BỘ G IÁ O Dưc \ À Đ À O TẠ O
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÒI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHCA HỌC XÃ HỘI VA NHÂN VAN
* * *
PHẠM TUẤN KHUA
Ả N H H Ư Ớ N G c ú n V A N H o n D Â N G I R N
T R U V ÍN T H Ố N G Đ ố l V Ớ I T H Ơ T ố H Ữ U
LUẠN ÁN THẠC s ĩ KHOA HỌC VĂN HỌC
CHUYẾN NGÀNH VÃN \ ọc VIỆT NAM
MÃ SỔ: 5.0433
Nguài hướng dc.n lihoci hoc :
GS.PTS Lê Chí Ọ u ế
X . u ị í L -
HÀ NỘI 1998
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
('HƯƠNG I. Mốì QUAN HỆ GIỮA VĂN HOÁ DẰN GIAN
TRUYỀN TỈIỐNG VỚI SÁNG TÁC CỦA
NHÀ VẦN
I. Văn hoá dân gian truyền thống là gi ? 5
II. Nội hàm của ván hoá dân gian truyền thống
ĨM. Mối quan hệ giữa ván hoá dân gian Iruyền thống với sáng 22
tác của nha vàn
CHƯƠiNCỈ II. VÀN HOÁ DÂN GIAN XỨHUẾ VỚI THƠ TÔ HỮU.
ỉ. Xứ ỉ lue và những đặc Irưng văn hoá dân gian 31
II. Ảnh hương của văn hoá dân gian xứ Huế dối với thư 36
Tố Hữu
CHƯƠNG IU. VĂN HOÁ DẰN GIAN ĐổNG BANG và
TRUNG DU BAC BỘ VỚI THƠ Tổ HỮU
I. Những ciăc trưng cơ bản của văn boá dân gian đồng bằng 50
văn hoá díln lộc, cả văn liuá vật thể và văn hoá phi vẠt thố, Klũ cát lôn tiếng
lòng và được chia sẻ bơi hàng chục triệu cun tun, hiển nhiên những giá ln
văn lioá đỏ sẽ được lái hìẹn lại sau khi dã được lâm hồn ông thám Ihấu, và
tíU nhiên là được biểu đạt ra iheo cung cách rấl riêng biệt, vừa in dậm dấu
2
áb của v.ăn hoá đan gian, vừa chjyến tải được nhưng gì íhuỌc về phong cách
thơ của Tố Hữu.
Nliưng do khuôn khổ han chế của dề tài, những khảo sát này chu yêu
là tập trung ở các ảnh hương cỏ* văn hơá dân gian xứ Huê (bao gồm văn
hoá dAp gíaii lỉnh Thưa Thiên - Huế và các lỉnh phụ cận như Quảng Trị,
Quảng Bình) là quê hương của nhà lliư, và vùng đổng bàng, lnjng du, vung
núi Bắc Bụ, nơi mà ồng gắn bó cuộc đời của mình trong thời gian đài nhái
của cuộc đời hoai dỏng. Tấl nliiỏn, những ảnli lurởng văn hoá tkln gian cùa
cả nước, ở các vung khác ngoài hai vùng kể trCn vẫn được để cạp lới, nlurng
sẽ khổng phu là nỏi dung Irọng tílut.
3. V nghĩa của đề lòi.
Nlur dã trình bày ở pliíìn lý do lựa chọn đề tài, chúng lói thi ỐI nghĩ,
việc làm rõ được mối liên hệ giữa văn hoá díìn gian, văn hoá truyẻn lliống
sẽ góp phÀn lìm biểu gỉá trị của Ihư Tố Hữu không những Irong nliứng giai
đoạn lịch sử vừa qua, mà còn góp phán giải thích vẽ vị trí ihơ Tố Hữu Irong
lich sứ văn lìọc Việt Nam nói chung và lịch sử thơ ca cách mạng nói liêng.
Văn hoá dAn gian là mội trong những lĩnh vực thể hiện ban sắc của mộl dAn
lôc, và hi£n nhiên lâ bản sắc dỏ sẽ tổn tại lâu dài cùng vòi đời sòng của dfln
lỏc đó. Chắc cliắn rằng Ihư Tố Hữu sẽ là mộl phán lài sản tinh Ihần lâu dai
của dí\n tộc ta, bởi nó mang hơi thở và dấu ấn của mộl giai đoạn lịch sử đặc
biệt. VI mãt phương phức, với những dâu ấu văn hoá díìn gian Imng mình
và những giá uị tlổc đáo khác nữa, Ihơ của ông văn là phong cách bộc lộ
linh cíím và trối tim cíia nliAn díln In, vì nó rất đồng điện với quần chúng.
Và, nlur nhà thơ Cbế Lan Viên đã nói, Tố Hữu và thơ ông sẽ có mặl irong
đời sống Ihơ ca, dời sống tình cảm của người Viôt Nam õ Ihế kỷ XXI, trong
hạ" và "Tâp Ihơ Việt Bắc cua Tó Hữu" của xuân Diộu, "Một bông hoa tirưi
Ihắm nhíú của vườn thơ cách mạng" của Phan, Cự Đ£, 'Ra tiận, khúc ca
chiến đấu" của Há Minh Đức, "Hình ảnh Bác Hồ qua ihơ Tỗ Hữu" của Tế
Hanh, "Ngliệ thuật thơ của lập Ra trân" của Bui Công Hùng, "Phong VỊ ca
dao dfln ca trong thơ Tố Hừu" của Nguyẽn Phú Trọng, vârj van
Nhừng công Irình ấy đã có những thành lựu nghiên cứu về tinh dan
I6c Irong Ihư Tố Hữu, tức lã lĩnh vực mà phạm vi đồ cập cua dề tài này cũng
có liên quan. Nhưng rnỌt chuyên kliào về văn hoá dân gian với ihơ Tố Hữu
tin chưa lliấy xuất hiện. Chúng l!ổi muốn líề cập trực liếp đến lĩnh vực này
Irong đổ lài. Đó khổng phải là sự mở đầu mà là sự tiếp nối những hướng
nghiÊn cứu vể thơ Tố Hữu từ (rước đ£n nay : |Tư liệu 8, 9, 13, 15, 16, 17,
18, 22, 23 ], nhưng bằng lól cắl (góc nhìn) mà chúng tôi lựa chọn sau
nhiổư đắn đo, trăn Irứ.
5
CHƯƠNG I
MỐI ỌUflN Hê Glữn VỈÍN Hon DÔN GIAN THUVÍN t h ò n g
VỚI SÓNG TÁC cun NHÒ VfiN
I. VẢN HOÁ DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG LÀ GÌ ?
Người ta thường dùng thuật ngữ quốc íểT Polklore để chỉ văn lioá dân
gian Và văn hoá dan gian cua mỗi tôc người, mỗi cộng đồng người, rnỗi
quỏc gia phải được lưu giữ và tiếp nối sáng tao theo truyền thống cúa dân
tộc đó. Vi vậy đã xuất hiên cụm từ để ám chỉ nó : Văn hoá truyển thống.
£)£ hiểu thi chung văn hoá dân gian mang truyền (hống của dan tộc,
người ỉa cho nỏ mGI tổn gọi chung : VĂN HOÁ DÃN GIAN TRU YÊN THONG.
Khấỉ niộm Víin hoá dân gian Iruyền Ihống dược đặt Irong mối quan hộ với
văn lioá cận - hiên đại. Cụ thể. nó dung dể chỉ những sáng lạo của người
bình dan lừ thời ưung đại trơ về Irước.
Giáo sư Binh Gia Khánh dã đưa ra giới ihuyếl về thuật ngữ "văn hoá"
như sau : "Văn hoá là tiến trình Irong đó con người khùng ngừng phân dấu
nhằm mục đích cải lạo và khai Ihác lự nhiên ngày càng có hiệu (]uả hơn, và
L am vua phai biốl cho vừa lòng díìn.
Tliảnli quân cho dáng thanh quAn,
Tlìánli lỊuíìn phải biêl muôn dí\n nhọc nhằn
(Lời bát Xoan của vùng Hy Cương Phú Thọ)
Rõ làng day vừa là lời ngợi ca nhằm khuyên ihưrrng, vưa là ước vọng
của iriuỏn dan.
ỉ
Kíp k 111 nhà cầm quyổn làm trái ý dủn, (lu người ấy cố là bậc quăn
trirởng, vAn lạp tưc bị nhân dftn phản bác. Ví như để Ihổng nhíú cách mặc
trong cá nước, vua Minh Mệnh đà ban chiếu ."Cấm phụ nữ khùng được mạc
vảy". Trong dăn gian liền có ca vè :
"Tháng lám có chiếu vua ra.
Cấm quần không đáy người la hãy lùing.
Khổng di ibì chợ khổng đông,
Đi thì phai lội quàn chồng sao đang".
Văn lioá dân gian Iruy^n lliống không bao giờ bị dứt mạch. Ngay cả
thời Uiièn đai, nó vãn hiện diện. Ví như phong lr;\o Hợp lác hoá nỏng nghiệp
cua ta vào thời kỳ đáu, vẫn còn mang Irong nó lính íích cực. Vì vây cti đến
đí\u cĩmg Ihấy lời nói cửa miếng lioặc khảu hiệu nhan nhản : "Hợp tác xã là
nhà, xã viôn liì chú". Hoặc : "MAI người làm việc bằng hai" Nhưng khi nó
có đấu hiCu SÍI súl, các ông chủ nhiệm hợp tác xã là những ngư^i nắm giữ
tac khau cliM yếu vẻ kinh tế, lại là những người chiếm liữu VỘI diồt nhiòu
nliAÌ, thi lí)p tức XUÍÍI hiện ca vè núi vể điều đỏ. Đại loại :
'Mộl người làm việc bằng hai,
Đế cho ch Lĩ nhiệm mua dài mua xe".
Hoặc :
"Một người làm việc bằng ba
Đế cho chủ nhiệm xílv nhà xây san”.
Văn hoá dừn gian là vậy đỏ.
II. NỘI HÀM CỦA VÃN HUÁ DÂN GIAN TRUYỂN t h ố n g .
9
Con ngươi tinh thần.
Quan hệ giữa con người với tạr nhiên.
Quan hÊ giữa con người với xã hội.
Đỏ là điéu ma ta dễ nhận biết.
Còn nhr trong con người có thành lố tâm linh, cũng như mối quan hệ
của con ngưừi xã hôi lại có phần quan hệ tám linh,, lả điều mà từ xa xưa con
người chi cảm thày chứ khó nhận thấy. Và cang không thé chứng minh dược
hằng khoa học thực nghiệm. Vì vậy, những người theo trường phái duy vật
vô thần hoặc khoa hoc thực chứng, không thừa nhận phần tâm linh trong
mỗi con người, hoặc mối quan hệ tâm linh trong quan hệ xã hội. Tuy nhiên,
nó vẫn tồn tại ngoài ý muốn cua các nhà duy vậi máy móc.
Có điéu khi nhận thúc của nhân loại chưa tới, lại đem phần chu quan
ra áp đặt, khiên lư duy con người trơ nên hẫng hụt. ngay cả những điều mà
giới tự nhien phá! hiện, ví như nhân cơ hội nhìn thấy quít táo lìa canh rung
xuống đâi, nhà bác học Newton phai minh ra định luậl "Vạn vậi háp dản".
Sự thật, trước và sau khi định luật "Vạn vật hấp dẫn” ra đời, thì quả láo vẳn
cứ rơi xuổng đâi chứ có gì mới đâu. Cái mới khỏng phải với ÍJJ nhiên ma nó
mới với nhàn loại. Vì chỉ tới Newton, nhân loại mới nhận thức đươc qui luậl
này.
Cung như khi loài người phát minh ra không gian ba chiều, tức là
phái minh ra chiểu xuyên tâm thì nhan loại mới tạo được các khối nổi. Từ
đo mờ đưv.m£ cho khoa học không gian phãl ĩriên.
Con người cũng vậy, nếu nó chỉ hợp thanh bởi hai phần : vật chất và
tình ihán, <tựa như trong hình học phàng. Nghĩa là chỉ có hai trục tung \a
hoùiih. nó cho hệ qua Là mặi phang bẹt. Khi ta thưa nhan con ngươi boún
chỉnh hựp thành bơi ba thành tố : vậl chất, tinh thần, tám linh. Th’ tám linh
chính là Iruc xuvên tâm. làm cho con npười hộc ]ô hét ihảv nhữnc ưu việi
10
mà nó có, tưa như không gian ba chiẽu vậy.
như việc phe giáp rở rỏi ăn uống. Việc khao vọng. Việc làm ma lo cỗ lớn đã
là mội trở ngai, một đau fetrổ cho người nghèo từ írươc 1945. mà các nhà
phong hoá không tiếc lời lên án. Thiên phóng sự "Việc làng của Ngô Tât
Tố chính là qua bom phone hoá tiến cống vào hủ tuc.
Bởi vậy cộng đổng luôn tìm cách cải hoá phong tục. Tức là đưa thêm
phán tích cực của nếp sông đương đại vào phong tục, loại bỏ bớt phần
khồng phù hợp, phần lạc hậu cua thời xa xưa, nhung vản giữ lấy cốt cách
thuần Việt. Các việc làm ấy gọi la di phong dịch rục.
Xét trong xã hội la ngày nay đủ rõ. Ví như trước 1945, nhà có ngươi
chết, là mối lo khôn cùng cho người còn sống. Lo xong đám tang ma. nhiẻu
gia đỉnh khánh kiệĩ, tan nát, con cái lưu tán, phiêu bạt đi kiếm sống, thám
chí phải ăn mày, ãn xin.
Ngà> nay việc tang rất nhẹ nhang. Nhái là các vùng nống thôn đều do
Hội hiếu, Hội bao thọ hoặc Hội người cao tuổi dưng ra lo liệu. Hiếu chủ
ngoài cỗ áo quan, chè nước ra tuyệt nhiên khôn<z phải chi phí gì cho làng xã.
chức dịch. Đó chàng phai là việc cải hoá phong tuc và di phong dịch lục
sao.
Lại nhu thờ cúng lổ tiên cũng là mội phong tục lớn. khổny ai dám vi
phạm Nỏ irơ thanh một tập lục truyền thừa lừ gia đinh, làng xã tơi quốc gia.
Gia đình họ tộc thơ 6n£ bà, lổ tiên dòng họ nhi. minh. Làng xã thờ
Thanh hoàng là người có công với làng, đỏi khi với cá nước. Nước thờ
Quốc lô Hùng Vương và các đanh nhan vốn hoá. danh tương có cóng đánh
giặc giữ nước như Lý Thưỏng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An. Nguyẻn
'trãi, v.v
Cố người cho thờ củng lô riôn ở nước ta là môi tin ngưỡng. Thật ra nó
chỉ là một phong tục mang lính đạo ]ý.
Trên đáy chỉ là vài ví dụ về văn hoá phong tục nằm trong khu hệ của
văn hoá dán gian Iruyền ihống. Thực ra phong luc tập quán ở nước ta la cả
IĨ1Ù1 kho tàng vô cùng phong pnú.
2. Vùn hoá điẻn xướng.
Có thê nói mà khỏng sợ mắc sai lầm, rằng chi cần xem cách chế biến
món ăn, cách innh bày món ăn, hương và vi của các m ón ăn, mầu sắc của
các món ăn cùng các chất gia vị như chua, cay, ngọt Và lại được xem
chính Iigười dàn của xứ sở đó ăn, íhứi ta có thể đoán định được trình độ vár.
minh, mức độ giầu nghèo và cả tính cách của người dân xứ đó.
Vãn hoá ẩm thực là vậy. Bởi nếu chỉ hoàn toàn là chất dinh dưỡng thì
đó chưa phải là văn hoá.
4. Văn hoá vật chất.
Vãn hoá vật chất thật vô cùng phong phú. Thư hỏi có loại vật phẩm
nao được ra đời lại khổng phai là sản phẩm của chính con người Nhưng vật
phẩm đó muốn trơ thanh vật phàm vãn hoá phai được con người tạo ra trén
các nấc thang nghệ thuật
Ví như mội hòn đất thi chưa nói lên điều gì. Nhưng h'jn đất ấy qua
tav nghệ nhân, nó trở thành con nghÊ mứa. con rỏng bay, con su tu canh
đền thỉ đo lại là tác phẩm nghệ thuật. Cùng như thế. con người tạo ra biết
14
bao tác phủm từ ngòi miếu cổ ven đường, chiếc binh vãi. cái bai hương, lãn
lóc ben gốc câv cổ thụ nơi hoang vắng đến các bức tượng gỗ. lượng đổng
với trinh độ nghệ thuật bậc thày, vừa trầm sáu. vừa hoành tráng, như tuợng
La Hán chua Tây Phương, tirựng Huyền Thiòn trấn vũ nơi đền Quán Thánh,
rồi các đồ nhạc khí, dồ tế tự, các bức khắc, trạm, kham và các công trinh
kiến trúc còn lưu dấu tới muôn đời. mà sao không tìm ra tuổi tốn Uc giả. Họ
chỉ có một cái tôn chung : Dán gian. Nhữrm vãn hoa vật chất đó được các
tác giả dán gian sáng tạo ra. với các cung bậc nghệ thuạl khac nhau, nhưng
đều giống nhau ỏ một điểm : tất thảy đều lung linh Hồn Việt.
5. Ván hoá tám linh.
Đã có biết hao người ngộ nhận, biết bao người nhầm lẫn rằng tốn
giáo và lãm linh chỉ là một. Sự thật đó là hai lĩnh vực khu biệt, nhưng có
quan hệ mật thiết với nhau.
Tôn giáo phai dựa vào tâm linh để phát sáng. Bơi bản thán lồn giáo
như vậy, tôn giáo rõ ràng chỉ là phương tiện cho nhân loại cán bằng sinh
thái về mặt tinh thàn.
Tâm linh là vậy đó. Nó thuổc khu hệ vô ihức, khônẹ thê chứng minh
nó bằng hữu thức ihực chúng được. Và khi chưa với tới nó được thì chớ có
bac bo nó mội cách quá tàn bạo, như Giáo hội Thiên chúa giáo bác bỏ học
thuyêt cua G. Bruno. cua Copemic. Mặc du vậy, "Trái đất vẫn cứ quay"
Và rổí Giao hòi nhận lĩnh mổl vếl nhơ khó xoá.
6. Văn hoa iniỊỊ xử.
Úng xư là thuộc rinh cua nhân loại. Nhưng ứng XII mốt cách có văn
hoá ihỉ không phai li cũng làm được và dán tổc nao cũng làm được.
16
Trong quan hệ ứng xử không chi la ứng xư xã hội giữa con người với
con người, mà còn là mối quan hệ ứng xư giữa con ngưni với Lự nhiên, con
người với vạn vật.
Người Viột Nam vốn có lối ứng xử mám mại, nhãn ái, khoan hoà.
Trườc hếr, với thiên nhiên, từ xa xưa ÍI đế lại hang chứng. Nhưng lịch sư từ
non mỏt ngan năm đã thây ghi từ đầu đời Lý, nhà vua đã có lệnh : "Mùa
xuân là tiết trống cây. Cấm mọi người khổng đưực hai mảng, không được
chặt cây non' [55-192]. Và tiếp nối lòng yêu thiên nhiên cây cỏ của các bậc
tiền nhân. NguyẻD Trãi cũng dãi lòng trong thơ :
"Rừne váng chmi về ngại phát cây".
Nôn nhớ, thời Nguyễn Trãi, thời Lý Cõng uẩn cách đây :ừ hơn 500
năm tới ngót ngàn năm, trên 90% diện tích đất đai nước ta lúc ấy là rùng
già, rừng nguvên sinh mà người xưa đã có ý thức bảo vệ cây, bảo vệ nmo
như thế. Chứng tỏ tổ tiên ta đã ứng xử rất hài hoà vòi tự nhiên.
Còn mối quan hệ ứng XII giữa người với người cũng rất có kỷ cương,
tình nghĩa :
Trong nhà thì :
"Một lòng thư mẹ kính cha,
Cho tròn chừ hiếu mới là đạo con’
tràu bò. mèo cho
7. Van hoa trong tín ngưởng.
Tin ngưỡng cua dân tộc ta từ xa xưa cũng giống như các dán tộc khác
irong ĩhũỏ' binh minh cua Iihán toại là : "Vạn vậl hữu linh . Cho nồn, cái <M
*CL Qvcc G h !-jò:
:dlh: tãv TrtOíG ỉiN.TíiƯVÍẺN
4, T r 1 /1 9 ỉm
cũng thờ tữ thần núi, thần sông, thần cáy, thần đất Đói khi ỉhờ ca cho.
cợp, rán, I >rjg, v.v Hiện tượng này ngày nay ta còn tháy ơ các dán tộc Í1
ngưòi, đặc biệl la các đồng bao vùng cao nguyên miền Trung nước ta. Hệ
thần Kntt của họ lả đa dạng và phức tạp. Cao nhất là Trời, thấp nhất lá cẩm
thú, cỏ cây
Người Việt Kinh, íừ rấl lủu quan niệm đa Ihầĩi giáo Jã lùi vào dĩ vãng.
Nhưng di ảnh đó còn sót lại trong tín ngưỡna dán gian, lớn rthất là tín
ngưỡng thờ Mẫu. Có người đã nãng tin ngưỡng này lên hàng tôn giáo, tức
Đạo Mẫu
Theo quan điểm phân loai tôn giáo cổ điển thì muốn trở thành một
lông giáo phai hội du các điều kiên sau :
- Phải có giáo lý (lức là học thuyết triết học).
- Phải có giáo chú (người sáng lập).
- Phai cỏ giáo hội (tổ chức truyền giáo).
- Phải có giáo đoàn (tức có tín đồ).
- Phai có giáo luật (những điều ràng buộc).
Nhưng theo quan điểm phân loại mới nhâì chí cần hai điểu kiện :
- Thần tinh được tôn thờ.
- Qui mố im đồ.
Vì vậy nhiều ngpời đ;.nh xếp tín ngưỡng Mẫu cũng là mộl tôn giáo.
Mau la những thán linh nào, có lẽ ta không cần khảo sát. mà chỉ cân
biết tính chấl dản gian của nó. Tín ngưỡng này có rất lâu đời. Và từ nó sản
sinh ra các hinh thai sinh hoại được nhán dán vêu thích. Ví như việc hầu
tiiuật lổng vào nhau trên hộ ihống hoành phi. câu đối. Trong ngày hội cỏn
điẽn ra biết bao Irò diễn, Irò chơi.
Trò diõn như chèo, Cuồng, hái dán ca. Lời ca ijếm> nhac. nhấi là riíng
20
trống chèo ngày hội, nuôi dưỡng hồn ta tư thuở ầu ơ đến khi từ giã cuỏc đời
Và nữa, Hỏi có sức qui tụ quan chúng vô cùng rỉrag lớn từ mòt lang, mỏt
vùng, đến qui mô cá nước. Và Hội, không hề phân biệt gia: cáp, tỏn giáo,
chính kiến, Hội là nơi thư giãn tinh thần, nơi giải toả tầm linh, nơi cho quần
chúng mặc sức hưởng thụ và sáng tạo. B<*1 chi có Hội quần chúng mới đỏng
vai chú thế sáng tạo. Họ vừa la ngưò.1 xern ở trò này, vừa là người điẽn ư trò
khác. Hội lưu giữ trong long người những tinh hoa văn hoá dân gian truyén
thống nhièu hơn bất cứ nhà bảo lang nào.
8. Văn hoá thơm mỹ.
Nói đến van hoá tham mỹ là nói tới quan niệm về cái đẹp của người
bình dân. Trong cán đẹp lại phàn rs nhiều loại, nhiều cấp. Tuy nhiên cái đẹp,
tức là trong phạm trù văn hoá thẩm mỹ của người bình dân, thường gần gũi
với đời sống cua chính họ. Do sự mộc mạc giàu chất sống ấy, mà họ đạĩ tới
sự hoan thiện.
Nói về cái đẹp trong dức h£JLb của con người, họ khẳng định :
"Cái nêi đánh chốt cái đẹp".
Tục ngữ
Họ bóc trản sự màu mè gia dối, và vì thế họ quí cái thực chất hơn là
sự hoa mĩ. Bởi vậy họ nói :
"Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nẽt còn hơn đẹp người"
Tục ngữ
Vì vậy họ chổ nhừng người có nhan sắc hoặc có áo quần sang trọng, nhưng
lại khong đẹp về Lủm hồn :"Đẹp Xẹp mắt". (Tục ngữ)
Họ cho sự thật Ihà, ngay thảng là nét đẹp của đạo đức, của tám hổn.
Bởi thế, ngay cả trong lĩnh vực trao đổi. bán buôn, họ thường rân :
đầy đủ trong mọi mặt cua đời sống phan ánh qua ca dao. tuc ngữ, truyện
dãn gian. Quan điôm đỏ đã ăn sâu bén rỗ trong đời sống thông qua phong
lục, tập quán, được truyổn thừa lù đời này qua đời khác. Và củng nhu phong
tục, láp quán, nó luôn được bổ sung những néi đẹp mới của xã hội đưong
đụi, đồng thời nó cũng loại bỏ nhưng gì không còn ihích dụng nữa.
Vì vậy vãn hoá thẩm mĩ dân gian là nél đẹp truyền thông, là vốn quí
trong kho làng văn hoá dán tộc khong những cán được hao lỏn, mà cần phải
m ở rỏng DO trong đời sồng nhán dán.
Những hiểu hiện tồn tai các dạng thức văn hoá dân gian Irên đáy
dược giáo sư Đinh Gia Khánh qui tụ lại trong ba loại hình thuộc các thành
tố chủ yếu của văn hoá dan gian (íolklore) :
Nghệ rhuật lạo hình dân gian
- Nghệ Ihuật biểu diẽn dán gian
- Nghệ thuật ngữ vãn dân gian" [28 - 262].
Còn các nhà văn hoá học khác thì ứiu gọn hơn thành hai loại hình :
Văn hoá vật chất (vật thô. hữu thể), và Văn hoá tinh thần (phi vật thế. vô
thể).
in. MỐI QUAN HỆ GIỮA VÃN HOÁ DÁN GIAN TRUYỀN THONG
VỚI SÁNG TAC CL A NH A VÃN.
Đối lượng miêu ta của nhà vãn là cơn người. Con người có hai phần.
Phán cuộc dời đang sống với những giá trị do chính nó lạo ra. Phần kia là
cac giá trị dược kếl linh tù quá khứ. ngoài các g:á tri khác, phải kê đến kho
tàng vãn hoá dân gian truyền thống vô cũng phong phú, như các phần dẫn
luận trên đã để cập.
Pha) nói, con người, nhất là những người có năng khiếu n^hệ thual
bam sinh như văn chương, thi phú. lại được nuôi dưỡng hởi suổi nguâo vó
22
23
lận là văn hoá dân gian truyền thống, thi đó là nguỏn cam hứng bao la cho
các sáng tác phám của ho.