ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong một số tiểu thuyết của vi hồng - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ MINH PHƯƠNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HOÁ DÂN GIAN TRONG
MỘT SỐ TIỂU THUYẾT CỦA VI HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên – Năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Văn học của các dân tộc thiểu số Việt Nam ra đời tƣơng đối muộn. Nó
chủ yếu đƣợc hình thành và phát triển từ sau Cách mạng Tháng Tám năm
1945.Thơ ra đời sớm nhất, văn xuôi ra đời muộn hơn và đƣợc đánh dấu bằng
những sáng tác của nhà văn Nông Minh Châu. Có thể nói truyện ngắn “Ché
mèn đƣợc đi họp” viết năm 1958 của Nông Minh Châu là mốc đầu tiên cho
sự ra đời của mảng văn học các dân tộc thiểu số. Năm 1964 tiểu thuyết của
các dân tộc thiểu số mới ra đời với “Muối lên rừng” của Nông Minh Châu.
Nhƣng phải đến hơn mƣời năm sau, tiểu thuyết các dân tộc thiểu số mới thật
sự phát triển. Trong đó Vi Hồng là nhà văn có đóng góp đáng kể cho mảng
văn học của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết.
Với hơn mƣời cuốn tiểu thuyết, mở đầu là “Đất bằng” (1980) và hơn
chục năm tiếp theo hầu nhƣ cũng chỉ có tiểu thuyết của ông. Đó là “Vãi
Đàng” (1980), Núi cỏ yêu thƣơng (1984), “Tháng năm biết nói” (1993),
“Lòng dạ đàn bà” (1992), “Vào hang” (1990), “Đọa đày” (1997)… Sau Vi
Hồng, còn có các nhà văn: Cao Duy Sơn (Tày), Vƣơng Trung (Thái), cũng
viết tiểu thuyết song với số lƣợng tác phẩm ít hơn, điều đó cho thấy sức sáng
tạo hăng say đầy hứng thú không biết mỏi của Vi Hồng thật đáng khâm phục.
Có thể nói nhìn từ góc độ thể loại tiểu thuyết, Vi Hồng là nhà văn dân
tộc thiểu số viết tiểu thuyết đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật hơn cả. Tiểu
thuyết của Vi Hồng đã đề cập đến rất nhiều mặt khác nhau về cuộc sống và
con ngƣời miền núi. Đặc biệt qua tiểu thuyết của ông, chúng ta còn nhận thấy
trong mỗi tác phẩm mang đậm những yếu tố của văn hóa dân gian.
Trong những năm gần đây, sáng tác của Vi Hồng cũng đƣợc quan tâm
nghiên cứu. Song có lẽ vẫn còn những khía cạnh chƣa đƣợc nghiên cứu đúng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



3
cho thể loại tiểu thuyết và để lại một di sản khá lớn gồm hơn mƣời tiểu thuyết
và sáu bản thảo tiểu thuyết chƣa in.
Đánh giá về tiểu thuyết Vi Hồng, các nhà nghiên cứu phê bình và bạn
đọc đều thống nhất khẳng định: Vi Hồng là nhà văn dân tộc miền núi tiêu biểu
cho bộ phận văn học dân tộc thiểu số Việt Nam sau cách mạng.
Đọc bản thảo tác phẩm Đất bằng , nhà văn Nguyên Ngọc đã có nhận
xét đầy ấn tƣợng về nghệ thuật viết tiểu thuyết của Vi Hồng: “Tôi thấy cách
viết của anh rất khác với cách viết của ta – hay ít ra là của tôi – vẫn thường
quen thuộc…. Cách viết, bao gồm cách hình dung về nhân vật, xây dựng nhân
vật, dẫn dắt cốt truyện, lựa chọn tình tiết, tập trung chú ý tình tiết này hơn
tình tiết kia…Cho đến kết cấu, bố cục tả người, tả cảnh, tả tình, đặt câu, chọn
từ…” (Báo nhân dân ngày 19/4/1980).
Trong cuốn văn học Thái Nguyên, tác giả Vũ Anh Tuấn, tác giả rất
quan tâm đến mối quan hệ giữa sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Tày với văn
học truyền thống. Chẳng hạn, khi giới thiệu về những đặc điểm cơ bản của
văn xuôi Thái Nguyên nói chung trong đó có Vi Hồng, tác giả đã nhận xét
“Bắt đầu từ nhà văn Vi Hồng, cuộc sống, tâm hồn con người miền núi đã
được miêu tả một cách phong phú, sâu sắc, đa dạng. Với sự vận dụng tối đa
vốn văn hóa dân gian, Vi Hồng đã khởi xướng một cách viết mới về miền núi,
mà có nhà văn đã nhận định đó là cách viết “Hiện đại hóa dân gian”. Sau
này, không ít nhà văn người dân tộc ở Thái Nguyên và Việt Bắc ảnh hưởng Vi
Hồng một cách sâu sắc và có hiệu quả”.
Phó Giáo sƣ – tiến sĩ Vũ Anh Tuấn trong bài báo “Vi Hồng với mùa
xuân Nặm Cáp” cũng khẳng định sức hấp dẫn của tiểu thuyết Vi Hồng đối
với ngƣời đọc không chỉ bằng cách viết độc đáo mà còn bởi ông là một nhà
văn có trái tim nhân hậu, giàu lòng nhân ái. Thành tựu lớn nhất mà Vi Hòng
để lại cho đồng bào các dân tộc miền núi có lẽ đƣợc trầm kết trong những


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Trong hội thảo về nhà văn Vi Hồng do khoa ngữ văn Trƣờng Đại học
sƣ phạm Thái Nguyên kết hợp với Hội văn học nghệ thuật tỉnh tổ chức năm
2006, có một số bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn
học viết. Trƣớc hết, phải kể đến bài: “Bản sắc văn hóa Tày trong truyện
ngắn Vi Hồng” của hai tác giả Trần Thị Việt Trung và Nguyễn Thị Thanh
Thủy. Hai tác giả đã khảo sát trên phƣơng diện nội dung và nghệ thuật tác
phẩm của Vi Hồng và đi đến kết luận: Bản sắc văn hóa Tày thể hiện khá đậm
nét ở đề tài, nội dung phản ánh, hình tƣợng nhân vật và một số đặc điểm nghệ
thuật khác trong truyện ngắn của Vi Hồng. Các tác giả đã phát hiện ra chất trữ
tình sâu lắng trong nội dung tác phẩm, vẻ đẹp khỏe khoắn, mộc mạc trong
hình tƣợng nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, hình ảnh so sánh giàu chất dân
gian miền núi trong tác phẩm của Vi Hồng. Và khẳng định ông là một nhà
văn ngƣời dân tộc tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại.
Về khía cạnh vận dụng ngôn ngữ dân gian trong truyện ngắn Vi Hồng,
Hà Thị Liễu đã nhận xét: Vi Hồng ƣa thích và sử dụng với mật độ khá dày các
thành ngữ, tục ngữ dân gian trong sáng tác của mình và đã đem lại hiệu quả
biểu đạt tích cực.
Mặc dù cũng đã đƣợc đề cập đến ít nhiều, song các bài viết dƣờng nhƣ
mới chỉ dừng lại ở nhận định, những luận điểm để phục vụ cho những mục
đích nghiên cứu khác nhau.
Tóm lại, các tác giả đã nghiên cứu và nhấn mạnh tới sự tiếp thu, kế
thừa các yếu tố văn hóa, văn học dân gian, chủ yếu ở thể loại truyện ngắn
trong di sản sáng tác của Vi Hồng mà chƣa có một công trình nghiên cứu nào
cho thấy sự ảnh hƣởng sâu sắc từ các yếu tố của văn hóa dân gian tới tiểu
thuyết của Vi Hồng.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi dựa trên cơ sở kế thừa những ý kiến có
tính chất gợi mở và định hƣớng của một số nhà nghiên cứu có tên tuổi và của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu tác gia văn học
- Phƣơng pháp phân tích tác phẩm theo đặc trƣng thể loại
- Phƣơng pháp thống kê phân loại
- Phƣơng pháp đối chiếu so sánh
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên nghành

6. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có 4 phần:
- Mở đầu.
- Nội dung: Gồm có 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tế của đề tài
Chƣơng 2: Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian về phƣơng diện nội dung.
Chƣơng 3: Ảnh hƣởng của văn hóa dân gian về phƣơng diện nghệ thuật.
- Kết luận.
- Thƣ mục tài liệu tham khảo.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


9
huyền diệu. Gió đại ngàn khẽ chạm vào hai dây đàn ấy, tạo nên khúc nhạc du
dƣơng với nhiều cung bậc khác nhau. Thiên nhiên Cao Bằng có cái nghiệt ngã
của khí hậu vùng biên ải, núi đá trập trùng. Nhƣng cái dữ dội ấy lại đƣợc bọc
trong cái bảng lảng của sƣơng núi, cái trầm sâu mơ màng của Đà giang mùa
nƣớc êm. Sự hòa trộn giữa hai tính chất tƣởng chừng đối chọi nhau đó ở thiên
nhiên cũng tạo ra hai đối cực trong tính cách con ngƣời nơi đây: lửa và nƣớc.
Thiên tính lửa - sự dữ dằn - xuất hiện vì con ngƣời phải sinh tồn trong cái
khắc nghiệt tất lẽ ở vùng đất địa đầu. Sóng đôi với nó là thiên tính nƣớc - sự
hiền hòa, dịu dàng - đƣợc hình thành vì con ngƣời sống trong thi vị, trong sự
bao bọc, bảo trợ nguồn sống của thiên nhiên. Hình nhƣ chính hai mạch nƣớc
ngầm nƣớc - lửa ấy đã tạo ra hai đối âm tƣơng phản mà hòa hợp trong văn
chƣơng Vi Hồng nói riêng và những nhà văn Cao Bằng nói chung: bút pháp
vừa lãng mạn, vừa hiện thực, cảm xúc dữ dội mà dịu êm. Trong tiểu thuyết Vi
Hồng, các tình huống truyện khốc liệt, bi kịch lên đến tận cùng… cũng đƣợc
bọc trong sự thi vị của thiên nhiên, của tình nghĩa con ngƣời.
Dân cƣ chủ yếu vùng Việt Bắc là ngƣời Tày, Nùng. Ngoài ra còn có
một số tộc ngƣời khác nhƣ Dao, H’Mông, Lô Lô, Sán Chay. Cao Bằng là tỉnh
có nhiều dân tộc sinh sống song chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng. Dân tộc
Tày, Nùng là những tộc ngƣời có dân số đông nhất nƣớc trong các dân tộc
thiểu số ở nƣớc ta. Hai dân tộc Tày, Nùng có những nét văn hoá gần gũi, sự
gần gũi giữa họ là tƣơng đối. Trong quan hệ với văn hoá Hán, ngƣời Nùng
chụi nhiều ảnh hƣởng của văn hoá Hán nhiều hơn ngƣời Tày, ngƣời Tày lại
chịu nhiều ảnh hƣởng của văn hoá Việt nhiều hơn. Về phƣơng diện tổ chức xã
hội, cƣ dân Tày, Nùng chủ yếu sống trong các bản ven đƣờng, cạnh sông suối
hay thung thũng. Bản là đơn vị cơ sở nhỏ nhất. Các gia đình trong bản và các
thành viên hợp lại thành một cộng đồng dân cƣ và có tổ chức. Mọi tổ chức xã
hội cao hơn bản đã mất. Thiết chế xã hội tồn tại là xã, tổng, châu hay huyện,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Dân tộc Tày, Nùng cũng có nền văn học dân gian phát triển ở trình độ
khá cao về nghệ thuật, phong phú về loại hình. Với loại hình tự sự dân gian
ngƣời Tày, Nùng để lại một di sản phong phú với những thể loại: truyền
thuyết, cổ tích, thần thoại, truyện cƣời, truyện thơ, truyện ngụ ngôn… Riêng
với thể loại thần thoại đã làm nên bản sắc rất riêng của văn học dân gian Tày,
Nùng với hình tƣợng Pựt Luông sáng tạo ra thế giới muôn loài, hình tƣợng
ngƣời khổng lồ Tài Ngào, hình tƣợng ngƣời khoẻ tài ba, hình tƣợng ngƣời
hiền lành, ngƣời em út…
Ngƣời Tày, Nùng cũng có một kho tàng truyện cổ tích phong phú,
mang đậm bản sắc của dân tộc mình .
Nói đến văn học Tày, Nùng không thể không nhắc đến kho truyện thơ
dân gian rất đặc sắc và có khối lƣợng đồ sộ, với những đề tài phong phú thể
hiện rõ nét đời sống tâm tƣ tình cảm của ngƣời dân Tày, Nùng. Trong đó phải
kể đến những tác phẩm đạt đến trình độ cao về nghệ thuật nhƣ: Nam Kim -
Thị Đan, Lƣu Đài – Hán Xuân, Kim Quế…
Bên cạnh đó, Ngƣời Tày, Nùng còn có một mảng “Văn học dân gian
phô diễn tâm tình” nhƣ sli, lƣợn, phong slƣ, những bài ca nghi lễ nhƣ mo,
then pựt…và biết bao câu ca dao tục ngữ, câu đố, đồng dao… Tất cả đã ảnh
hƣởng sâu sắc trong các tiểu thuyết của Vi Hồng.
Quê hƣơng Hòa An của ông chính là một trong những cái nôi sản sinh
và bảo tồn văn hóa Tày Việt Bắc. Nhà văn lớn lên và đƣợc nuôi dƣỡng trong
một không gian văn hóa của những phong tục tập quán mang tín ngƣỡng đặc
trƣng: những lễ hội độc đáo vừa đậm chất sinh hoạt vừa mang phong vị của
cuộc sống lao động dân dã bình dị (thi cấy), những buổi gặp gỡ để trai gái bén
duyên và hò hẹn (lễ hội lồng tồng và kết bạn)… Vi Hồng còn đƣợc nuôi
dƣỡng trong bầu sữa dân gian của những làn điệu dân ca mƣợt mà tình nghĩa
(then, quan làng), đằm thắm và chan chứa yêu đƣơng (sli, lƣợn…). Bản thân

về văn hoá. Văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc ngƣời học, nói

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
chung gồm có tri thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán,
một số năng lực và thói quen khác đƣợc con ngƣời chiếm lĩnh với tƣ cách là
một thành viên xã hội.
Theo nghĩa này thì văn hoá và văn minh là một: nó bao gồm tất cả mọi
lĩnh vực liên quan đến đời sống của con ngƣời, tri thức, tín ngƣỡng đến nghệ
thuật, đạo đức pháp luật… có ngƣời ví định nghĩa này mang tính “bách khoa
toàn thư” vì nó liệt kê mọi lĩnh vực sáng tạo của con ngƣời.
Có ý kiến lại cho rằng, văn hoá là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể
chất và đã hành động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một
nhóm ngƣời vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với
môi trƣờng tự nhiên của họ, với những nhóm ngƣời khác, với những thành
viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau.
Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc hiểu theo nghĩa thông dụng để chỉ học
thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để
chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn) còn theo nghĩa
rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm vật chất đến các giá trị tinh
thần và các hoạt động. Song những năm gần đây ngƣời ta thƣờng vận dụng định
nghĩa do UNESCO “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng
biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội
hay của một nhóm người trong xã hội. văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá
trị, những tập tục và tín ngưỡng:Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy
xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc
biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ
văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một

cho các cảnh quan thiện nhiên ) Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
sợi dây nối liền con ngƣời với con ngƣời, nó thực hiện chức năng giao tiếp và
có tác dụng liên kết con ngƣời lại với nhau.
Tính lịch sử: Tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, cho phép
phân biệt văn hóa nhƣ sản phẩm của một quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ
với văn minh nhƣ một sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng
giai đoạn. Tính lịch sử đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hóa, những giá trị
tƣơng đối ổn định, đƣợc tích lũy và tái tạo trong cộng đồng ngƣời qua không
gian và thời gian, đƣợc đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định
hóa dƣới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp Truyền
thống văn hóa tồn tại nhờ giáo dục. Cho nên văn hóa còn đảm nhiệm chức
năng giáo dục.
Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhâu về văn hóa
song có thể thấy rằng tựu chung lại các cách hiểu ấy đều thống nhất : văn hóa
là sản phẩm đƣợc sáng tạo bởi con ngƣời. Các sản phẩm văn hóa đó có thể
thấy có tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính giáo dục đồng thời nó cũng
chính là thƣớc đo trình độ phát triển của con ngƣời. Bởi lẽ, trong quá trình
sáng tạo văn hóa thì văn hóa lại có tác động ngƣợc trở lại con ngƣời khiến cho
đời sống của con ngƣời trở nên văn minh hơn và từ đó con ngƣời lại sản sinh
ra vô vàn văn hóa khác trong đó có văn học nghệ thuật. ở đây chúng tôi
nghiên cứu đề tài theo quan điểm của tác giả Trần Ngọc Thêm.
1.2.2. Văn hóa dân gian
Mỗi một dân tộc có nền văn hoá khác nhau mang đậm những dấu ấn
riêng. Văn hoá dân gian là một bộ phận của văn hoá dân tộc. Nói tới văn hoá
dân gian là nói tới sản phẩm truyền thống của một nền văn hoá. Về phƣơng
diện lịch sử nó đƣợc chuyển giao qua các thế hệ, nó chứng tỏ “những lối cũ”

truyền thống văn hóa dân gian. Gia đình ông là kho truyện cổ dân gian, đặc
biệt bà nội làm Then và hát rất hay. Quê hƣơng Hòa An của ông là một trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
những cái nôi bảo tồn, lƣu giữ lâu đời truyền thống văn hóa Tày. Ông từng
nói mình là khán giả tí hon và nhiệt tình của các câu truyện cổ tích. Lên bảy
tuổi, ông bắt đầu học chữ từ ngƣời cha của mình. Đó là chữ Hán, Nôm mà
ngƣời Tày gọi là Slƣ nam, thứ chữ giống nhƣ những cái gai xếp vào nhau. Vi
Hồng đã bắt chƣớc các thầy (Sảy) ghi lại những truyện cổ. Ông nói: lúc ấy,
mình mới lên mƣời một tuổi.
Năm mƣời ba tuổi, Vi Hồng biết làm thơ, chủ yếu là thể phong Slƣ -
một thể thơ tự tình trao duyên của dân tộc Tày. Tâm hồn của Vi Hồng bắt đầu
nảy nở từ đây.
Năm mƣời bốn tuổi, Vi Hồng đỗ thẳng vào lớp ba trƣờng làng. Hòa
bình lập lại, năm 1955, Vi Hồng là một trong chín học sinh Cao Bằng đƣợc
xuống học ở trƣờng Phổ thông trung học Lƣơng Ngọc Quyến - Tỉnh Thái
Nguyên. Chính nơi đây đã mở ra một chân trời khoa học cùng với sự ham
hiểu biết và giàu nghị lực.
Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Vi Hồng thi đỗ Đại học sƣ
phạm I Hà Nội. Học chăm, giỏi, tốt nghiệp đại học ông đƣợc giữ lại ở trƣờng
giảng dạy, nhƣng ông đã từ chối và xung phong lên công tác tại miền núi.
Năm 1960, ông lên Hà Giang và dạy học tại trƣờng cấp III Hà Giang.
Năm 1961, ông trở lại quê hƣơng Cao Bằng của mình, dạy học ở
trƣờng cấp III Cao Bằng.
Năm 1963, Vi Hồng trở về trƣờng Đại học sƣ phạm I giảng dạy và
nghiên cứu văn học. Trên cƣơng vị giảng dạy, Vi Hồng là một ngƣời tận tụy,
có tinh thần trách nhiệm cao, có tâm huyết với nghề. Nhà văn Dƣơng Thuấn -
ngƣời học trò của Vi Hồng, từng đánh giá "Ai mà học với thầy Vi Hồng sẽ

Đến với văn chƣơng ni chung và tiểu thuyết nói riêng còn một lý do
nữa, đó là cuộc sống riêng của Vi Hồng đầy bất hạnh, vất vả lam lũ từ thủa ấu
thơ. Ông cũng là một nạn nhân của những hủ tục trên. Mƣời hai tuổi buộc
phải lấy vợ trong khi chƣa biết thế nào là vợ, tình yêu, hạnh phúc. Phải sống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
với ngƣời đàn bà hơn mình 8 tuổi, cuộc sống là một biển cả đau thƣơng, song
từ ấy khát vọng đến với văn chƣơng càng mãnh liệt bởi ông viết nhƣ để chôn
vùi di thực tại. “Tôi quyết định trốn vào lâu đài văn chưong, nghiên cứu và
sáng tác một cách miệt mài trong lâu đài văn chuơng, và giữa biển cả khổ
đau có gào thét cũng chẳng nghe thấy được…nỗi buồn là ngọn nguồn sáng
tạo nên những tiểu thuyết của tôi…Tôi bắt đầu viết tiểu thuyết từ khi có ý đồ
phác thảo, đến bắt đầu từ sự buồn…Hãy viết cái mà anh đau nhất” [15.7]
Cuộc sống vất vả, bất hạnh nhƣng là ngƣời giàu lòng nhân ái, luôn biết
yêu thƣơng ngƣời khác. Ông không nề hà giúp đỡ ngƣời gặp bất hạnh. Bạn bè
đồng nghiệp vẫn còn nhắc câu chuyện Vi Hồng giúp ngƣời khác bằng chính
đồng lƣơng ít ỏi của mình, trong lúc vợ con ông cũng rất vất vả. Đã có những
lời nhận xét về hành động ấy, họ ví Vi Hồng là ông tiên, Bụt trong các câu
chuyện cổ tích. Với Vi Hồng, khi buồn nhất thì ông càng thấy “thương thật
nhiều, yêu thật nhiều”.Cho nên trong sáng tác của Vi Hồng, tính nhân văn nổi
lên rất rõ, đó là chất nhân văn của cổ tích, của những giấc mơ…Ông luôn
luôn đứng về phía cái thiện, cái đẹp và giúp cho ngƣời đọc vững tin hơn về
cuộc sống, về những điều tốt đẹp. Quan điểm sống cũng nhƣ quan điểm viết
văn của Vi Hồng nói: Tôi là ngƣời miền núi…Phận sự của nhà văn miền núi
là làm sao cho dân tộc mình canh chừng với kẻ ác, cái ác.
Vì thế, đọc các sáng tác của ông ta thấy mối quan hệ khăng khít từ thực
tế cuộc đời và tác phẩm chúng luôn hòa quyện bổ sung cho nhau. Với cá tính
độc đáo, dù ít nói, ít cƣời, nhƣng đã nói là nói là nói thẳng, nói thật. Đó là

lại cho sự thành công ấy chính là các tiểu thuyết của Vi Hồng thẫm đẫm chất
dân gian. Công việc sáng tác đến với Vi Hồng nhƣ một niềm đam mê, rất tự
nhiên, nó là sự tự trải lòng mình với cuộc đời, từ chính cuộc đời mình, từ
chính những gì đã đƣợc chứng kiến. Trong thực tế đã có rất nhiều nhà văn
khai thác mảng đề tài về miền núi và gặt hái nhiều thành công song với Vi
Hồng ngƣời ta vẫn thấy đƣợc phong cách riêng. Có lẽ điều đó có đƣợc là nhờ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
vào vốn văn hoá, văn học dân gian đã đƣợc tích luỹ từ thủơ ấu thơ cực kì
phong phú. Tất cả những kí ức tuyệt vời ấy đã trở thành nguồn cảm hứng sáng
tác của ông ngay cả lúc ông đã lâm trọng bệnh .
Qua những giấc mơ, nhà văn trở về với quê hƣơng, làng bản, với những
lễ hội dân gian truyền thống, những phong tục tập quán đẹp và nhất là trở về
với suối nguồn văn học dân gian với những truyện cổ tích, truyện thơ, những
điệu sli, lƣợn ngọt ngào tha thiết của quê hƣơng .
Mƣời bốn tiểu thuyết Của Vi Hồng đều mang đậm bản sắc dân tộc
miền núi Việt Bắc. Những nhân vật trong tiểu thuyết của Vi Hồng đều có tính
cách, lối nói, lối suy nghĩ của con ngƣời miền núi. Kể cả một số tác phẩm lấy
bối cảnh là cuộc sống đô thị hiện đại nhƣ Ngƣời trong ống, Gã ngƣợc đời,
nhân vật của hai tiểu thuyết này là những tri thức trong các trƣờng đại học,
nhƣng họ vẫn nói lối nói dân gian, suy nghĩ cách nghĩ dân gian.
Hơn thế nữa Vi Hồng còn là nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, đặc biệt
là văn hoá Tày, Nùng. Có thể thấy, dù làm gì và đi bất cứ nơi đâu, thì tâm
hồn, tình cảm của ông luôn gắn bó máu thịt với quê hƣơng Việt Bắc, nơi ông
sinh ra và lớn lên. Những sáng tác dù ngắn hay dài cũng đều bắt nguồn từ
mảnh đất thân thƣơng ấy. Chính vì thế chất dân gian quê mẹ đã tạo nên một
đôi cánh rộng mở để tác phẩm của ông bay cao.
Đặc biệt là trong văn hoá dân gian Tày, Nùng lại có nền văn học dân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
CHƢƠNG 2
ẢNH HƢỞNG CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN VỀ
PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG
Mỗi dân tộc đều có vốn văn hóa khác nhau và có lẽ để dễ nhận biết các
nền văn hóa khác nhau ngƣời ta dựa vào vốn văn hóa dân gian của dân tộc ấy.
Vi Hồng đã thành công khi tái hiện đầy đủ, chân thực về cuộc sống, con
ngƣời miền núi nói chung và dân tộc Tày nói riêng. Là ngƣời con của núi
rừng Việt Bắc, bản thân lại là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nên ông hiểu
sâu sắc về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Với tình yêu
con ngƣời, quê hƣơng ông luôn ý thức phải làm gì đó cho quê hƣơng mình.
Những trang văn của ông đã là minh chứng cho tình yêu ấy và đã hiện thực
hóa khát vọng của cuộc đời mình: đem văn hóa Tày đến với mọi ngƣời.
2.1. Thiên nhiên miền núi trong tiểu thuyết của Vi Hồng.
Đọc tiểu thuyết của Vi Hồng, có lẽ ngƣời đọc sẽ rất ấn tƣợng với những
bức tranh thiên nhiên vùng miền núi. Mỗi tác phẩm nói đến một địa danh
khác nhau nó có thể là bức tranh thiên nhiên đẹp, đầy màu sắc, hoang sơ của
rừng hoa, cánh ruộng bậc thang bát ngát, trù phú với muôn vàn tiếng chim
chóc, cũng có thể là thiên hùng vĩ, hoang vu đầy hiểm nguy luôn đe doạ tính
mạng của con ngƣời. Song nó đều là những bức tranh thiên nhiên rất đặc
trƣng của vùng miền núi. Tất cả làm nên một màu sắc rất riêng, rất đặc trƣng
trong sáng tác của Vi Hồng, đồng thời nó cũng đóng góp rất lớn cho việc thể
hiện tƣ tƣởng của tác giả.
Trong mỗi tiểu thuyết, có lẽ điều cốt lõi nhất vẫn là cốt truyện với hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status