con người đã vô tình gây ra đối với tự nhiên mà tập trung hơn
cả ở một số truyện nhỏ của truyện ngắn Những ngọn gió Hua Tát.
Tất cả những tội ác mà người ta gây ra đối với đồng loại, với thế giới tự nhiên đều
phải trả một giá quá đắt. Người vợ tội nghiệp bị chính viên đạn từ khẩu súng săn
của người chồng hạ sát (Con thú lớn nhất - Những ngọn gió Hua Tát). Người con
trai duy nhất của ông Nhân bị sói cắn xé cho đến chết hết sức bi thảm (Sói trả thù -
Những ngọn gió Hua Tát). Cậu bé Tâm (Giọt máu) phải chịu tội sét đánh thay cho
bố của cậu. Người ta phải gánh chịu những gì mà mình đã gây nên. Thậm chí cả
những người vô tội cũng phải gánh chịu tội ác của người thân: Vợ chịu tội của
chồng, con chịu tội của cha… Sự trừng phạt của thế giới tự nhiên, "của rừng" tỏ ra

những điều chỉ có trong cổ tích.
Nhân vật "Tôi" trong Chảy đi sông ơi mang một niềm tin mãnh liệt vào sự có thật
của "truyền thuyết huyễn hoặc về con trâu đen" trên khúc sông làng quê mình. Anh
ta tin tưởng rằng thế nào mình cũng sẽ gặp được con trâu, bởi "những người đánh
cá ban đêm quả quyết đã nhìn thấy nó". Con trâu "thường xuất hiện vào lúc nửa
đêm. Nó ở dưới đáy sông lao lên mặt nước. Toàn thân bóng nhẫy, đôi sừng vút
cao, mõm thở phì phì, con trâu phi trên mặt nước như phi trên cạn. Con trâu phì
bọt, nước dãi của nó tựa như trứng cá. Nếu ai may mắn hớp được bọt ấy sẽ có sức
lực phi thường, bơi lặn dưới nước giỏi như tôm cá". Cho dù người ta đã cho anh
biết, chuyện về con trâu đen chỉ là chuyện giả, chuyện bịa, không có thật, nhưng
anh vẫn tin. Suốt một thời thơ bé, câu chuyện về con trâu đen ám ảnh anh. Đã bao
lần anh nài nỉ những người đánh cá cho anh đi đánh cá đêm cùng với họ, bị họ hăm
dọa, chửi rủa, thậm chí có lần bị hất xuống dòng nước giữa đêm đen, may có người
cứu thoát chết. Và quả thực, như người ta đã nói với anh, anh không bao giờ nhìn
thấy con trâu ấy. Nhưng anh được gặp một người tốt, con người đã bất chấp những
điều kiêng kị cứu anh thoát chết, người đã bảo toàn mạng sống cho anh, người đàn
bà bên bến sông - chị Thắm. Chị đã cứu thoát bao người chết đuối, nhưng cuối
cùng "lại chết đuối mà không có ai cứu...".
Tiêu biểu cho kiểu cấu tứ này phải kể đến truyện ngắn Con gái thủy thần. Huyền
thoại kể rằng trong trận bão mùa hè năm 1956, ở bãi nổi trên sông Cái có một đôi
giao long quấn chặt lấy nhau vẫy vùng làm đục cả một khúc sông, sinh ra một đứa
bé. Dân trong vùng gọi đứa bé ấy là Mẹ Cả, "đồn" rằng có người đem về nuôi, "lại
đồn" các xơ trong nhà tu kín đón về đặt tên thánh cho Mẹ Cả là Gianna Đoàn Thị
Phượng.
Đối với Chương - nhân vật xưng "Tôi" trong truyện ngắn này, chuyện Mẹ Cả ám
ảnh anh "suốt một thời niên thiếu". Có người đã cho Chương biết chuyện Mẹ Cả là
chuyện họ bịa ra, nhưng anh vẫn tin rằng "con gái thủy thần" là có thật. Sức mạnh
của niềm tin, sự ám ảnh thôi thúc khiến anh dứt bỏ quê hương và những người thân
yêu để ra đi, "nhằm hướng mặt trời mọc mà đi". Trên bước đường đi tìm con gái
thủy thần anh đã phải trải qua bao cay đắng, vất vả, nhục nhã. Anh đã làm việc

người ta vẫn đào khi bốc mộ. Được hơn một mét, tôi lôi dưới ấy lên một khúc gỗ
mục chẳng hình thù gì...".
Những con người như vậy cũng thật lạc lõng giữa cuộc sống đời thường. Chương -
chàng thanh niên trong truyện Con gái thủy thần cảm thấy không chịu được cuộc
sống nhạt nhẽo vô vị:
"Mẹ tôi bảo: "Chương ơi, thế con bỏ mẹ đi à?". Tôi không trả lời, tôi vụt ra ngõ
như chạy. Tôi biết, nếu tôi dừng lại lúc này thì tôi sẽ không bao giờ đi nữa. Tôi sẽ
quay lại công việc của mười năm trước; tôi sẽ cứ thế cho đến rốt đời: sáng kéo cày,
chiều đào đá ong, tối lột giang đan mũ. Tôi sẽ kéo mòn kiếp sống của tôi như thế.
Như thể bố tôi, như ông Nhiêu, như ông Hai Thìn, như những người dân hiền lành,
lam lũ ở quê hương tôi".
Cũng bởi họ tin vào, quyết đi tìm cho được những điều phù du nên thường phải
chịu gánh chịu những kết cục thật đáng thương tâm. Chàng trai mồ côi tên Khó
trong truyện Trái tim hổ (Những ngọn gió Hua Tát) giống như bao người con trai
bản Hua Tát tin vào câu chuyện dùng trái tim con hổ dữ có thể chữa khỏi bệnh liệt
hai chân cho người con gái tên Pùa có sắc đẹp không ai bì kịp.
Bất chấp mọi hiểm nguy, những chàng thanh niên vì yêu Pùa, vì tin vào lời đồn về
phép màu của trái tim hổ vẫn vác súng vào rừng, quyết săn bằng được hổ dữ. Đã
"Hơn mười người chết vì con hổ dữ. Tiếng khóc than lẫn với tiếng gió hú dài âm
âm trong bản. Người ta nản chí dần, số người đi săn rụng nhanh như bứa chín cây,
cuối cùng chỉ còn một người. Người ấy là Khó". Chuyện trái tim hổ chữa lành
bệnh cho Pùa chẳng bao giờ trở thành sự thực. Chỉ có một sự thực xót xa: "Hơn
mười người chết trong mùa đông ấy vì con hổ dữ. Thêm hai người nữa chết dần
sau câu chuyện đó. Hai người ấy là Pùa và Khó...".
Kiểu cấu tứ kể về những con người "từng đi tìm bao điều phù du" trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp, trước hết cho thấy sự hoài vọng về một thế giới tinh thần
với những giá trị nhân văn thuần khiết. Kiểu cấu tứ ấy còn là mơ ước của nhà văn
về một xã hội tốt đẹp hơn; ở đó con người và con người sẽ chỉ có tình thương, tình
yêu, lòng bao dung; ở đó những kẻ vô tình, vô nghĩa, tăm tối và bặm trợn không
bao giờ còn tồn tại.

không có chỗ dành cho ông. Cho dù đã cố gắng, ông cảm thấy không thể hòa nhập
được với mọi người. Bao chuẩn mực đạo đức mà ông cho là cần thiết thì những
nguời xung quanh ông chỉ cho đó là những thứ không cần đếm xỉa. Ông không thể
hiểu được những chuyện như tại sao con trai ông lại tỏ ra yếu hèn trước tay trai lơ
tên Khổng thường lấy "thơ ca" ve vãn con dâu mình:
"Cha tôi bảo: "Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình". Tôi
bảo: "Không phải, cuộc đời nhiều trò đùa lắm". Cha tôi bảo: Anh cho là trò đùa
à?". Tôi bảo: "Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải nghiêm trọng".
Cha tôi bảo: "Sao tôi cứ như lạc loài".".
Chẳng phải riêng ông, ngay cả người con trai, con người vẫn hằng ngày được hòa
nhập trong cái đời thường đó cũng cảm thấy rất cô đơn. Nhưng cái cô đơn của anh
là cái tâm trạng của những người sống nhạt nhòa, đơn điệu giữa cuộc đời. Anh cơ
hồ cảm thấy một sự li tán của những người đang sống quanh anh. Mỗi người như
đang đuổi theo những cách sống, những cách hiểu, hơn thế, những cách quan niệm,
những mục đích khác nhau. Giữa họ không có một sợi dây ràng buộc nào về tinh
thần. Họ là vợ chồng, họ là cha con, là anh em, chú cháu, hàng xóm…nhưng mỗi
người chỉ là một cá nhân cô đơn, tội nghiệp. Tất cả họ đều rất đáng thương. Khi
người mẹ anh qua đời, người ta cho tiền vào miệng bà, con gái anh hỏi:
"Sao chết đi qua đò cũng phải trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà?". Cái Vi
bảo: "Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố?". Tôi khóc: "Các con không hiểu
đâu. Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín". Cái Vi bảo: "Con hiểu đấy. Đời người
cần không biết bao nhiêu là tiền. Chết cũng cần".
Những nghiệt ngã của cuộc đời đeo đẳng người ta đến cả khi đã lìa bỏ trần thế.
Đằng sau những lời nói hồn nhiên của những đứa trẻ là một sự thật sa sót của cõi
người. Anh "không hiểu" hay anh không đủ tự tin để tin vào điều mình hiểu. Cái gì
làm anh không có đủ tự tin? Phải chăng chính là sự đơn độc của lòng người. Bởi
thế anh "thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi
nữa".
Không chỉ ở Tướng về hưu mà nhiều nhân vật trong các truyện ngắn khác của
Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn cảm thấy cô đơn, bơ vơ giữa cuộc đời. Kiểu nhân vật

giữa Bường và chàng thanh niên tên Ngọc - nhân vật xưng "Tôi" trong tác phẩm
này. Bên cạnh những người như Bường, Ngọc cô đơn, cô đơn một cách tuyệt vọng.
Ngọc có cảm giác những người quanh anh, những người mà anh gặp không thể
hiểu được bao tình cảm vô cùng quý giá mà anh đang ôm ấp. Những tình cảm đang
mỗi ngày khiến anh đau đớn, nuối tiếc. Anh từng bộc lộ tâm trạng ấy với người
con gái mới quen, đó là Quy: "… Quy bảo: "Anh nói hay nhỉ? Em chẳng hiểu gì".
Tôi bảo: "Em chẳng hiểu gì đâu". Trong lòng tôi một nỗi căm giận vô cớ bỗng
dưng vụt đến, khiến tôi đắng khô miệng lại". Tất cả những gì Ngọc gặp trên bước
đường đẩy ý nghĩ của anh đến sự cô đơn khắc khoải:
"Người dưng ơi người dưng, một triệu người tôi gặp trong đời có ai là máu của
máu tôi? Là thịt của thịt tôi? Có ai sẽ sống vì tôi và chết vì tôi? Có ai không? Có ai
là hoàng đế của tôi? Cũng là thần tử của tôi? Ai là tâm phúc với tôi? Là hy vọng
của tôi? Cũng là địa ngục của tôi".
Những con người cô đơn trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp thường sống
trong một tâm thế yếu đuối, tuyệt vọng. Họ thật sự khiến tất cả người đọc phải giật
mình nghĩ về bản thân và những người xung quanh. Tiếng kêu của họ hoàn toàn
chính đáng. Cần phải quan tâm sẻ chia, đồng cảm với những người quanh ta; cần
phải giáo hóa những con người vị kỉ, thực dụng chính là tư tưởng mà Nguyễn Huy
Thiệp muốn gửi gắm tới cuộc đời.
Người cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn là người mang trong mình
những tư tưởng tiến bộ về quan hệ cộng động, về tình thương yêu. Họ không chấp
nhận cuộc sống đua chen, phồn tạp thị thành. Nhân vật thầy giáo Triệu trong thiên
truyện Những bài học nông thôn là một người thành phố, nhưng bao giờ anh cũng
nói với mọi người: "Mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ở nông thôn". "Bố mẹ anh ở
Hà Nội, bố anh là bộ trưởng, mẹ anh sinh ra trong một gia đình trí thức tiếng tăm.
Anh sống độc thân, đã ở làng này chín năm, anh chẳng bao giờ về thăm gia đình
mình ở thành phố, nghe nói bố mẹ anh đã "từ" anh,...". Anh yêu thương những
người nông thôn, đồng cảm với nỗi cực nhọc mưu sinh của họ. Người thầy giáo ấy
đã dứt bỏ thành phố để về sống với những người nông dân, mở mang tri thức, tầm
nhìn cho họ, bởi theo anh họ khổ bởi họ còn quá "nhẹ dạ nông nổi". Về với nông

Ông đã nhìn lại những biến cố lịch sử của dân tộc Việt theo góc nhìn riêng của nhà
văn là ông bây giờ với cách lý giải riêng. Ông đã vẽ lại các nhân vật lịch sử với
những chi tiết rất đời, thậm chí rất thô tục trong những truyện tạm gọi là truyện dã
sử - mà tiêu biểu là Quang Trung-Nguyễn Huệ.
Truyện của ông hấp dẫn mang màu sắc liêu trai và đầy đủ ma lực của những con
chữ, với lối hành văn rất cộc, rất thô “tôi bảo, ông bảo” nhưng khi cần thể hiện khả
năng tả cảnh tả tình, ông chấm phá thật khéo mà bao nhà phê bình đã khen đứt lưỡi
từ “thao thiết” như một sáng tạo ngôn từ độc đáo của Thiệp- mà theo tôi nó cũng
vừa phải thôi.
Nhưng ấn tượng của tôi lại nằm ở “Không có vua” (mà sau này ông viết thành
kịch) với sự mô tả hiện thực nghiệt ngã với sự hỗn loạn cùng chung sống, cùng tồn
tại trong một gia đình mà chi tiết “ai đồng ý bố chết giơ tay” làm tôi không thể
quên.
Văn Thiệp lạnh lùng và lắm khi tàn nhẫn đến ghê người, nó giải phẫu sự xấu xa
thẳm sâu trong mỗi cá nhân đến từng mi li mét. Nó làm nhiều độc giả hoảng kinh:
không lẽ trên đời có loại người như thế à! Nhưng thói đời vẫn thế, sự xấu xa độc ác
bao giờ cũng ghim dấu ấn vào lòng độc giả mãnh liệt hơn cái tốt, người tốt.
Văn là người - không hẳn là chính xác, nhưng chí ít nó cũng phản ánh một góc nào
đó của tác giả- góc nhìn nhân sinh xuất phát từ nguồn gốc dân tộc học, môi trường
sống và nền tảng- sự tích luỹ văn hóa của cá nhân.
Dạo đầu, Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trước đám đông với vẻ nhũn nhẵn, rụt rè
(cố tình) thậm chí có thể coi là hơi yếm thế, đến hội thảo Viện văn học ông chỉ nhỏ
nhẹ: tôi là giáo viên dạy sử. Truyện tôi có gì tôi đã nói hết trong đó. Các anh chị
đọc sẽ thấy, tôi không có gì để mà nói.
Nhưng về sau, khi tên tuổi ông đã quá sáng, ông lập ngôn hơi nhiều. Gây ồn ào văn
đàn bằng series bài phê bình thẳng tay đập chan chát vào mặt người ta, chẳng sợ
mất lòng ai, với sự yêu ghét rõ ràng. Ông động chạm đến những vấn đề nóng, bức
xúc của văn học VN với cái nhìn của một nhà văn giỏi muốn làm nhà phê bình khó
tính. Nhưng ông cũng lại mắc bệnh “yêu ai yêu cả đường đi” mà trường hợp quá ca
ngợi nhà thơ Đồng Đức Bốn là một ví dụ. Tuy nhiên tính cực đoan gây khó chịu

quan chức. Nguyễn Huy Thiệp bộc bạch:
Cách đây 3 năm, tôi nhận được đơn đặt hàng viết một cuốn tiểu thuyết, khai thác
sự kiện bê bối đang râm ran trên báo chí. Và tôi viết rất nhanh, chỉ trong vòng 15
ngày. Nói thật, “Tiểu Long Nữ” là tác phẩm viết ra từ một câu chuyện nhảm nhí,
nhằm mục đích kiếm tiền và mua vui thôi….Tôi biết, “Tiểu Long Nữ” có thể khiến
nhiều người thất vọng về tôi, nhưng con người ta cũng phải có mặt này mặt nọ,
không thể cứ đứng mãi trên đỉnh cao như thế được, mệt mỏi lắm. Hơn nữa, khi viết
sách thị trường, không phải ai cũng dễ dàng thành công. Trong thời buổi của
Internet, truyền hình, con người có rất ít thời gian dành cho sách vở như hiện nay,
tôi thà viết một cuốn sách khiến độc giả phải đọc một mạch từ đầu đến cuối còn
hơn là những tác phẩm nặng nề, khiến họ ê a ngày này qua tháng khác.(*)
Và rồi Nguyễn Huy Thiệp lại viết tiếp cuốn thứ ba “Gạ tình lấy điểm” mỏng dính
và cũng xuất phát từ một vụ bê bối có thật của thày giáo với nữ sinh. Sự chán nản
của nhiều độc giả vốn yêu mến ông hóa thành phẫn nộ với một số. Báo chí, truyền
thông chê bôi, phê phán ông. Nguyễn Huy Thiệp phản bác lại:
- Không nên phân biệt văn chương đích thực và văn chương không đích thực.
Không có văn chương nào là không đích thực cả. Mỗi một tác phẩm được viết ra
đều có một giá trị nào đó. Vấn đề là anh có biết làm cho nó có giá trị không thôi.
Không thể coi cốc sinh tố tại nhà hàng sang trọng là có giá trị còn củ khoai củ sắn
bán rong ngoài kia thì không. Tất nhiên, giá trị của chúng khác nhau(*).
Tuyên ngôn về nghề viết của ông: Không có lối viết mới nào hết. Nhà văn nào
cũng vậy, chỉ có một lối viết duy nhất: đơn giản, chính xác, thanh đạm (tiết chế
cảm xúc tối đa). Viết văn phải được coi là một quá trình dưỡng tâm, học đạo.
Người xưa từng coi việc đọc sách, viết sách nhằm mục đích để cầu đạo, học đạo
chứ còn ngoài phận sự đó ra (như kiếm tiền hoặc cầu danh lợi) thì rất tiếc sự ấy chỉ
tổ làm hư cho con người. "Cả một đời hư", đó là kết luận cho cuộc đời của rất, rất
nhiều người. Tôi cũng là một người hư luôn cố gắng tu tỉnh mà thôi…(*)
Cuộc sống ngày càng hình như khắc nghiệt hơn, văn học nên biết cách làm cho nó
dịu đi nên làm cho nó đẹp hơn và nhân đạo hơn một cách nghệ thuật… Ngày xưa
Lão Tử nói rằng: "Người thượng sĩ nghe đạo thì cung cúc ân cần mà làm theo,

điều nhà văn viết thì mãi những thế hệ sau người ta mới nhận ra giá trị” (*).
Lời tâm sự đó bộc lộ đầy đủ sự kiêu bạc trong ông- một nhà văn tài năng, nhiều
mâu thuẫn, làm độc giả sung sướng, thất vọng và nhớ ông!
(*) Trích dẫn của Nguyễn Huy Thiệp
Đọc lại Vi Thuỳ Linh
Trần Đăng Khoa
Chúng ta vẫn còn nhớ cái khoảnh khắc Vi Thùy Linh xuất hiện vào tháng 10 năm
2000 cùng với tập thơ “Linh” này ở Nhà xuất bản Thanh niên. Khi ấy, người khen,
khen đến hết lời. Kẻ chê cũng chê đến cạn nhẽ. Đấy là một dấu hiệu đáng mừng.
Bởi cuốn sách đã không bị quên lãng. Nó đã có đời sống và số phận của nó. Đối
với việc sáng tạo nghệ thuật, sợ nhất là sự im lặng. Một tác phẩm ra đời, như hạt
cát ném vào vũ trụ, rồi mất hút trong cõi mịt mù giá lạnh, chẳng để lại một tiếng
vọng nào.
Khi bàn về thơ Vi Thuỳ Linh, có người đã gọi chị là nhà thơ đổi mới. Tôi không
nghĩ thế. Bởi nói đến những nhà thơ đổi mới, thì chí ít, họ cũng phải có những cái
cũ để mà đổi thành mới. Nhiều thi sĩ thành danh, đã dũng cảm đập vỡ mình ra, rồi
nhào nặn lại thành một gương mặt khác, với một vẻ đẹp hoàn toàn khác. Vi Thuỳ
Linh đâu phải thế. Chị sinh ra đã có gương mặt riêng, tiếng nói riêng. Chị không có
nợ nần gì với quá khứ, cũng ít tiếp nhận những giá trị của quá khứ. Và trong tâm
khảm, tôi tin Vi Thuỳ Linh cũng chẳng có ý thức quyết làm người tiên phong đổi
mới thơ ca. Đối với chị, hình như đó là một việc rất xa lạ. Chị chỉ sống đúng như
những gì mình có. Nghĩ theo cách nghĩ của riêng mình. Rồi cất lên tiếng nói cũng
của chính mình. Tất cả đều hồn nhiên và giản dị.
Nói đến tập thơ "Linh", cũng không ít người cho rằng, thơ chị luôn bị ám ảnh bởi
yếu tố sex. Và để minh chứng cho luận điểm của mình, người ta cũng thường chỉ
dẫn ra câu thơ: “Khoả thân trong chăn – Thèm chồng...”. Những điều Vi Thuỳ
Linh khao khát lại hoàn toàn không phải chuyện nhục dục:
Mình ôm lấy Anh ôm mình
Biết sự bình yên của mặt đất...
Và như thế, cái mà Vi Thuỳ Linh muốn vươn đến, luôn khát khao, đâu phải chuyện

Nóng dần lên, nước biển
Thức dậy những núi lửa
Những cánh rừng trơ cuống họng
Những người đàn bà teo tóp ôm con, không bật nổi tiếng khóc
...Nhiều vàng và kim cương, vẫn đói nghèo
...Tôi căm ghét ngày 15 tháng 7 năm 1996, cả loài người kinh ngạc
khi cừu Dolly ra đời
Gã Wilmut người Scotland chẳng có gì phải tự hào vì công trình của mình đến thế
Không ai ngăn cản ý đồ sinh sản vô tính là thành tựu của tiến hoá
Hàng triệu người điên lên theo mãnh lực phần mềm Microsoft
Những tâm hồn đang được mã hoá với nhịp điệu sống lập trình
Ngày đêm, nơron thần kinh căng cứng cập nhật dữ liệu
Con người không ngây thơ, không nhiều ước mơ và mất dần lãng mạn
Màu dollar sắp nhuộm cả da trời...
Thơ Vi Thuỳ Linh là thế. Ngổn ngang và rậm rạp trong những nghĩ suy trăn trở của
ngày hôm nay. Tôi cũng đã từng nói ở đâu đó rằng, một người khi ngồi vào bàn
trang điểm thì dù ít, dù nhiều cũng đã tự thú nhận về sự khiếm khuyết của nhan sắc
mình. Vi Thuỳ Linh không cần phải trang điểm. Cũng như nhiều thi sĩ hiện đại, chị
vứt hết mọi son phấn loè loẹt của từng con chữ. Chị bỏ vần điệu, thậm chí bỏ kể cả
nhạc điệu, là cái tối thiểu cần phải có trong thơ. Nghĩa là chị tước hết mọi “trang
bị”, đến nỗi dường như không còn gì để nương tựa, bấu víu. Phải nói Vi Thuỳ Linh
là người dũng cảm và tự tin. Thơ chị có nội lực. Chị vịn vào nội lực ấy mà đứng
dậy trên hai chân của mình và sáng bằng nước mắt. Đọc chị, ta luôn có cảm giác
rợn ngợp như đang đứng trước một ngọn núi lửa vừa mới tuôn trào với một sức
mạnh không thể ngăn cản nổi. Lẫn trong ngổn ngang đất đá, nham thạch là không
ít những thỏi quặng quý. Có thể gọi Vi Thuỳ Linh là thi sĩ của tình yêu. Ai cũng có
thể yêu. Nhưng yêu được đến như Linh, có lẽ cũng chẳng có đến mấy người:
Hình như tôi cũng đã lớn lên cùng tình yêu dành cho Anh,
từ khi bắt đầu là bào thai con gái trong bụng mẹ
Tôi nghĩ thế, bằng giác quan thứ bảy

Mẹ chờ con, hiện thân của tình yêu mẹ với người đàn ông duy nhất ngự trị trái tim
và tâm hồn mẹ
Con, con ơi...
Không biết bao lần mẹ đặt tay lên bụng, gọi con
Mẹ khao khát mang con, mặt trời đang phôi thai trong mẹ
Mẹ muốn có thật nhiều mặt trời
Con ơi! con ơi!
Con đang bay ở đâu? Con đang bay ở đâu?
Hãy theo tình yêu của cha, đậu vào lòng mẹ...
Nhà thơ Xuân Diệu có lần nói rằng: “Một bài thơ sống được đến 50 năm, đã có thể
xem là vĩnh cửu, bởi nó có khả năng thoát được nạn ô xi hoá của thời gian”. Tất
nhiên, đó là cách tính của Xuân Diệu ở thời đại của ông. Bây giờ, những giá trị giả
tàn lụi nhanh lắm. Một bài thơ “sống” được 5 năm, đã có thể xem là điều đáng
mừng, bởi nó đã có dấu hiệu trụ được với thời gian. Tập thơ của Vi Thuỳ Linh ra
đời cách đây đã bảy năm, bây giờ đọc lại, ta vẫn không thấy cũ. Nhà văn Nguyễn
Huy Thiệp rất có lý khi anh xếp Vi Thuỳ Linh là cây bút tiêu biểu nhất, đáng kể
nhất trên thi đàn thơ trẻ hiện nay.
Tôi cũng rất yêu cái cảnh sắc thần tiên rất đỗi thanh tao này:
Tên Anh thành tượng thanh của tín niệm
Trong cơn mơ chập chờn, em thấy Anh vừa tắm nước sông Hằng tinh khiết, đến
nâng em đi về phía dòng sông ngọc bích hắt sáng đến chân trời nơi đầy hoa Thuỳ
Linh nở
Ở bên Anh, cả khi Anh không còn đủ sức nâng em trên cánh tay mình, em sẽ Anh
để mái tóc em chảy lấp lánh nếp nhăn trên khuôn mặt Anh, phủ kín tóc bạc của
Anh trong sự run rảy vỗ về của ngón tay mềm ấm
Anh lại ru em những lời linh thiêng...
Hà Nội 1-1-2007
T.Đ.K
Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học VN sau 1986
Phùng Gia Thế

lâm từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước hẳn không giản đơn là chuyện nói
ngược. Nó phải có lý do để tồn tại. Lý do để tồn tại của nó ở phương Tây, là hiển
nhiên, cũng không bàn. Băn khoăn của người nghiên cứu ở ta tôi cho không phải
chỗ đó, mà ở chỗ cái gọi là “chủ nghĩa hậu hiện đại” ấy, có ảnh hưởng gì đến ta
không, cụ thể hơn, đến văn chương của ta không? Văn học Việt Nam tiếp thu gì ở
trào lưu văn nghệ tiên phong này, hay dị ứng và chối bỏ nó? Ở phương Tây, trên
tinh thần chống lại sự áp đặt của cái chính thống, đòi quyền sống cho các phát
ngôn nhỏ, chấp nhận nhiều cách nhìn, thậm chí bất đồng, “ngộ luận”, việc biến
“hậu hiện đại” thành một thứ “chủ nghĩa” xem ra thật khó khăn. Tuy thế, trong
nghiên cứu khoa học, tránh sao được việc quy phạm hoá. Vậy nên, thay vì thuật
ngữ “hậu hiện đại”, người ta vẫn gọi nó là “chủ nghĩa hậu hiện đại”. Tôi cho rằng,
nếu không có một triết học hậu hiện đại với tư cách một trường phái (hiểu theo
nghĩa cổ điển) thì vẫn có, cái gọi là văn hoá hậu hiện đại. Nghĩa là, vẫn có thái độ,
tâm thức, hay là cảm quan hậu hiện đại. Hiển nhiên ai cũng biết, ở Việt Nam,
không thể có một chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương theo ý nghĩa đầy đủ của
thuật ngữ này. Tuy thế, vẫn có cơ sở để khẳng định: có những dấu ấn, dấu hiệu của
nó. Tất nhiên, tôi không ngây thơ cho rằng đương đại là hậu hiện đại, mà chỉ muốn
nói, trong cái đương đại, hàm chứa những mầm mống, dấu hiệu của thi pháp hậu
hiện đại. Lý do thật không khó hiểu. Thứ nhất, sự đổi thay trong mô hình xã hội,
đời sống văn hoá - lịch sử quy định những kiểu cảm nhận đặc thù của con người về
đời sống. Thứ hai, những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp của văn hoá, văn học nước
ngoài, đặc biệt là ở thời đại Internet. Thứ ba, sự trương nở của nhiều yếu tố nghệ
thuật truyền thống, của các thể loại truyền thống - những thứ xưa kia chưa được
khai thác triệt để hoặc bị xem nhẹ, nay lại trở thành diện mạo chính, thành yếu tính
của văn chương. Vậy, dấu hiệu nào được coi là “hậu hiện đại” trong văn chương ở
ta?
Theo tôi, cái “hậu hiện đại” nổi bật nhất trong đây chính là “cảm quan hậu hiện
đại”. Thời đại lịch sử - xã hội cụ thể hiển nhiên sẽ làm nảy sinh trong nó những
kiểu tâm trạng xã hội tương ứng. Vậy, cái gì là “cảm quan hậu hiện đại”? Có thể
nói vắn tắt, đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần

hình thức thế giới quan như một dấu hiệu quan trọng của tư duy hậu hiện đại. Đó là
những chuyển động trong mô hình truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như một
nguyên tắc cấu trúc để thể hiện câu chuyện tâm thức thời đại: sự đa dạng và dịch
chuyển liên tục của các điểm nhìn nghệ thuật; không có nhân vật trung tâm, lý
tưởng; sự vặn gẫy vai nhân vật và vai tính cách trong hình tượng; vô số các hình
tượng nhại; nhiều kết thúc; có thể “tháo dỡ” được; sự chuyển dịch, pha trộn làm
đứt gẫy những giới hạn thể loại truyền thống; một cuộc "chơi" thể loại, kiểu truyện
ngắn - tư liệu, truyện ngắn - nhật ký, truyện ngắn - dòng chảy ý thức, truyện ngắn -
chân dung. Tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn luôn có nhiều tuyến chạy ngược
- xuôi theo lối kết cấu song hành xoắn vặn, dung chứa ngồn ngộn những hỗn tạp,
khốc liệt, đau đớn của cuộc đời, nhiều khi nó bơ vơ chẳng gặp nhau như kiếp
người chẳng thể gặp nhau; nhiều tuyến truyện, nhiều nhân vật bị cố ý bỏ quên; rồi
lối kể nhảy cóc; sự sáng tạo các điểm nhìn dị biệt; sự dung hợp nhiều thủ pháp hội
hoạ, âm nhạc và điện ảnh; sự làm nhoà cái tinh tuyển và cái bình dân trong ngôn
ngữ tiểu thuyết bởi những thanh âm trong trẻo và cả những tạp âm; sự “vênh lệch”,
phi lý trong đối thoại; hiện tượng “dìm” nhân vật trong bể ngôn từ, như nhân vật bị
chìm lỉm đi, vô tăm tích giữa cuộc đời. Đọc Nguyễn Việt Hà, thấy tác giả hầu như
rất hạn chế việc phân tích nhân vật bằng tài hiểu tâm lý của mình. Điểm nhìn và
ngôi kể liên tục được dịch chuyển, thay đổi.
Các nhân vật chính ở đây dường như đều có khả năng thế chỗ nhà văn trong việc
kể chuyện. Mỗi cá nhân như một “nguyên tử” được đặt ở vô số các giao điểm. Nó
tự kể chuyện mình, kể về cái nhìn của mình với người khác. Hiện thực là những
diện mạo khác nhau tuỳ vào cách người ta suy cảm về nó. Một sự kiện lại có thể
được nhìn từ nhiều phía, với những thời điểm trần thuật không trùng nhau. Rồi lối
truyện của nhiều chuyện, văn bản của nhiều văn bản, tính phân mảnh của chủ thể,
trần thuật phi trung tâm, cố ý lộ rõ sự can thiệp của tác giả vào câu chuyện, biến
tiểu thuyết thành một trò chơi ngôn từ, một sự thăm dò, thử nghiệm của nghệ
thuật... Rồi chất hài hước, nghịch dị và nhại được sử dụng như một nguyên tắc tổ
chức tác phẩm. Nó không chỉ là thủ pháp, mà trở thành hình thức của cái nhìn.
Chống lại sự đơn điệu, nhại trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà, cái hài, cái nghịch

triển văn chương theo hướng hoà nhập với tiến trình văn học thế giới, bên cạnh các
khuynh hướng tìm tòi thử nghiệm khác của nền văn học Việt Nam sau 1986 nhiều
màu vẻ?
Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp
1.
Mỗi lần đọc Nguyễn Huy Thiệp tôi lại nhớ đến câu văn khép lại Gone with the
wind của M.Margaret: Ngày mai là một ngày khác. Cách đây hơn hai nghìn năm
Heraclic cũng nhấn mạnh sự thay đổi trong nhận thức của chủ thể qua một triết lý:
Không ai tắm hai lần trên một dòng sông. Cũng phải, văn chương Nguyễn Huy
Thiệp có khả năng gây ngạc nhiên. Ngạc nhiên này kéo theo ngạc nhiên khác. Mỗi
lần đọc lại Nguyễn Huy Thiệp là một lần ta thấy cái khối vuông ru bích ấy chuyển
động. Gắn với sự chuyển động của nó là những độ mở mới, màu sắc mới và những
trữ lượng ngữ nghĩa nghệ thuật mới được khai lộ. Nhưng dường như phía sau "tảng
băng trôi" ấy vẫn còn nhiều bí mật mà không dễ gì nhận biết một cách rạch ròi.
Hành trình "Ði tìm Nguyễn Huy Thiệp", vì thế, vẫn còn tiếp tục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status