Ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Duy - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THỊ CHÂU

ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN
TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HẠNH

NGHỆ AN - 2012


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU...........................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Lịch sử vấn đề...............................................................................................4
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài......................................................................9
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.....................................................................9
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................9
6. Cấu trúc luận văn.........................................................................................10
Chương 1 CƠ SỞ CHO NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA DÂN
GIAN TRONG THƠ NGUYỄN DUY...........................................................11
1.1. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết - lý luận và thực tiễn

Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG HÌNH
THỨC NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN DUY..............................................75
3.1. Ảnh hưởng thơ lục bát trong ca dao.........................................................75
3.2. Sử dụng ngôn ngữ giàu chất liệu dân gian...............................................85
3.2.1. Sử dụng chất liệu ca dao dân ca............................................................86
3.2.2. Sử dụng chất liệu ngôn ngữ từ thành ngữ, tục ngữ...............................90
3.2.3. Ảnh hưởng hát xẩm...............................................................................92
3.3. Hình ảnh thơ kết tinh từ văn hóa dân gian...............................................96
3.3.1. Hình ảnh làng quê Việt Nam.................................................................96
3.3.2. Hình ảnh người mẹ, người vợ...............................................................98
3.3.3. Hình ảnh cánh co.................................................................................102
3.4. Ảnh hưởng các phương thức tạo nghĩa trong thơ ca dân gian................104
3.4.1. Ảnh hưởng cấu trúc so sánh trong ca dao...........................................104
3.4.2. Ảnh hưởng cấu trúc ngôn ngữ mang tính công thức trong thơ ca dân
gian................................................................................................................107
3.4.3. Ảnh hưởng các biện pháp tu từ trong ca dao.......................................110
KẾT LUẬN...................................................................................................113
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................115
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn hóa dân gian Việt Nam nói chung và văn học dân gian nói
riêng có sức sống lâu bền trong đời sống tinh thần của người Việt. Nó ảnh
hưởng rất lớn đến các sáng tác văn học viết, mà tiêu biểu là sáng tác của các
nhà thơ, như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Du, Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Tố Hữu, Nguyễn Bính, Nguyễn
Duy... Với Nguyễn Duy, ảnh hưởng văn hóa dân gian được xem là một đặc
điểm nổi bật làm nên một phong cách thơ độc đáo. Tìm hiểu ảnh hưởng văn
hóa dân gian trong thơ Nguyễn Duy, vì vậy là một hướng đi có ý nghĩa để
khám phá một phong cách thơ.
1.2. Thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ,

nhiên trong những vần, những hình ảnh thơ Nguyễn Duy. Ông viết: “Thơ
Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen thuộc: một gốc sim, một bụi tre, một
ổ rơm… Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người,


5
những cuộc đời cần cù, gian khổ, không tuổi, không tên. Đọc thơ Nguyễn
Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện
nhỏ xung quanh mình cái điều ở người khác chỉ có thể là chuyện thoáng qua
thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại” [66, 38]. Bằng cặp mắt tinh
tường, lời lẽ sắc sảo, Hoài Thanh đã giới thiệu với bạn đọc về một Nguyễn
Duy có nhiều triển vọng trong thơ ca. Ông nhận xét thơ Nguyễn Duy “đậm đà
phong cách Việt Nam: Giọng thơ chân chất. Tình thơ chắc. Ý thơ sâu” [66,
38]. Và đó, được nhìn nhận như một dấu ấn, một phong cách thơ. Có cùng
cách nhìn ấy, là bài viết “một hồn thơ đồng quê Việt Nam” của Trần Thị
Thắng. Trong bài viết của mình, Trần Thị Thắng cho rằng, thơ Nguyễn Duy
“gần gũi với người đọc bởi đượm tính dân tộc, nó nhuần nhuyễn gần như
ngôn ngữ dân gian Việt Nam. Nhiều lúc đọc thấy lời thơ giản dị gần với đời
thường, nhưng nó lại rất thơ đó là vì anh biết gắn cái hiện đại của ngày nay
vào lối thơ giản dị chân thành của số đông người. Đó là nghệ thuật riêng của
phương Đông là muốn mở ra với mọi người, thơ không chỉ thu mình riêng với
chủ thể...”. Cả Hoài Thanh và Trần Thị Thắng đều nói hoàn toàn đúng đắn về
chất thơ của Nguyễn Duy. Họ đã nhận định được nét nổi bật trong thơ
Nguyễn Duy là rất gần gũi với văn hóa dân gian, đượm tính dân tộc. Cũng
bàn về vấn đề trên con có bài viết của Lê Quang Hưng “những đoạn thơ lục
bát nhuần nhụy, ngọt ngào khiến người ta khó phân biệt đấy là ca dao hay
thơ” [28, 13]. Đọc bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy, Lê Quang Hưng phát
hiện “những ẩn dụ, hoán dụ tuy vẫn mang dáng dấp ca dao nhưng hiệu quả thì
hoàn toàn khác do cách nhìn, cách cảm của thế hệ Nguyễn Duy” [28, 13].
Theo Lê Quang Hưng, chất dân gian ấy “ngấm trong cả cách cảm lối nghĩ,

thơ thì hiện đại, hình thức thơ thì phảng phất phong vị cổ điển phương
Đông” [55, 30]. Trong bài viết “Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn Duy”,
Phạm Thu Yến đi vào nghiên cứu những biểu hiện của việc tiếp thu, chịu
ảnh hưởng của ca dao trong thơ Nguyễn Duy như hiện tượng “tập” ca dao,
sử dụng các mô típ ca dao, sử dụng nhuần nhụy thơ lục bát để chuyển tải


7
những suy nghĩ, tình cảm nhẹ nhàng trong sáng; lối kể chuyện, lối tự sự giản
dị, tự nhiên gần với ngôn ngữ đời thường mà vẫn giàu sức gợi cảm, khuynh
hướng hài hước, trào lộng...
Thêm một phương diện làm nên gương mặt thơ Nguyễn Duy là cái tôi
trữ tình và tính triết lý trong thơ ông. Đây cũng là khía cạnh được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm. Theo Vũ Văn Sỹ, ông nhìn thấy quá trình vận động
thống nhất của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy qua các giai đoạn sáng
tác. Cái tôi ấy nếu như ở giai đoạn đầu mang phẩm chất hiền lành, đằm thắm
đôn hậu thể hiện qua giọng thơ chân quê, chân cảm thì đến giai đoạn cuối nó
bỗng trở nên ngang tàng, táo bạo, mạnh mẽ, luôn “giở” giọng “tếu táo”, “đùa
cợt”. Các đối cực ngỡ đầy nghịch lý ấy được hài hoa trong một cái tôi nhất
thể luôn suy nghĩ, trăn trở, day dứt trước những vấn đề của đời sống con
người. Về nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy, theo Vũ
Văn Sỹ, “Trong những năm gần đây, khi mở rộng phạm vi giao tiếp của cái
tôi trữ tình theo hướng hiện đại hóa không ít nhà thơ đi vào con đường hình
thức, vô tình đẩy thơ vào tình trạng khó hiểu, bế tắc, Nguyễn Duy vẫn kiên trì
lục bát một cách có hiệu quả, khai thác nguồn mạch dân gian, tập ca dao, lẩy
ca dao để mở rộng tứ thơ hoặc thiết lập tứ thơ mới để dung nạp và đồng hóa
chất liệu đa dạng tinh tế của đời sống” [63, 35]. Nói về cái tôi trữ tình Nguyễn
Duy, Chu Văn Sơn cũng đã nắm bắt được cái hồn trong thơ Nguyễn Duy và
định danh Nguyễn Duy là kiểu “thi sĩ thảo dân”. Trên những cái xó bếp với
cột kèo, đống rấm con cúi, nồi đất đen thui, thúng mủng, nong nia, rành mẹt, rổ

Nguyễn Duy. Trong đề tài của mình, Nguyễn Thị Duyên cũng đã có những
tìm toi đáng kể về nội dung và hình thức biểu hiện của cái tôi trữ tình triết lý
trong thơ Nguyễn Duy.
Điểm lại lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Duy, có thể thấy, mỗi bài viết
đều có cách nhìn, cách cảm riêng về thơ Nguyễn Duy. Điểm gặp gỡ ở các bài
viết, dưới dạng này hay dạng khác, là khẳng định sự độc đáo, mộc mạc, chân


9
quê trong thơ Nguyễn Duy, xem ông là một trong những nhà thơ thấm đậm
chất dân gian của thơ ca Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, do tính chất yêu cầu
của những bài viết ngắn, mọi ý kiến chỉ dừng lại ở cảm nhận mà không đi vào
lí giải vì sao Nguyễn Duy lại có giọng thơ, hồn thơ như thế, và con thiếu một
sự khảo sát, phân tích hệ thống. Từ nhận thức đó, chúng tôi thực hiện đề tài
này với mong muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống, toàn diện về ảnh hưởng
văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Duy.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là tìm hiểu ảnh
hưởng văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Duy
3.2. Với mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, chỉ ra cơ sở cho những ảnh hưởng của văn hóa dân gian
trong thơ Nguyễn Duy.
Thứ hai, chỉ ra được ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong cái tôi trữ
tình thơ Nguyễn Duy
Thứ ba, chỉ ra được ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong hình thức thơ
Nguyễn Duy.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thế giới nghệ thuật thơ
Nguyễn Duy
4.2. Phạm vi khảo sát của đề tài là toàn bộ sáng tác thơ của Nguyễn

của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống
các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con
người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở
thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có tình, có óc phê phán và dấn thân
một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được
bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét
những thành tựu của bản thân, tìm toi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ
và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [80, 16]. Với cách
hiểu ấy, văn hóa có hai loại di sản văn hóa: những di sản văn hóa hữu thể
(đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ, nhà sàn…) và những di sản văn hóa vô hình
(âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương, nghi thức, phong tục tập quán, lễ
hội…). Từ một hướng nhìn khác, Phan Ngọc cho rằng, “Văn hóa là mối quan
hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái
thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa
theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ


12
mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành
một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn
của các cá nhân hay tộc người khác” [48, 19]. Trong quan niệm của mình,
Phan Ngọc không nói đến lịch sử, mà chỉ xét mặt bên ngoài của cái hiện
tượng độc đáo mang tên văn hóa mà thôi. Phạm Văn Đồng trong tác phẩm
Văn hóa và đổi mới, đã đưa ra một cái nhìn khái quát. Theo ông, “Theo nghĩa
rộng, nói một cách đơn giản, văn hóa là tất cả những gì không phải thiên
nhiên, nghĩa là tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan
trực tiếp nhất đến con người”. Như vậy có thể thấy, văn hóa là sản phẩm của
con người, gắn với con người, chỉ có ở con người.
Đó là bàn về văn hóa, con nói đến văn hóa dân gian, người ta nghĩ ngay

tộc, trong đó có văn chương nghệ thuật. Văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại
dưới dạng nguyên hợp, các bộ phận gắn bó chặt chẽ với nhau, được hình
thành trong quá trình sản xuất, sinh hoạt của nhân dân trong suốt chiều dài
lịch sử, gắn với cộng đồng dân tộc. Nói đến văn hóa dân gian là nói tới một
tổng thể bao gồm nhiều phương diện, như: văn hóa tâm linh, phong tục tập
quán, lễ hội, nghệ thuật, lối ứng xử, và đặc biệt là văn học dân gian. Ở những
mức độ đậm nhạt khác nhau, không một dân tộc nào lại không có văn hóa dân
gian của dân tộc mình. Và nó chính là ngọn nguồn, là nhân tố làm nên bản sắc
của một nền văn hóa dân tộc. Nói cách khác không một nền văn hóa, văn học
nào lại không bắt nguồn từ văn hóa dân gian.
Nhìn vào các nền văn học lớn ở Đông - Tây không khó để nhận ra mối
quan hệ mật thiết giữa văn hóa dân gian, mà rõ nhất là văn học dân gian và
văn học viết. Mối quan hệ đó được thể hiện một cách phong phú, đa dạng, mà
phổ biến nhất là các nhà văn khai thác đề tài, chất liệu từ văn hóa, văn học
dân gian. Kịch Hamlet của W. Secxpia; thơ R. Tagorre, tiểu thuyết Y.
Kawabata, tiểu thuyết Mạc Ngôn... đều là những hiện tượng như vậy. Nhờ đó,


14
sáng tác của họ vừa mang đậm bản sắc dân tộc vừa vươn tới tầm nhân loại,
trở thành di sản tinh thần chung của toàn nhân loại. Xin được lấy Thơ Dâng
(Gitanjali) của R. Tagore làm một ví dụ. Thơ Dâng là một tuyển tập gồm 103
phiên khúc, trong đó có 51 phiên khúc được viết cho Lễ hội mùa thu - một
lễ hội dân gian mang đậm màu sắc tôn giáo Ấn Độ. Năm 1913, với Thơ
Dâng, R. Tagorre trở thành người châu Á đầu tiên được trao tặng giải
Nobel văn học. Cảm hứng bao trùm tập thơ là ca ngợi cuộc sống trần thế và
những lạc thú mà cuộc đời trần thế mang lại. Tập thơ có sự kết hợp hài hoa,
nhuần nhuyễn giữa truyền thống văn hóa Ấn Độ với tinh hoa văn hóa
phương Tây mà thời đại phục hưng Ấn Độ mang lại. Theo cách nói của
Andre’ Gide - người đã dịch Thơ Dâng ra tiếng Pháp (1951), “Thật thú vị

Ao quan thả gửi bè rau muống,
Đất Bụt ương nhờ một rảnh mùng
(Thuật hứng - bài 23)
Nguyễn Khuyến có hứng thú tái hiện những cái dân giã, đời thường
như con trâu, ao chuôm, một cần trúc điểm nhẹ giữa trời thu xanh ngắt, cây đa
giếng nước, ngõ trúc, bờ dậu… Tất cả đều gần gũi, thân thương, gắn liền với
văn hóa làng quê bắc bộ. Không phải ngẫu nhiên người ta gọi ông là “nhà thơ
của làng cảnh”. Thơ ông, mà tiêu biểu là chùm thơ mùa thu (Thu ẩm, Thu
vinh, Thu điếu) đã tái hiện một cách sinh động bức tranh làng quê mùa thu. Ở
đó có cảnh sắc thiên nhiên, có con người và những phong tục, tập quán đẹp đẽ
của làng quê Bắc Bộ.
Có thể thấy, mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết là mối
quan hệ hai chiều. Nếu văn hóa dân gian là nguồn cội, đề tài bất tận cho văn
học viết, thì đến lượt nó, văn học viết lại góp phần bảo tồn, phát triển văn hóa
dân gian, làm cho văn hóa dân gian ngày càng thêm phong phú mới mẻ, gắn
bó với cuộc sống, con người thời đại.


16
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết Việt Nam
qua một số hiện tượng tiêu biểu
Có thể hiểu văn hóa dân gian là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên
bản sắc dân tộc, và tới lượt nó, bản sắc dân tộc góp phần tạo nên bản lĩnh dân
tộc, tức là sức sống và sự từng trải của dân tộc. Nhờ đó mà dân tộc có thể
vững vàng và trường tồn trước thử thách khắc nghiệt của lịch sử. Văn hóa dân
gian Việt Nam cũng vậy, nó được thể hiện trên nhiều phương diện, như ứng
xử của con người với môi trường tự nhiên theo hướng nặng về thích ứng và
hoa hợp hơn là chế ngự và biến đổi. Cách ứng xử này con thấy ở cách ăn,
mặc, ở, đi lại, quan hệ cộng đồng… Con biết bao những giá trị văn hóa khác
nữa. Nó quy định các hành vi, tình cảm, hoài vọng của con người. Không chỉ

Xấu tốt thì đều rắp khuôn
(Bảo kính cảnh giới - bài 21)
Từ câu tục ngữ “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” và thành ngữ
“Ngồi ăn núi lở”, Nguyễn Trãi viết:
Tay ai thì lại làm nuôi miệng
Làm biếng ngồi ăn lở núi non
(Bảo kính cảnh giới - bài 22)
Trong ca dao có nói:
Bể sâu còn có kẻ dò
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng
Con Nguyễn Trãi lại viết thành:
Dễ hay ruột bể sâu cạn,
Khôn biết lòng người ngắn hay dài
(Ngôn chí - bài 6)
Không chỉ kế thừa sự vận dụng tục ngữ, ca dao vào trong sáng tác của
mình mà Nguyễn Trãi con chịu ảnh hưởng về triết lý nhân sinh, răn dạy đạo


18
đức. Đây cũng là một nội dung xuất hiện khá nhiều trong sáng tác dân gian.
Những lời khuyên của Nguyễn Trãi được gửi gắm trong tập thơ Quốc âm thi
tập là những bài học có ích đối với muôn đời:
Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền
Cành bắc cành, nam một cội nên
(Bảo kính cảnh giới, bài 15)
Hoặc:
Chân tay đầu sứt bề khôn nối
Sống áo chăng còn mô để xin
(Bảo kính cảnh giới, bài 15)
Ngoài ra phải kể đến nữ sĩ Hồ Xuân Hương - một hiện tượng thơ tiêu

(Ca dao)
Hay là:
Em như tố nữ trong tranh
Anh như ngòi bút chấm cành hoa mai
Tiếc thay mắt phượng mày ngài
Hồng nhan thế vậy nỡ hoài tấm thân
(Ca dao)
Người phụ nữ trong thơ Xuân Hương thường được bà bày tỏ với hai
nỗi niềm, vừa thương cho thân phận người phụ nữ phận hẩm duyên ôi, vừa tự
hào về vẻ đẹp của họ. Đầu tiên là vẻ đẹp về mặt hình thể: Thiếu nữ ngủ ngày,
Tranh tố nữ, Bánh trôi nước… Sau đó là sự khẳng định vẻ đẹp phẩm chất tâm
hồn. Và cuối cùng là niềm khao khát bản năng, khao khát hạnh phúc lứa đôi
giống như ca dao: Đèo Ba Dội, Vịnh quạt, Thiếu nữ ngủ ngày…
Xét về phương diện quan điểm thẩm mĩ, nữ sĩ cũng chịu sự chi phối
của văn hóa dân gian rất nhiều. Cái đẹp trong văn hóa, văn học dân gian
được quan niệm là cái đẹp tự nhiên vốn được xuất hiện trong cuộc sống lao


20
động của người bình dân. Cái đẹp trong thơ Hồ Xuân Hương rất gần với
quan niệm này. Đối tượng thẩm mĩ của nhà thơ là người phụ nữ. Họ là hiện
thân cho vẻ đẹp trần thế. Những bài thơ của nữ sĩ Xuân Hương luôn có hình
ảnh của văn hóa tín ngưỡng phồn thực, của “mĩ học phồn thực” là một ví dụ.
[75, 35]. Bà đã đồng nhất vẻ đẹp của người phụ nữ với các hình tượng tự
nhiên vũ trụ: sông, núi, đèo, trăng…Song song với cái nhìn về vẻ đẹp thể
chất của người phụ nữ là khát khao hạnh phúc lứa đôi, là tình cảm vợ chồng
với nhu cầu ân ái.
Hồ Xuân Hương không chỉ tiếp thu quan điểm tẩm mỹ, tư tưởng tình
cảm trong văn hóa dân gian mà con tiếp thu phương thức biểu hiện trong văn
hóa văn học dân gian. Hình tượng trung tâm trong thơ bà là người phụ nữ. Bà

niềm hi vọng, niềm tin vào tương lai. Những kiếp sống ô nhục của các cô gái
sông Hương là một dẫn chứng điển hình. Hay Bà má Hậu Giang trước khi
chết vẫn thét vào đầu quân giặc “tao già không đủ sức cầm dao” vẫn con có
“con tao gan dạ anh hùng”. Hay giữa đống đổ nát, hoang tàn trước bom đạn
của kẻ thù, nhà thơ vẫn tin tưởng vào tương lai tất thắng của dân tộc: Giữa
thành phố trụi; Đói! Đói; …
Dấu ấn văn hóa dân gian ảnh hưởng sâu đậm nhất trong thơ Tố Hữu là
về mặt thể loại. Thơ Tố Hữu chiếm đại đa số là thể loại lục bát. Ông có tới
100 bài được viết bằng thể lục bát trên tổng số 286 bài thơ. Trong đó có 75
bài hoàn toàn được viết bằng thể lục bát, con 25 bài có đan xen với thể thơ
khác. Về phương thức biểu hiện, ngôn ngữ thơ của Tố Hữu đậm ngôn ngữ
hàng ngày. Vì vậy mỗi lần đọc thơ Tố Hữu rất dễ nhớ, dễ thuộc. Chính những
lời lẽ hết sức giản dị được thốt ra nên đã gieo vào long chúng ta những cảm
xúc khó quên. Cả giọng điệu nữa, cái âm điệu ngọt ngào tha thiết của xứ Huế
làm nên một nét riêng trong thơ ông. Kết hợp với điều đó Tố Hữu đã tiếp thu
được tinh hoa của ca dao, dân ca Việt Nam. Mỗi lần đọc thơ ông, ta cảm nhận


22
được cái âm hưởng ngọt ngào, êm dịu của ca dao truyền thống. Đọc bài Việt
Bắc chúng ta như được đọc một bài ca dao. Lối đối đáp xưng hô mình - ta
trong bài thơ là kiểu đối đáp của hát giao duyên. Từ cảnh chia ly, đến tâm sự
nhắn nhủ, hứa hẹn đều in rõ dấu vết ca dao. Nhờ học tập lối nói quen thuộc
của ca dao mà Tố Hữu đã biến vấn đề chính trị khô khan đó là cuộc chia tay
giữa cán bộ cách mạng với đồng bào Việt Bắc trở nên nồng ấm, trữ tình.
Cùng với Tố Hữu, Nguyễn Bính là nhà thơ đặc biệt thành công trong
việc tiếp thu văn hóa, văn học dân gian trong sáng tạo thơ ca. Ông là nhà thơ
gắn bó cuộc đời mình với làng quê nên không gian văn hóa trong thơ Nguyễn
Bính trước hết là không gian của cuộc sống làng quê với những phong tục, tập
quán, những sinh hoạt văn hóa gắn bó thiêng liêng với đời sống tâm linh của

xuân”, “Xuân tha hương”, “Xuân thương nhớ”, “Cô lái đò”, “Chân quê”…
ta đều bắt gặp ở đấy những câu thơ đong đầy nỗi nhớ đến nao long.
Ngay cả trong trường ca “Mặt đường khát vọng”, nhà thơ Nguyễn
Khoa Điềm đã viết những vần thơ đầy ý vị. Trường ca của ông đậm chất văn
hóa với bề dày của phong tục tập quán, những nét văn hóa của dân tộc ta:
Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…”
mẹ thường hay kể.
Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng…
Qua trường ca của Nguyễn Khoa Điềm, người ta tìm thấy phong tục tập
quán của người Việt xưa “tóc mẹ bới sau đầu”, truyền thống đánh giặc cứu


24
nước của người Việt Nam qua lời kể của truyện Thánh Gióng đánh đuổi giặc
Ân. Chúng ta con biết được mĩ tục văn hóa của người Việt đó là tục ăn trầu
gắn liền với sự tích dân gian lưu giữ bao đời - truyện Trầu cau. Ngay cả cái
cách đặt tên cho con cái của mình dựa vào các vật dụng cái kèo, cái cột. Và
cũng chỉ cần bằng một câu thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã khái quát được Việt
Nam là đất nước của nền văn minh lúa nước…Vậy nếu không được sống và
chịu ảnh hưởng từ cái nôi văn hóa dân gian Việt liệu Nguyễn Khoa Điềm có
được những câu thơ như thế hay không.
Từ việc điểm qua một số hiện tượng tiêu biểu trong văn học Việt Nam,
có thể thấy mối quan hệ giữa văn hóa, văn học dân gian với văn học viết là
hết sức sâu sắc. Những sáng tác văn chương trường tồn cùng thời gian, đi vào

gian, gắn bó với cuộc sống nhân dân đất nước đã trở thành một định hướng,
một phương châm sáng tạo, ý thức nghệ thuật của người nghệ sĩ cách mạng.
Ở đó, họ tìm thấy cảm hứng, ý nghĩa của thơ ca, của sáng tạo nghệ thuật. Từ
những nhà thơ tiền chiến như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tê Hanh...
đến những nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ như Hồng Nguyên, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Minh Huệ,
Trần Hữu Thung, Thu Bồn, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến
Duật, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ...
dưới dạng này hay dạng khác đều đã tìm về với ngọn nguồn văn hóa dân tộc.
Những Thánh Gióng, Thạch Sanh đánh giặc “sống hiên ngang mà nhân ái
chan hoa”, những người vợ chờ chồng hóa đá “vọng phu”, hay miếng trầu bà
ăn, cái kèo cái cột, hạt gạo, cũ khoai một nắng hai sương... đều đi vào thơ ca
như một dong mạch tự nhiên không bao giờ vơi cạn. Và đó là một phần sức
mạnh Việt Nam góp phần làm nên chiến thắng.
Chiến thắng 30/ 4/ 1975 đã kết thúc cuộc chiến tranh rong rã 30 năm
trời. Đất nước bước vào thời kỳ mới. Non sông đã thu về một mối. Cả nước


Trích đoạn Phẩm chất tinh thần và sở thích cá nhân Vốn văn hóa và sự trải nghiệm cuộc đời Giới thuyết khái niệm “Cái tôi trữ tình” Văn hóa dân gian trong cái tôi trữ tình triết lý Văn hóa dân gian trong cái tôi trữ tình trào lộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status