1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA XỨ NGHỆ
TRONG THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA XỨ NGHỆ
TRONG THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN VĂN HẠNH
1.1. Quê hương xứ Nghệ
1.2. Vài nét về cuộc đời Minh Huệ và Trần Hữu Thung
1.3. Quan điểm nghệ thuật và quá trình sáng tạo
CHƯƠNG 2. DẤU ẤN VĂN HÓA XỨ NGHỆ-ĐIỂM GẶP GỠ, TƯƠNG
9
20
26
41
ĐỒNG GIỮA THƠ MINH HUỆ VÀ THƠ TRẦN HỮU THUNG
2.1. Cốt cách, tâm hồn xứ Nghệ trong cái tôi trữ tình Minh Huệ
và Trần Hữu Thung
2.2. Tình yêu quê hương xứ Nghệ - dòng mạch chủ đạo trong
Cảm hứng sáng tạo của Minh Huệ và Trần Hữu Thung
2.3. Ảnh hưởng phương thức trữ tình của thơ ca dân gian xứ Nghệ
trong thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung
CHƯƠNG 3. DẤU ẤN SÁNG TẠO CỦA MINH HUỆ VÀ TRẦN HỮU THUNG
41
58
76
78
98
TRONG VIỆC TIẾP THU DI SẢN VĂN HÓA TINH THẦN XỨ NGHỆ
3.1. Tình cảm làng quê - tiếng nói trữ tình nổi bật
xứ Nghệ trong thơ Trần Hữu Thung và thơ Minh Huệ làm đề tài luận văn
Thạc sĩ. Ý nghĩa của đề tài không chỉ để khám phá những đặc sắc trong thế
giới nghệ thuật thơ Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung mà còn gợi mở nhiều
vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và con đường hình
thành một phong cách thơ.
2. Lịch sử vấn đề
Kể từ khi hai bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung và Đêm nay Bác
không ngủ của Minh Huệ ra đời và được trao tặng nhiều giải thưởng ở trong
và ngoài nước, cuộc đời và sáng tác văn học của hai ông đã thu hút sự chú ý,
quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và đông đảo bạn đọc. Ảnh hưởng của
văn hóa xứ Nghệ đã được nhìn nhận như một dấu ấn nổi bật làm nên phong
cách thơ của Trần Hữu Thung và Minh Huệ. Tuy nhiên, hầu hết mới dừng lại
2
ở những bài báo nhỏ, lẻ đăng trên các báo, tạp chí bàn về một phương diện
trong tư tưởng và sáng tác của hai ông.
Trong nguồn tư liệu chúng tôi bao quát được và trong phạm vi quan
tâm của đề tài, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát một
cách toàn diện, hệ thống những ảnh hưởng của văn hóa xứ Nghệ trong thơ
Trần Hữu Thung và thơ Minh Huệ.
Bài thơ Đêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ ra đời năm 1951 đã để
lại một ấn tượng mạnh mẽ trong lòng độc giả, thu hút sự chú ý của giới phê
bình văn học một thời. Từ đó, xuất hiện nhiều bài viết về cuộc đời và sáng tác
Minh Huệ trên báo, tạp chí của tỉnh nhà và của Trung ương. Báo Nhân dân
cuối tuần (13/04/2003) Nguyễn Sĩ Đại có bài viết Minh Huệ - Một giá trị
riêng trong văn học. Ở bài viết này, Nguyễn Sĩ Đại đưa đến một cái nhìn khái
quát về những đóng góp của Minh Huệ cho nền văn học cách mạng. Ông viết:
Có lẽ không cần bất cứ đánh giá nào về nhà thơ Minh Huệ. Cả cuộc đời ông
sống và viết chỉ vì cách mạng. Tấm huy hiệu 50 tuổi Đảng lấp lánh bên
chứng minh cho điều đó. Với ông, viết về Bác là cả một hành trình không biết
mệt mỏi: Bây giờ và mãi mãi sau này tôi vẫn tiếp tục viết về Bác, cho tới khi
nhắm mắt xuôi tay, vì trong tôi, viết về Bác, bao nhiêu đều không đủ. Trong
bài Vĩnh biệt nhà thơ Minh Huệ, Nguyễn Quốc Anh, đã ghi lại những kỉ niệm
sâu sắc giữa gia đình ông và gia đình Minh Huệ. Ông cảm kích con người
sống rất tình cảm này. Ông viết: Nguyên tắc sống của vị nhà thơ xứ Nghệ là
không lợi dụng ai cả. Mọi kỉ niệm là quý hơn vàng. Coi trọng nghĩa tình, phải
chăng cũng là một đặc điểm trong trong ứng xử văn hóa của con người xứ
Nghê, đã thấm một cách tự nhiên vào tình cảm, nghĩ suy, lối ứng xử đời
thường của Minh Huệ.
Sinh thời, Minh Huệ cũng đã từng suy ngẫm về thơ của mình qua một
số bài báo. Trên tờ Hạ Long – Hội văn nghệ Quảng Ninh (5/1994) ông tâm
4
sự Đôi điều về bài Đêm nay Bác không ngủ; bài Trong sức sống Nhân dân
(tạp chí Xuất bản - 12/1996). Những bài viết ấy thể hiện tâm huyết của một
nhà thơ đối với cách mạng, với dân, với nước và vị lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí
Minh.
Trần Hữu Thung cũng đã thu hút sự chú ý của đông đảo bạn đọc và
giới nghiên cứu, phê bình văn học khi bài thơ Thăm lúa ra đời. Sau này có
hàng loạt bài bình luận nối tiếp. Bài viết của Ninh Viết Giao đã đề cập đến
con người, sự nghiệp sáng tác và mảng sưu tầm nghiên cứu văn học, văn hóa
dân gian Trần Hữu Thung. Đức Ban viết bài Văn hóa làng qua kí ức đồng
chiêm. Cao Thế Lữ với Mấy mẩu chuyện về nhà thơ Trần Hữu Thung, nhạc sĩ
Ánh Dương đến với Trần Hữu Thung ở khía cạnh âm nhạc qua bài Anh vẫn
hành quân. Tác giả Chu Trọng Huyến tìm về Tính dân dã trong thơ Trần
Hữu Thung. Thái Doãn Chất đưa ra nhận định "Trần Hữu Thung gần gũi với
thơ ca dân gian"…Tất cả những bài viết ấy ít nhiều đã đề cập đến ảnh hưởng
của văn hóa xứ Nghệ trong thơ Trần Hữu Thung. Bên cạnh những báo cáo,
biết của Thung về thơ, đào sâu trong ca dao, trong thơ cổ điển kiêm thêm
một sự chí thú nhà nghề làm đi làm lại…Cái định đoạt cho thơ Thung
không phải là Thủ đô, là tờ báo, là Ban giám khảo hay các giải thưởng mà
đó là trang giấy trắng, mực đen mà Thung cặm cụi đặt bài thơ của mình
lên chữa đi, chữa lại, là quần chúng tán thưởng thơ Thung. Con đường thơ
là con đường chân thật, ở trong ruột rút ra. Theo mình, trong lớp thi sĩ mới
sau cách mạng tháng tám, Thung đã có chỗ hẳn hoi, duy nhất. Nên luôn cố
gắng, chân tâm làm thi sĩ, Thung sẽ cống hiến được một cái gì đó cho thơ
Việt Nam”. Cùng trường nhìn ấy, Võ Văn Trực, ở bài viết Thi sĩ của miền
quê khói lửa in trong tuyển tập Trần Hữu Thung, nhà xuất bản văn học, Hà
Nội, 1997, đã nói tới cái khắc nghiệt của thiên nhiên xứ Nghệ, mà theo ông
là đã hằn sâu trong dáng dấp con người, lối ứng xử và thơ Trần Hữu
6
Thung. Ông viết: "Nắng dữ dội, nắng khét da người và da đất, cái nóng
như đông đặc lại đến nghẹt thở. Gió Nam ròng thổi suốt đêm ngày, đồn
điền, núi đồi như được rang cong lên, chạm lửa là cháy tràn ". Nhà thơ Huy
Phương trong bài Con người ấy – Nhà thơ ấy in trong Tuyển tập Trần Hữu
Thung, Nhà xuất bản Nghệ An, 1996, lại cho rằng: "Trần Hữu Thung sinh
ra và lớn lên ở nông thôn, sớm bắt rễ với chính quê hương mình bằng cái
thiên bẩm của một tâm hồn giàu cảm xúc, anh từ cái nôi ấy mà đi thẳng
vào thơ, vào văn học, cất lên một tiếng nói tự nó đã là tiếng nói của quần
chúng và đời sống". Là người em, người viết phê bình văn học, Trần Hữu
Dinh, khi viết về anh trai mình, trong bài Trần Hữu Thung – con người ấy,
đời thơ ấy đã khẳng định: "Trần Hữu Thung đưa cả quê hương, cả con
người anh vào trong thơ, trong văn. Anh lầm lụi, cần mẫn cày xới trên
cánh đồng thơ của mình". Quả thật vậy, tâm hồn dân giã, phong vị quê
hương, tinh chất xứ Nghệ, trong thơ ông không phải chỉ ở hình thức mà
thực sự trở thành máu thịt trong cách nghĩ, cách cảm, trong lối diễn đạt.
4.2. Phạm vi tư liệu khảo sát của đề tài là thơ Minh Huệ và thơ Trần
Hữu Thung, gồm các tập sau:
- Trần Hữu Thung, Tuyển tập (Tập 1- thơ), Nhà xuất bản Nghệ An,
1996.
- Trần Hữu Thung, Sen Quê Bác, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hội
Nhà văn Việt Nam,1987.
- Trần Hữu Thung, Đất quê mình, Nhà xuất bản Hội Văn nghệ Nghệ
An, 1971.
- Trần Hữu Thung, Gió Nam, Nhà xuất bản Văn học, 1962.
- Minh Huệ, Tuyển tập, Nhà xuất bản Nghệ An, 2003.
- Minh Huệ, Đêm nay Bác không ngủ, Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh.
- Minh Huệ, Thơ với tuổi thơ, Nhà xuất bản Kim Đồng.
8
- Minh Huệ, Cõi Sen, Nhà xuất bản Nghệ An.
- Minh Huệ, Đất chiến hào, nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1970.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở cho những ảnh hưởng của văn hóa xứ Nghệ trong thơ
Minh Huệ và thơ Trần Hữu Thung
Chương 2. Dấu ấn văn hóa xứ Nghệ - điểm gặp gỡ, tương đồng giữa
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
( Ca dao)
10
Lịch sử vùng miền và danh xưng Nghệ An đã có từ xa xưa. Tên gọi
Nghệ An có từ năm Thiện Thành thứ 3 đời Lý Thái Tông năm(1030) thay cho
tên Hoan Châu ( tức Nghệ An và Hà Tĩnh) đã có từ mấy trăm năm về trước
(năm 627). Năm 1831, thời vua Minh Mệnh, xứ Nghệ bị tách thành hai tỉnh
Nghệ An và Hà Tĩnh. Năm 1976, hai tỉnh lại hợp thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh.
Năm 1991, tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay. Nghệ An là tỉnh
có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp tỉnh
Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp Lào, phía đông giáp
biển Đông. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ
đô Hà nội 291 km về phía Nam. Địa hình Nghệ An gồm có núi, đồi, thung
lũng. Độ dốc thoải dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Tỉnh Nghệ An nằm ở
Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các
hệ thống đồi núi, sông suối. Hệ thống đồi núi, sông ngòi dày đặc, có bờ biển
dài 82 km. Khí hậu Nghệ Tĩnh vô cùng khắc nghiệt “Nghệ Tĩnh đất đai rộng
lớn có đủ các vùng kinh tế: miền núi, miền trung du, miền đồng bằng, miền
biển; với nhiều nông sản, lâm sản, hải sản, khoáng sản có giá trị hàng hóa
cao, song điều kiện tự nhiên khá phức tạp. Xưa kia các nhà viết phong thổ kí
đều nhận xét rằng, đất đai xứ Nghệ không được tạo vật cưu đương. Nhiều nơi
chưa nắng đã hạn, chưa mưa đã úng thủy. Đã thế, hè đến nắng như thiêu như
đốt và gió mùa tây nam thổi cồn cột, nghe rát ruột rát gan làm nứt đất nẻ
đồng, khô héo tất cả. Rồi thu sang, mưa lũ kéo dài, lụt bão theo nhau hành
hạ. Và đông về, heo rét hàng tháng, những đợt gió mùa đông bắc tràn về
thường mang theo mưa dầm, gây khá nhiều khó khăn cho vụ sản xuất đông
xuân.” [ 19, 20]. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động
Sa Nam trên chợ dưới đò
Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh
(Ca dao)
12
Năm 1285, vua Trần Nhân Tông đã dựa vào nguồn lực hùng hậu của
vùng đất này để trừ họa xâm lăng của quân Nguyên Mông. Năm 1424, trong
cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi tiến quân vào Nghệ
An lập đại bản doanh ở đây bốn năm. Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã
từng chiêu mộ 5 vạn quân sĩ của Nghệ An góp sức cho đội quân của ông thêm
hùng mạnh đánh đuổi 29 vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi nước ta. Nhân dân xứ
Nghệ không ngớt lời ngợi ca vị anh hùng “áo vải cờ đào” trong một thời gian
ngắn đánh thắng oanh liệt quân Thanh:
Long lanh đá tạc bia vàng.
Rồng chầu phượng múa ngai vàng Quang Trung.
(ca dao)
Dưới ngọn cờ của tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn và phó bảng Lê Doãn Nhạ,
Nhân dân Nghệ An đã dấy lên một phong trào kháng Pháp mạnh mẽ, đứng
hàng đầu trong cả nước. Quê hương Nghệ An chính là nơi ghi dấu ấn đầu tiên
của truyền thống đấu tranh cách mạng vô sản ở Việt Nam với cao trào Xô
Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, mở đầu cho phong trào cách mạng vô sản trong
cả nước. Đầu thế kỉ XX xuất hiện Phan Bội Châu, một con người có ý thức
trách nhiệm cao trước vận mệnh đất nước đã bôn ba hải ngoại, với khát vọng
tiếp thu cái hay, cái mới đưa nhân dân ta thoát khỏi vòng nô lệ. Và đặc biệt
Nghệ An chính là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của
dân tộc việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hóa thế giới và
anh hùng giải phóng dân tộc. Người dân xứ Nghệ quyết tâm đấu tranh, không
hạ vũ khí khi kẻ thù đang còn dày xéo Tổ quốc, họ thề với quê hương, đất
nước, thề với lương tâm:
Thiên nhiên khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, đất đai khi úng ngập, lúc
khô cằn, trời chẳng chiều lòng đã đẩy người dân xứ Nghệ từ bao đời nay vào
cảnh cực khổ, lầm than.
14
Sấm cũng ở trên nguồn,
Chớp cũng ở trên nguồn.
Không mưa dông đôi ba trộ(trận) để giải buồn nhà nông.
(Ca dao)
Trần Hữu Thung cũng đã có những dòng thơ ghi lại ấn tượng sâu sắc
về quê hương xứ Nghệ “chảo lửa túi mưa”:
Từ mái đồi khô như một lá sen khô
Gió lào thổi bốn bề xào xạc
Từ lối rộc tựa chảo đầy nước bạc
Chiều thu hun hút cánh cò chao
(Đổi cái nhìn – Trần Hữu Thung)
Trước cuộc sống khó khăn, khắc nghiệt, người nông dân xứ Nghệ đã tự
nhủ phải chăm chỉ, cần cù trong lao động: "Muốn no thì phải chăm làm/ Một
hột thóc vàng, chín giọt mồ hôi" (Ca dao).
Người xứ Nghệ làm lụng chăm
chỉ “đầu tắt mặt tối” đói không kịp ăn, khát không kịp uống nhưng cái nghèo vẫn
đeo bám bên mình: "Gánh cực mà đổ lên non/ Cong lưng mà chạy cực còn chạy
theo" (Ca dao).
Cảnh đói ăn, thiếu thốn quanh năm dày vò người dân nơi
đây: "Trời sinh cái cực làm chi/ Bán thì không được, cho thì không ai xin" (Ca
bằng những nổ lực của bản thân. Họ vẫn lạc quan tin tưởng vào tương lai
cuộc sống: "Sông kia lúc lở lúc bồi/ Con người khổ mãi thì rồi có vinh" (Ca
dao). Bằng sự nổ lực của bản thân giành giật lại với thiên nhiên, con người xứ
Nghệ cũng tạo dựng cho quê hương mình có nhiều nơi rất trù phú:
Đức Thọ gạo trắng nước trong
Ai về Đức Thọ thong dong con người
Tiếng đồn cá mát sông Giăng
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Chùa
(Ca dao)
16
Địa lí địa hình phức tạp, thiên nhiên khắc nghiệt, đời sống của nhân dân
Nghệ Tĩnh trải qua bao khó khăn, cực khổ nhưng xứ Nghệ là một vùng văn
hóa giàu bản sắc. Người xứ Nghệ vẫn giữ vững khí tiết của mình. Họ là
những con người có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống, thường xuyên vật
lộn với thiên nhiên khô cằn, cay nghiệt, đã liên tục đấu tranh chống giai cấp
thống trị độc ác, bất nhân để giành lấy sự sống, cuộc đời tự do.
1.1.3. Một vùng văn hóa giàu bản sắc
Nền văn hóa là cái nôi ươm mầm và nuôi dưỡng tâm hồn thi ca. Nó có ảnh
hưởng rất nhiều đến nhận thức, tình cảm, cảm xúc của các nhà văn, nhà thơ. Văn
hóa xứ Nghệ đã tạo nền cho thơ ca Minh Huệ - Trần Hữu Thung phát triển. Nếu
soi chiếu vào định nghĩa "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội" [61] chúng ta
nhận thấy xứ Nghệ là một vùng văn hóa giàu bản sắc. Nền văn hóa ấy bao gồm
những giá trị vật chất và tinh thần. Nhưng chính giá trị tinh thần đã tác động một
cách sâu sắc đến sự phát triển hồn thơ Minh Huệ và Trần Hữu Thung. Dòng suối
mát ngọt của văn học dân gian với những câu hò, điệu ví đã tưới tắm cho hồn thơ
họ. Có thể nói ca trù, ca dao, giặm, vè xứ Nghệ là những giá trị tinh thần ảnh
Quốc. Nguyễn Trọng Tạo rất yêu cái phẩm chất cao đẹp này và đã phát biểu
Tôi yêu cái quyết liệt vì nghĩa lớn của người Nghệ [59]. Trên mảnh đất này
Thời nào cũng có danh nhân, vùng nào cũng có nhiều bậc anh hùng tài cao
chí lớn đã làm rạng danh quê hương đất nước. Bàn về đặc điểm văn hóa xứ
Nghệ, Nguyễn Văn Hạnh trong bài Ví giặm xứ Nghệ từ góc nhìn văn hóa học
(Tạp chí Khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 4/2013) đã
viết: Theo chiều dài lịch sử, vùng đất này đã trải qua nhiều thay đổi, cả về
hình hài vóc dáng, và tên gọi, như: Việt Thường, Hoan Châu, An Tịnh( thời
cổ, trung đại) hay Nghệ Tĩnh, và giờ đây tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà
18
Tĩnh. Tuy nhiên, từ góc nhìn địa – văn hóa – lịch sử, đây vẫn là một vùng văn
hóa thống nhất, có tính đặc thù, khu biệt với các khu vực văn hóa khác ở Việt
Nam. Từ rất sớm, dọc theo hai bờ sông Lam, từ thượng nguồn đến hạ lưu đã
hình thành nên những xóm làng trù phú. Với xứ Nghệ, núi Hồng, sông Lam
không chỉ là bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình mà còn góp phần tạo
nên bản sắc cho một vùng văn hóa. Vốn là vùng đất biên ải, viễn trấn, nguồn
gốc cư dân xứ Nghệ khá đa dạng. Tuy nhiên, sau hàng ngàn năm lịch sử, nơi
đây đã hình thành nên một cộng đồng cư dân có tính thống nhất cao độ, với
danh xưng người Nghệ. So với cư dân ở các vùng miền khác, người Nghệ có
những đặc điểm riêng, dễ nhận biết: về tiếng nói, âm sắc của người Nghệ đục
và nặng, khó nghe, khó bắt chước; về tư duy, người Nghệ thường không uyển
chuyển, thường cứng nhắc, rạch ròi, dứt khoát đến cực đoan, bảo thủ; về
hành động, người Nghệ quyết liệt, hăng hái, bản lĩnh đến mức liều lĩnh; về
ứng xử hàng ngày, thường không thích hình thức phô trương mà chuộng sự
giản dị, mộc mạc. Con người Xứ Nghệ rất trọng nghĩa tình. Họ đề cao tình
cảm, không có tình cảm thì của cải vật chất cũng trở thành vô nghĩa: Giàu
chi, giàu lúa giàu tiền/ Giàu bạc giàu ác, nhân duyên không giàu (Ca dao).
Họ chỉ trích, phê phán những kẻ tham lam. Keo kiệt: Những người lúa đụn
văn học dân gian, âm nhạc dân gian, múa dân gian, phong tục tập quán… Nghệ
Tĩnh là xứ sở của những lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội Cầu
Ngư, Rước hến, Đua thuyền… Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được
nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội
đền Cuông, lễ hội làng Vạn Lộc, làng Sen. Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di
tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống.
Chính cái nôi văn hóa của Xứ Nghệ đã góp phần chưng cất nên bao thế
hệ nhà thơ , nhà văn tài năng cho nền văn học nước nhà. Trong số đó có Minh
Huệ và Trần Hữu Thung.
20
1.2. Vài nét về cuộc đời Minh Huệ và Trần Hữu Thung
1.2.1. Hoàn cảnh xuất thân
Trần Hữu Thung và Minh Huệ là hai nhà thơ cùng thời nhưng xuất thân
của họ khác nhau, một người xuất thân từ nông thôn, người kia sinh ra và lớn
lên ở thành thị nên hơi thơ của họ cũng có những điểm khác nhau.
Trần Hữu Thung sinh năm 1925 trong một gia đình nông dân làng
Trung Phường - xã Diễn Minh - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An. Diễn Châu
là nơi đất cằn sỏi đá nhưng tình người hồn hậu. Người dân nơi đây chủ yếu
làm nông nghiệp. Cuộc đời của Trần Hữu Thung lam lũ ,vất vả từ nhỏ. Sinh
ra trong một gia đình đông con, nghèo khó, Trần Hữu Thung vẫn trở thành
một anh trai làng rắn rỏi , là một đô vật của làng quê. Trong thân hình vạm vỡ
ấy lại chứa đựng một tâm hồn dạt dào cảm xúc. Những vần thơ của ông làm
xao động lòng người. Thơ ông có cái nắng bỏng rát của tháng tám, mưa dầm
dề tháng ba:
Mưa to gió cả,
Nắng cháy cánh đồng.
(Cò trắng phát thanh – Trần Hữu Thung)
Có cả ngọn gió nồm thổi lên thơm mát lại có thêm bóng dáng cây tre,
Góp tiếng gió ngơi ca thành phố thợ
(Thành phố tôi yêu/ Thành phố tôi yêu – Minh Huệ)
Minh Huệ và Trần Hữu Thung đều sinh ra và lớn lên trong mưa bom,
bão đạn, họ đều chứng kiến sự đau thương mất mát của quê hương, đều được
nuôi dưỡng từ một nền tảng văn hóa, văn học xứ Nghệ. Điểm gặp gỡ giữa
Minh Huệ và Trần Hữu Thung chính là lòng yêu nước nồng nàn. Hồn thơ của
họ sôi nổi, nhiệt huyết, giàu tình cảm với dân với nước. Những vần thơ của họ
rất gần với ca dao, dân ca, dặm, vè xứ Nghệ. Nhưng trong cái chung ấy vẫn