BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
VƯƠNG THỊ THANH HIỀN Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐOÀN TRỌNG THIỀU
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Là một bộ phận không thể tách rời
của văn hóa, văn học là một hình thái đặc biệt, thuộc về văn hóa tinh thần. Vì vậy, việc vận
dụng các quan điểm và thành tựu của văn hóa để nghiên cứu, lí giải văn học là một hướng tiếp
cận được vận dụng khá phổ biến hiện nay.
Nguyễn Huy Thiệp là một trong những tác giả xuất sắc, tiêu biểu của cao trào đổi mới văn
học Việt Nam từ sau năm 1986. Ông viết ở nhiều lĩnh vực như kịch, tiểu thuyết, phê bình văn
học, tiểu luận,... nhưng nhắc đến Nguyễn Huy Thiệp, trước hết phải với tư cách là một cây bút
viết truyện ngắn rất thành công. Ngay từ khi vừa xuất hiện trên văn đàn, Nguyễn Huy Thiệp đã
trở thành một “hiện tượng” văn học, có khả năng khuấy động đời sống văn học vốn đang khá
yên ắng ở nước ta sau năm 1975. Không những thế, văn của Nguyễn Huy Thiệp như có “ma
lực” thu hút rất nhiều độc giả với những ý kiến đánh giá, phê bình rất khác nhau, có ý kiến ca
ngợi nức lời nhưng cũng có không ít ý kiến bài bác thẳng thừng. Tuy nhiên, sau hơn hai mươi
năm kể từ ngày ra mắt độc giả, Nguyễn Huy Thiệp đã dần khẳng định được vị trí của mình trên
văn đàn. Những ý kiến đánh giá về truyện ngắn của ông đã phần nào ổn định. Quả thật, Nguyễn
Huy Thiệp đang có một vị trí vinh dự trong dòng chảy cuồn cuộn không ngừng của biển cả văn
học Việt Nam.
Đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp. Trong quá trình thu thập và tìm hiểu một số tài liệu ấy, chúng tôi nhận thấy đa phần các
ý kiến tập trung đánh giá, khẳng định những đóng góp mới mẻ của ông trên phương diện nội
dung tư tưởng và hình thức biểu hiện trong tác phẩm. Tuy nhiên theo chúng tôi, một trong
những đặc điểm tạo nên sức hấp dẫn thẩm mĩ cho văn Nguyễn Huy Thiệp chính là yếu tố văn
hóa dân gian trong truyện ngắn của ông. Qua tìm hiểu bước đầu, chúng tôi thấy đặc điểm này
cũng đã có những bài viết đề cập đến song mới chỉ trong những hiện tượng đơn lẻ, chưa thành
một hệ thống trọn vẹn.
Đó cũng là lí do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài: Ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này.
2. Lịch sử vấn đề
Đầu năm 1987, tập truyện ngắn đầu tay Những truyện kể bất tận của thung lũng Hua
Tát của Nguyễn Huy Thiệp được khởi đăng trên báo Văn nghệ, nhưng chưa tạo được tiếng
vang. Phải đến tháng 6 năm ấy, với sự xuất hiện của truyện ngắn Tướng về hưu, dư luận mới
tr.59-60]. Tuy nhiên trong bài viết này, Philimonova chỉ mới tập trung nghiên cứu sự ảnh
hưởng của truyền thuyết trong chùm truyện Những ngọn gió Hua Tát. Tác giả cho rằng những
câu chuyện nhỏ trong Những ngọn gió Hua Tát là những “truyền thuyết văn học; một mặt,
chúng lưu giữ được những đặc điểm thể loại của các truyền thuyết dân gian, mặt khác, chúng
có sự xử lí văn học rõ ràng của tác giả” [59, tr.61].
Trong bài viết Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Nguyễn Đăng
Điệp nhận xét: Nguyễn Huy Thiệp đã “vận dụng rất khéo các yếu tố folklore vào văn học”. Tác
giả bài viết nhận thấy rằng để phản ánh chiều sâu của hiện thực, Nguyễn Huy Thiệp “luôn luôn
lật ngược vấn đề, thoát ra ngoài những chuẩn mực thông thường và xác định giá trị nhân thế
bằng những tưởng tượng phong phú ken dày các huyền thoại, các biểu tượng, các yếu tố dân
gian” [20].
Cùng với các ý kiến trên, Văn Tâm cũng đưa ra nhận định rằng một trong những nét
phong cách đặc thù nhất của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là cảm hứng huyền thoại mạnh:
“sương mù huyền thoại bao phủ hầu hết những trang sách Nguyễn Huy Thiệp, không những
bao phủ dày đặc trong hai loại truyện huyền thoại (Con gái thủy thần) và cổ tích (Những
ngọn gió Hua Tát) mà còn bập bềnh mờ mịt giữa khá nhiều dòng truyện lịch sử (Kiếm sắc,
Phẩm tiết) và thế sự (Chảy đi sông ơi)” [59, tr.288].
Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào cũng khẳng định cảm hứng huyền thoại thể hiện rõ trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là khi nhà văn này xây dựng các nhân vật ngốc
nghếch, mồ côi,…rất gần với nhân vật trong cổ tích và “đó là điểm gần gụi của truyện Nguyễn
Huy Thiệp với cổ tích và một số truyện phổ cập ở dân gian” [59, tr.389]. Cảm hứng ấy một
phần “nằm trong dòng chảy ngầm của tinh thần phạm thượng bắt nguồn từ dân gian. Những kẻ
dị dạng này nhiều khi làm nên điểm sáng nhân hậu, trí tuệ anh minh của câu chuyện” [59,
tr.391]. Song bên cạnh đó, tác giả bài viết Biển không có thủy thần lại thừa nhận ở các nhân
vật kể trên luôn ẩn chứa một “nghịch lí phản cổ tích” [59, tr.390], đó là điểm sáng tạo mới mẻ
trong nhiều thiên truyện của Nguyễn Huy Thiệp.
Cùng với quan điểm của Đặng Anh Đào, trong bài viết Ảnh hưởng thần thoại và cổ tích
trong cách xây dựng nhân vật văn xuôi hôm nay, Bùi Thanh Truyền nêu vấn đề: “Xây dựng
nhân vật thần thoại, cổ tích, hầu hết các cây bút văn xuôi hôm nay đều lồng vào đó thế giới
quan mới mẻ, cái nhìn ‘lạ hóa” của người hiện đai. Vì thế có thể xem đây là những truyện cổ
Nguyễn Huy Thiệp viết nhiều về cái xấu xa, cái ác nhưng “cảm hứng tích cực, tinh thần nhân
bản… cũng bất giác được mã hóa qua một hiện tượng nổi bật: tuyệt đại đa số những nhân vật
nữ đều có phẩm chất ưu mĩ tuyệt vời” [59, tr.301–302). Qủa thực, trong truyện của Nguyễn
Huy Thiệp, nhà văn luôn dành giọng điệu ngợi ca vẻ đẹp nữ tính của những nhân vật nữ.
Những nhận xét, đánh giá trên phần nào đã cho ta thấy các nhà nghiên cứu có những phát
hiện, khẳng định yếu tố trọng âm, trọng nữ trong tín ngưỡng của người Việt trong nghệ thuật
xây dựng nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Tuy nhiên, các đánh giá này chỉ
nêu vấn đề có tính chất gợi mở chứ chưa minh định cụ thể trên cả bề rộng lẫn bề sâu.
Bàn về chất thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp, trong bài viết có nhan đề Thơ trong văn
Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên cứu Philimonova cho rằng một trong những đặc điểm nổi bật
của văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp là việc thường xuyên sử dụng thơ. Đặc biệt hơn hết là trong
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thường xuất hiện các đoạn kể bằng văn vần là các bài ca
dao, đồng dao xen kẽ lời kể bằng văn xuôi. Philimonova lí giải sở dĩ có hiện tượng này là do
Nguyễn Huy Thiệp “chịu ảnh hưởng văn xuôi cổ điển vùng Viễn Đông” và việc vận dụng thủ
pháp cũ này khiến văn ông trở nên “rất đặc biệt, rất dễ nhận ra” [59, tr.168]. Nguyễn Vy
Khanh cũng có cùng ý kiến trên khi cho rằng: “Nhờ thể huyền thoại, Nguyễn Huy Thiệp có
những đoạn truyện như là thơ, một thứ thơ dân gian, xa chốn văn minh giả tạo và dối trá” [59,
tr. 380].
Bùi Việt Thắng nhận xét: “Nguyễn Huy Thiệp đã đưa vào truyện ngắn các hình thức
khác như đồng dao (Huyền thoại phố phường), hát dỗ em (Những người thợ xẻ), thơ dịch
(Nguyễn Thị Lộ), thơ trữ tình (Những bài học nông thôn), chuyện thơ (Thương nhớ đồng quê)”.
Từ đó, nhà nghiên cứu cho rằng: “việc đưa thơ vào truyện ngắn làm cho “sự kể chuyện” thêm
linh hoạt, phong phú” [75, tr.386] này vốn đã có truyền thống trong văn học. Thành công của
nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là sự vận dụng, kế thừa văn học truyền thống, từ đó có những cách
tân, sáng tạo nhưng vẫn không xa rời với truyền thống.
Về nét mới trong cách dựng truyện, nhà thơ Diệp Minh Tuyền đánh giá: Nguyễn Huy
Thiệp đã “kết hợp giữa hiện thực và huyền thoại” […]. Rõ ràng ở đây ta thấy dấu ấn của văn
học hiện đại châu Mỹ la – tinh. Nhưng sự tiếp thu này ở Nguyễn Huy Thiệp không sống sượng
bởi nhờ trước đó anh đã vốn có lối tư duy huyền thoại thuần thục biểu hiện trong chùm truyện
Những ngọn gió Hua Tát”, [59, tr.399]. Chính sự kết hợp này đã khiến cho văn ông vừa mới
trong những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Tác giả La Khắc Hòa khẳng định rằng
có thể tìm thấy trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp những câu chuyện thể hiện tâm trạng và
cảm quan hậu hiện đại. Xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là “câu chuyện về
một thế giới vô nghĩa, vô hồn”. Đọc truyện ngắn của ông, ta thấy “có những dấu hiệu về một
cuộc chia tay với nguyên tắc dụ ngôn cùng với những vị ngữ bất biến, quen thuộc của nó […].
Khi sự hồ nghi tồn tại đã thấm sâu vào cảm quan nghệ thuật, chắc chắn nhà văn sẽ tìm đến
nguyên tắc lạ hoá làm nền tảng cấu trúc hình tượng”. Tuy nhiên, dù đổi mới sáng tạo đến đâu
đi nữa thì “loại hình tư duy ấy gắn với những nguyên tắc kiến tạo hình tượng, tổ chức văn bản
của đồng dao, câu đố có nguồn cội từ thời tiền văn học, trong sáng tác dân gian” [29]. Thêm
vào đó, La Khắc Hòa còn nhận xét rất xác đáng rằng sự xuất hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam nói chung, trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng “chắc chắn
không phải là hiện tượng vay mượn, ngoại nhập”, mà do những điều kiện lịch sử, xã hội trong
vòng 30 năm nay đã làm nảy sinh tâm trạng, cảm quan và loại hình văn hoá hậu hiện đại trong
văn học Việt Nam.
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, mặc dù là nhà văn luôn có những cách tân táo bạo
trong nghệ thuật xây dựng truyện ngắn trong giai đoạn văn học thời Đổi mới, nhưng sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp vẫn bắt nguồn từ truyền thống văn hóa - văn học dân gian đa dạng và
phong phú của dân tộc.
Tóm lại, từ trước đến nay, vấn đề về: Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và yếu tố văn hóa
dân gian trong truyện ngắn của nhà văn vẫn luôn là vấn đề lý thú, không ngừng thu hút được
sự quan tâm, tìm hiểu của đông đảo học giả, các nhà nghiên cứu, các giới phê bình văn học, độc
giả trong và ngoài nước.
Các bài nghiên cứu, phê bình mà chúng tôi có điều kiện tìm hiểu ở trên
phần nào đã phân tích, đánh giá, khẳng định sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong truyện
ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và có tính chất gợi mở cho người viết tìm hiểu sâu hơn về
vấn đề này. Tuy nhiên, do tính chất về đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu khác nhau
nên sự quan tâm ở những bài viết trên mới chỉ dừng lại ở đôi lời nhận xét, nhận định khái quát;
hoặc thu hẹp khi khảo sát trong một vài tác phẩm cụ thể hoặc khái quát khi tiến hành khảo sát
trên toàn bộ sáng tác của nhà văn dưới góc nhìn phong cách học. Vì thế như một lẽ tất yếu, các
Người viết sử dụng phương pháp này khi nghiên cứu luận văn nhằm vận dụng các quan
điểm và thành tựu văn hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian để tìm hiểu, lí giải truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp trên một số phương diện như cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ và giọng
điệu.
5.2. Phương pháp hệ thống:
Người viết sử dụng phương pháp này nhằm xem xét các yếu tố văn hóa dân gian biểu
hiện qua nội dung và nghệ thuật làm nên diện mạo chung cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
trên tinh thần hệ thống. Từ đó phân tích sự kế thừa, sáng tạo các yếu tố ấy tạo nên sức hấp dẫn
thẩm mĩ trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
5.3. Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản, từ
đó phân tích để đưa ra những luận điểm tổng hợp, khái quát của luận văn về sự ảnh hưởng của
văn hóa dân gian trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trên các phương diện như cốt
truyện, nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu.Những phương pháp nghiên cứu này sẽ được người viết vận dụng một cách linh hoạt
trong quá trình nghiên cứu.
Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện, khách quan khi đánh giá vấn đề,
người viết còn sử dụng phối hợp các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, đối chiếu,
phương pháp thống kê,…với chừng mực nhất định mà mục đích cuối cùng là làm rõ sự ảnh
hưởng của văn hóa dân gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
6. Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 138 trang. Ngoài phần Mở đầu (12 trang), phần Kết luận (4 trang),
phần Nội dung của luận văn (122 trang) được tổ chức thành ba chương:
Chương 1: Những tiền đề lí luận và thực tiễn
Chương 2: Cốt truyện và nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Tuliut (106-43 TCN) đã định nghĩa “Triết học là sự gieo trồng tinh thần”. Vậy theo người La
Mã, cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và
giáo dục, đào tạo một cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, có phẩm chất
tốt đẹp.
Ở Việt Nam, từ văn hóa được hiểu: văn là tốt đẹp, hóa là biến cải. Văn hóa là biến cải để
trở thành tốt đẹp. Văn hóa thường được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống;
theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn; còn theo nghĩa rộng thì văn
hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập
quán,…
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã hội loài
người nhưng phải đến những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, việc nghiên cứu về văn hóa
mới được tiến hành một cách nghiêm túc và nhanh chóng thu hút sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu. Từ năm 1952, hai nhà văn hóa học Hoa Kì là A. Kroeber và C. Kluckholn đã thống
kê được 150 định nghĩa, khái niệm khác nhau về văn hóa. Con số đó hiện nay đã tăng lên
khoảng trên 300 định nghĩa [105, tr.11]. Qua đó, ta thấy quan niệm thế nào là văn hóa không
phải là một vấn đề đơn giản và có thể giải quyết một cách rốt ráo.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa, do đó có nhiều định nghĩa khác
nhau về văn hóa. Liên quan đến phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ có điều kiện
nêu ra một số định nghĩa sau:
- Nhà nhân học văn hóa người Anh E. B. Taylor (1832-1917) là người đầu tiên đưa ra
một quan niệm khá hoàn chỉnh về văn hóa. Trong công trình Primitive culture (Văn hóa
nguyên thủy), ông viết: văn hóa là “một tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục, và tất cả những khả năng và thói quen mà con người
đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội” [9, tr.251].
- Trần Quốc Vượng quan niệm: “Văn hóa…là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người
[…] để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối
với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với hệ thống
những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách
diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [107, tr.35-36]
- Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
* Văn hóa mỗi cộng đồng người có những đặc tính riêng hình thành trong lịch sử, phân
biệt cộng đồng người này với cộng đồng người khác” [9, tr.252].
Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ giới hạn vấn đề ở phạm vi những giá
trị văn hóa tinh thần, biểu hiện cụ thể trong bộ phận văn hóa dân gian với những thành tố đặc
trưng.
1.1.2. Khái niệm văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian là cội nguồn của mọi nền văn hóa trên thế giới. Ở Việt Nam, văn hóa
dân gian là cơ sở rất quan trọng của văn hóa dân tộc, chi phối đời sống trên mọi phương diện.
Do vậy không thể hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, tri thức và tình cảm con người Việt Nam nếu
như không hiểu văn hóa dân gian.
Thuật ngữ dân gian hiểu theo nghĩa chiết tự Hán Việt: gian nghĩa là khoảng, khu vực
rộng lớn, vùng; dân gian là trong khu vực, trong vùng của dân. Vậy, văn hóa dân gian là sáng
tạo của dân, từ dân mà ra và phục vụ cho cuộc sống của dân. Văn hóa dân gian được thể hiện ở
mọi lĩnh vực, mọi không gian, mọi thời điểm.
Để chỉ hiện tượng mà tiếng Việt gọi là văn hóa dân gian thì hiện nay trên thế giới và cả
Việt Nam, thuật ngữ folklore (gốc tiếng Anh : folk là nhân dân, lore là trí tuệ, tri thức) được sử
dụng rất phổ biến. Thuật ngữ này do William J.Thoms nêu ra trong tạp chí The Athemneum,
London năm 1846. Dần dần được các nhà văn hóa chấp nhận và sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.
Ở nhiều nước phương Tây, khái niệm folklore được hiểu rất rộng. Từ điển bách khoa của
Anh xác định: “Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng, truyền thống,
thiên kiến, đạo lí, nghi lễ, mê tín của dân gian. Những câu truyện cổ, những bản tình ca, dân ca
và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này…, nó bao gồm cả những yếu tố văn hóa vật
chất mà ban đầu nó không tính đến” [88, tr.20].
Ở Liên Xô, nội dung của folklore được hiểu theo hai xu hướng. Xu hướng thứ nhất hiểu
folklore với nội dung rộng theo cách hiểu của đa số học giả phương Tây, xu hướng còn lại có
xu hướng “ngữ văn hóa folklore” khi cho rằng về cơ bản folklore là “nghệ thuật ngôn từ”, là
sáng tác thơ ca truyền miệng của đông đảo quần chúng. Theo họ, có thể đồng nhất folklore với
văn học truyền miệng. Tiêu biểu là những ý kiến của các nhà folklore sau:
- Xocolov Iu.M.: “Folklore trước hết là sáng tác nghệ thuật thi ca truyền miệng của
quần chúng”, hay “Folklore – phần lớn là thơ ca truyền miệng” [88, tr.85]
Như vậy, các ý kiến này mặc dù có nới rộng hơn về đối tượng khi cho rằng văn hóa dân
gian bao gồm cả “hiện tượng”, “vật phẩm” nhưng vẫn bó hẹp ở cách tiếp cận dưới góc độ thẩm
mĩ.
Mở rộng cách hiểu về văn hóa dân gian hơn, Phạm Huy Thông cho rằng: “không phải
chỉ làn ca, những điệu múa, mà cả những lễ nghi tôn giáo, những hội hè truyền thống cũng là
những biểu hiện của văn hóa dân gian” [88, tr.119]. Đồng tình với quan niệm trên, Trần Quốc
Vượng phát biểu: folklore Việt Nam là “tổng thể mọi sáng tạo, mọi thành tựu văn hóa dân gian
ở mọi nơi, trong mọi thời và mọi thành phần dân tộc đang hiện tồn trên lãnh thổ Việt Nam”.
Ông cũng có xu hướng mở rộng thành tố của văn hóa dân gian khi cho rằng: “Sáng tạo dân
gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến
đời sống vui chơi buông xả (thể thao dân gian, võ vật, đánh cầu, đánh phết), hát hò (hát đò
đưa, hát giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo) đến đời sống tâm linh (giỗ, lễ tế, hội)” [88, tr.124].
Còn Chu Xuân Diên thì cho rằng để có thể đánh giá đầy đủ giá trị, đặc trưng của văn hóa
dân gian, chúng ta cần xác định, phân loại những thành tố cơ bản nhất của nó. Cụ thể, folklore
bao gồm những thành tố là những sáng tạo nghệ thuật có ý thức (các tác phẩm văn học dân
gian), âm nhạc và múa dân gian, hội họa dân gian,.v.v…cả những thành tố là những sản phẩm
vừa mang tính ích dụng vừa mang tính thẩm mĩ (kiếm trúc, đồ thủ công mĩ nghệ,…), và cả
những thành tố là những giá trị văn hóa không bao hàm ý nghĩa thẩm mĩ hiểu theo nghĩa đích
thực của nó (văn hóa ẩm thực, những tri thức về môi trường tự nhiên,…) [9, tr.231].
Như vậy, văn hóa dân gian theo phần đông các nhà nghiên cứu hiện nay bao gồm rất
nhiều thành tố đặc trưng, biểu hiện trong nhiều lĩnh vực và là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học liên ngành, trong đó đặc biệt là ngành thi pháp folklore. Chúng tôi tán thành
cách hiểu mở rộng của các nhà nghiên cứu này. Trong các thành tố cơ bản của văn hóa dân gian
đã nêu ở trên, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu: ảnh hưởng của các thành tố như văn học dân
gian, tín ngưỡng dân gian, ngôn ngữ dân gian đối với truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Cách
thức trình bày của luận văn là sẽ vận dụng một số tri thức lí luận của các thành tố văn hóa dân
gian này vào phân tích, nhận định, đánh giá truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với văn học viết
Trước khi đi vào tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết, chúng tôi
xin trình bày vài nét cơ bản về mối quan hệ có tính chất khái quát hơn, đó là mối quan hệ giữa
xã hội đương thời với nó) mà không tiếp tục quá khứ và không gắn bó với quá khứ một cách
đáng kể, nó không thể tiếp tục sống trong tương lai” [2, tr.141]. “Quá khứ” trong cách nói của
Bakhtin có thể hiểu một phần là nền văn hóa dân gian. Quả thực, từ lâu các nhà văn đã tự giác
hoặc không tự giác, trực tiếp hoặc gián tiếp tiếp thu, ảnh hưởng, lí giải vấn đề này hoặc vấn đề
khác của văn hóa dân gian, đặc biệt là văn học dân gian.
Thật vậy, từ bao đời nay văn hóa dân gian đã ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực của cuộc
sống, đặc biệt là đối với văn học. Hòa mình với quy luật bất biến ấy của nhân loại, trong tiến
trình phát triển của văn học Việt Nam, quan hệ tác động, ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa dân
gian và văn học viết diễn ra hết sức độc đáo. Đó là mối quan hệ sáng tạo, có tính quy luật và
cũng là cơ sở lí luận cốt yếu cho sự cắt nghĩa một số quá trình, hiện tượng văn học cụ thể.
Văn học Việt Nam luôn tồn tại một bộ phận văn học chịu ảnh hưởng đậm nét từ nền văn
hóa dân gian. Và như một sự ngẫu nhiên song lại rất hợp lí, trong tiến trình lịch sử văn học dân
tộc, nhà văn, nhà thơ nào chịu ảnh hưởng, tiếp thu, vận dụng chất liệu dân gian một cách nhuần
nhuyễn đều gặt hái được những thành công nhất định. Những tác phẩm của họ thường có tiếng
vang và được lưu truyền theo thời gian. Có thể kể ra đây một số tác giả tiêu biểu mà những tác
phẩm của họ đã được thời gian thẩm định. Nguyễn Trãi là người mở đầu cho những sáng văn
học bằng chữ Nôm. Là người có bút lực tinh tế, nhà thơ Nguyễn Trãi như con ong cần mẫn bay
đi khắp bốn phương để hút những nhụy hoa về làm mật. Những giọt mật vàng óng, ngọt lịm ấy
được tạo ra từ những bông hoa cội nguồn văn hóa dân gian dân tộc Việt vốn rất giàu truyền
thống thi ca, nghệ thuật. Trong Quốc âm thi tập, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những lời ăn
tiếng nói hàng ngày, những thành ngữ, tục ngữ, ca dao được tác giả vận dụng một cách nhuần
nhuyễn, tự nhiên. Đại thi hào Nguyễn Du cũng ảnh hưởng rất nhiều từ thi liệu văn học dân gian
khi sáng tác Truyện Kiều. “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, Tú Xương,…sáng tác những
bài thơ ken dày thi liệu dân gian.
Sự ảnh hưởng, tác động ấy vẫn diễn ra sâu sắc kể cả khi văn học Việt Nam chịu ảnh
hưởng của văn hóa, văn học phương Tây, đặc biệt là văn hóa, văn học Pháp. Bên cạnh những
nhà văn, nhà thơ có những cách tân táo bạo vẫn có những tác giả chịu ảnh hưởng sâu đậm từ
nền văn hóa, văn học dân gian như Nguyễn Bính, Tố Hữu. Rõ ràng, tùy theo từng thời điểm,
mặc dù phải trải qua nhiều biến cố, nhiều sự tiếp biến văn hóa ngoại lai do những nguyên nhân
khách quan và chủ quan khác nhau thì bộ phận văn học ảnh hưởng sâu đậm từ nguồn mạch văn
gũi và thiết thực đối với con người; 4/ Văn học có vai trò sáng tạo văn hóa. Văn học là bộ phận
quan trọng của văn hóa, sự giàu có của nó về nội dung và hình thức trực tiếp làm giàu cho văn
hóa. [76, tr.891-892-893-894].
Quả vậy, thực tế đời sống văn hóa, văn học đã minh chứng rằng nhiều sáng tác của các
nhà văn đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa dân gian. Các tác phẩm này đều hướng tới xây
dựng những mô hình nhân cách văn hóa trọn vẹn, từ đó tác động tích cực đến đời sống văn hóa
của xã hội. Trong văn học quá khứ, một số sáng tác là sản phẩm của văn học thành văn thuộc
bộ phận văn hóa bác học, nhưng sự lưu truyền lại không chỉ trong tầng lớp quí tộc, những
người có học thức mà có một số tác phẩm xuất chúng đã len lỏi đến tận thửa ruộng, luống cày,
ăn sâu vào từng tâm hồn những người nông dân. Để rồi không biết từ bao giờ nó trở thành món
ăn tinh thần không thể thiếu của quần chúng nhân dân. Tiêu biểu cho hiện tượng “dân gian hóa”
vừa nêu không thể không kể đến Truyện Kiều. Nguyễn Du khi sáng tác Truyện Kiều, ngoài
những tri thức bác học, ông còn chịu ảnh hưởng rất sâu đậm tri thức văn hóa dân gian. Đóng
góp lớn nhất của Nguyễn Du qua Truyện Kiều là đã góp phần đưa thể thơ lục bát của dân tộc
đạt đến đỉnh cao nghệ thuật. Truyện Kiều còn được “dân gian hóa” thành những hiện tượng văn
hóa phổ biến như tập Kiều, bói Kiều. Đó là chưa kể đến những truyện Nôm khuyết danh như
Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa,…những tác phẩm do các nhà nho viết ra, nhưng vì
được lưu truyền quá rộng rãi trong nhân dân, nên không còn có thể phân biệt được đâu là văn
chương bình dân, đâu là văn chương bác học. Hiện tượng “dân gian hóa” ấy còn diễn ra ở nhiều
tác phẩm văn học bác học khác như tác phẩm Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), thơ lục bát
của Tố Hữu, thơ Tú Mỡ, thơ Bút Tre.
Tóm lại, mối quan hệ ảnh hưởng giữa văn hóa với văn học nói chung, văn hóa dân gian
với văn học viết nói riêng là mối quan hệ mang tính quy luật tất yếu. Văn học chẳng những là
một bộ phận quan trọng của văn hóa, chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ văn hóa mà còn là một
trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa hữu hiệu nhất. Văn học vốn chịu sự chi
phối ảnh hưởng từ truyền thống văn hóa và môi trường văn hóa của dân tộc. Là thành viên của
cộng đồng văn hóa, như một hệ quả tất yếu, nhà văn tiếp nhận những giá trị văn hóa truyền
thống, những lối tư duy, những mô thức ứng xử trong cộng đồng. Vì thế, dù nhà văn viết về vấn
đề gì, dù sáng tạo đến đâu thì trong tác phẩm vẫn thể hiện tâm thái văn hóa của dân tộc mình.
Bằng không những gì nhà văn viết ra sẽ hoàn toàn xa lạ với độc giả, với chính mình. Bởi như
trước khi anh ta cầm bút và muốn có một sáng tác thực sự có giá trị. Nhà văn vẫn hằng tâm
niệm phải “có một chút muối rắc đâu đó trên từng trang viết” [89, tr.17]. Chất muối ấy là sự
kết tinh của tài năng, tâm huyết, vốn sống, sự trải nghiệm của người cầm bút trước những trang
sách cuộc đời. Ông đã dành hết tâm lực dấn thân vào sự nghiệp cầm bút, với khao khát đi tìm
điều thiện tốt đẹp nhất cho con người. Hành trình của Nguyễn Huy Thiệp vì thế đã tạo được sự
quan tâm đặc biệt của giới phê bình, độc giả trong và ngoài nước.
Gần đây, trong một lần phỏng vấn, nhà báo Lê Thị Thái Hòa đã hỏi Nguyễn Huy Thiệp:
“Từ khi nào ông bỗng nhiên muốn viết?”, Nguyễn Huy Thiệp trả lời rất thành thực: “Tôi muốn
viết từ rất sớm. Khoảng 7 đến 10 tuổi tôi đã viết những đoạn văn ngắn rồi “chôn” xuống đất
sau khi đọc những truyện của người khác viết” [92]. Thế nhưng phải đến tháng 1 năm 1987,
bạn đọc cả nước mới được biết đến một Nguyễn Huy Thiệp với tư cách là “nhà văn trẻ” qua tập
truyện ngắn đầu tay Những chuyện kể bất tận của thung lũng Hua Tát được khởi đăng trên
báo Văn nghệ. Song, tác phẩm này chưa gây được tiếng vang trong dư luận. Phải đến khi
Tướng về hưu trình làng cũng trên báo Văn nghệ số 24 ra ngày 20 tháng 6 năm 1987, Nguyễn
Huy Thiệp mới được dư luận tiếp nhận, tranh luận sôi nổi với nhiều xu hướng khác nhau. “Nhà
văn trẻ” của chúng ta năm đó đã bước sang tuổi 37, nói như ông thì “khi đã sống được nửa đời
người”. Đối với một nhà văn, từ năm lên 7 tuổi đã bắt đầu cầm bút, viết rồi lại “chôn xuống
đất” khi đọc những truyện của người khác, điều này chứng tỏ với Nguyễn Huy Thiệp, viết văn
chẳng phải là một việc dễ dàng gì. Phải chăng vì ông sớm ý thức rằng “Cái khó không phải là
viết, cái khó là sống như thế nào để có cái gì mà viết” [92].
Nguyễn Huy Thiệp sinh ra và lớn lên ở đồng bằng Bắc Bộ, nằm giữa lưu vực hai con
sông Hồng, sông Mã. “Trong các sắc thái phong phú và đa dạng của văn hóa Việt Nam, đồng
bằng Bắc Bộ như là một vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc” [107, tr.235]. Bắc Bộ là cái nôi
hình thành dân tộc Việt, cũng là nơi sinh ra các nền văn hóa lớn. Đặc trưng của vùng văn hóa
này phải kể đến thái độ ứng xử với tự nhiên trên cơ sở chinh phục và sống hài hòa với tự nhiên.
Đáng kể nhất là những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân Việt Bắc Bộ. Mọi tín ngưỡng
của cư dân trồng lúa nước như thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, sùng bái tự nhiên,…có mặt trên hầu
hết các làng quê Bắc Bộ. Không chỉ thế, kho tàng văn học dân gian Bắc Bộ có thể coi như một
loại mỏ với nhiều khoáng sản qúi hiếm. Từ thần thoại đến truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca
dao, tục ngữ, thể loại nào cũng phong phú. Có thể nói, đồng bằng Bắc Bộ là cái nôi văn hóa dân
Để sáng tạo nên những tác phẩm độc đáo khi viết về thiên nhiên và cuộc sống con người
miền núi, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã có quãng thời gian mười năm thâm nhập thực tế ở Tây
Bắc. Đó là những tháng ngày thầy giáo Thiệp dạy học tại một bản heo hút ở Sơn La, nơi cách
tỉnh lỵ một ngày đi bộ, với bao thiếu thốn vất vả mà sau này chính nhà văn thú nhận chỉ có sức
mạnh của nhiệt huyết tuổi trẻ mới giúp ông vượt qua những năm tháng ấy. Có lẽ quãng thời
gian sống và làm việc ở Tây Bắc, Nguyễn Huy Thiệp đã đọc những “trang sách đời” được viết
ra từ chính cuộc sống hiện thực của người dân nơi đây. Đọc nhiều truyện của Nguyễn Huy
Thiệp, ta thấy thấp thoáng bóng dáng của thầy giáo Thiệp năm nào. Kí ức về những tháng ngày
sống và làm việc ở Tây Băc sâu đậm đến nỗi không cần gợi nhắc, nó luôn thường trực, âm ỉ và
nếu có dịp, nhà văn lại thổ lộ: “Ngày xưa, khi còn dạy học ở vùng núi Tây Bắc…”. Và rồi ông
cứ để cho hoài niệm tràn về…
Mở đầu truyện ngắn Những người muôn năm cũ, Nguyễn Huy Thiệp hồi tưởng: “Cách
đây hơn ba mươi năm, tôi dạy học ở Bâm là một xóm núi khỉ ho cò gáy ở tỉnh N, cách thủ đô
vài trăm cây số. Hồi ấy tôi 20 tuổi, vừa mới tốt nghiệp ra trường, tâm hồn còn rất ngây thơ”
[94, tr.510].
Hay một đoạn trong Chuyện tình kể trong đêm mưa, tác giả kể: “Trường học miền núi
nơi tôi ở nằm trên một quả đồi trọc gọi là đồi Thông […]. Khu nhà giáo viên kề ngay đó lợp
ngói, vách trát “toocsi” nhưng khi mưa xuống dột còn nhiều hơn cả mái nhà lợp gianh” [94,
tr.458]. Đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta còn có thể bắt gặp khá nhiều những dòng tự sự
chân thực như thế.
Sau này khi đã trở về Hà Nội, nếm trải qua bao nhiêu thăng trầm, ngay cả khi đã khẳng
định được tên tuổi trên văn đàn và đã có chỗ đứng khá vững chắc trong lòng độc giả, với
Nguyễn Huy Thiệp, tháng ngày ở Tây Bắc vẫn là quãng thời gian đẹp đẽ và đáng nhớ nhất. Với
ông, Tây Bắc mãi là “Mảnh đất tình yêu! Mảnh đất giữ người!” [94, tr.576]. Gần đây, trong
truyện ngắn có nhan đề Quan âm chỉ lộ, Nguyễn Huy Thiệp bồi hồi nhớ lại: “ Những ngày dạy
học gian khó ở trên miền núi Tây Bắc xa xôi, tôi chỉ là một thầy giáo tiểu học vô danh, tôi như
viên sỏi vô danh ở trong lòng suối vô danh nhưng chẳng bao giờ tôi thấy cô đơn, trong lòng tôi
lúc nào cũng như có một con chim chiền chiện líu la líu lo ca hát những lời vô nghĩa bất tận”
[94, tr.587].
Điều đó còn là cơ sở để lí giải tại sao mảng truyện viết về miền núi chiếm số lượng đáng
Thiệp thường được nhìn từ nhiều điểm nhìn khác nhau nên chúng rất đa dạng và phức tạp.