kiểm toán vốn bằng tiền - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Chương I: Cơ sở lý luận về kiểm toán vốn bằng tiền
1. Khái quát về kế toán vốn bằng tiền
1.1 Khái nệm
Khái niệm : Vốn bằng tiền là những tài sản có thể dùng để dự trữ, tích luỹ và
làm phương tiện để thanh toán như: tiền mặt , tiền gửi ngân hàng và tiền đang
chuyển.
 Tiền mặt tại quỹ bao gồm cả nguyên tệ và ngoại tệ hiện có tại quỹ của đơn vị.
 Tiền gửi ngân hàng bao gồm tiền nguyên tệ và ngoại tệ được gửi tại ngân
hàng.
 Tiền đang chuyển là tiền đang trong quá trình lưu thông từ ngân hàng về quỹ
tiền, từ quỹ chuyển đến ngân hàng.
1.2. Những quy định của kế toán vốn bằng tiền
Kế toán vốn bằng tiền phải căn cứ vào chế độ quản lý tiền tệ của Nhà nước và
tôn trọng những quy định sau:
 Kế toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ
thống nhất là đồng Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể
sử dụng ngoại tệ để ghi sổ kế toán nhưng phải được Bộ Tài chính chấp nhận
bằng văn bản.
 Ở doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá bình
quân liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm
phát sinh nghiệp vụ, hoặc tỷ giá giao dịch thực tế của nghiệp vụ kinh tế phát
sinh để ghi sổ kế toán.
 Đối với vàng bạc, đá quý, kim khí quý được tính ra tiền
theo giá thực tế (giá hoá đơn, hoặc giá thanh toán) để ghi sổ kế toán và theo
dõi số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng
loại.
2. Kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
2.1. Ý nghĩa và mục tiêu kiểm toán vốn bằng tiền
2.1.1. Ý nghĩa

quyền và nghĩa vụ, đánh giá và phân bổ.
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, ngoài việc phải xác định chính xác các
mục tiêu cụ thể, Kiểm toán viên còn phải xác định chính xác các mục tiêu đó vào
từng phần hành kiểm toán để xây dựng hệ thống mục tiêu đặc thù. Việc xác định
mục tiêu kiểm toán đặc thù của mỗi phần hành, khoản mục cụ thể là một công việc
quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán, đồng thời làm giảm
rủi ro kiểm toán đến mức thấp nhất. Trên cơ sở mục tiêu kiểm toán đặc thù cho
từng khoản mục, Kiểm toán viên tiến hành các thủ tục để khẳng định mục tiêu
kiểm toán đó có được đơn vị tuân thủ hay không? Từ đó tìm ra các sai phạm.
Mục tiêu kiểm toán của khoản mục vốn bằng tiền nhằm xác định các vấn đề
chủ yếu sau:
 Tính hiện hữu của kiểm soát nội bộ đối với vốn bằng tiền: Tức là xem xét đánh
giá sự hiện diện, tính liên tục và tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
đối với vốn bằng tiền có được đảm bảo không?
 Sự đảm bảo về mức độ trung thực, hợp lý của các khoản mục vốn bằng tiền
trên báo cáo tài chính, thể hiện trên các khía cạnh sau:
 Mục tiêu hiện hữu: xác nhận số dư các khoản tiền tồn tại vào
ngày lập bảng cân đối kế toán là hợp lý. Vì số dư này liên quan đến khả năng
thanh toán nên doanh nghiệp khai báo tiền vượt quá số dư thực tế để che dấu
tình hình tài chính thực hoặc thất thoát tài sản hoặc tiền bị chiếm dụng nên số
thực tế nhỏ hơn số sổ sách. Mục tiêu này liên quan đến mục tiêu hiện hữu của
khoản tiền và được coi là mục tiêu quan trọng trong kiểm toán khoản mục này.
 Mục tiêu về sự đầy đủ: Xác nhận tất cả các nghiệp vụ liên quan
đến tiền là có thật và đều được ghi nhận. Đây là mục tiêu quan trọng nhất vì
thế Kiểm toán viên cần chú trọng đến mục tiêu này để đảm bảo chất lượng
của cuộc kiểm toán.
 Mục tiêu quyền sở hữu: Xác nhận doanh nghiệp có quyền sở
hữu về mặt pháp lý đối với các khoản tiền. Đây là mục tiêu Kiểm toán viên
xác định nhưng nó không giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm toán khoản
mục vốn bằng tiền nên Kiểm toán viên có thể bỏ qua mục tiêu này trong quá

tiền và hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của khách hàng. Sau khi được phân
công kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền, Kiểm toán viên phải xác định mục tiêu
kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện cũng cần tránh thay đổi nhân viên nhằm
đảm bảo hiệu quả cũng như chất lượng công việc. Đặc biệt, việc kiểm toán cho
một khách hàng trong nhiều năm có thể giúp cho Kiểm toán viên tích luỹ được
nhiều kinh nghiệm cũng như có được hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh
của khách hàng.
Bước 2: Thu thập thông tin cơ sở
Đây là một giai đoạn quan trọng công việc lập kế hoạch kiểm toán tổng quát.
Giai đoạn này sẽ cung cấp những thông tin cơ bản làm nền tảng cho các công việc
tiếp theo. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 - lập kế hoạch kiểm toán đã xác
định rằng Kiểm toán viên cần thu thập hiểu biết về ngành nghề kinh doanh của
khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và các bên
liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán.
Công việc này rất cần thiết cho việc đảm bảo tính thận trọng nghề ngiệp đúng
mức của Kiểm toán viên. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (IAS) 310 chỉ rõ: “Để
thực hiện công tác kiểm toán tài chính, chuyên gia kiểm toán phải hiểu biết đầy đủ
về hoạt động đơn vị được kiểm toán, để xác định và hiểu được các sự kiện, nghiệp
vụ và cách làm việc của đơn vị, mà theo đánh giá của Kiểm toán viên có thể có
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
một tác động quan trọng đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm toán hoặc đến báo
cáo kiểm toán”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310: hiểu biết về tình hình kinh doanh,
đoạn 2 đã quy định: “Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, Kiểm toán viên
phải nắm bắt được tình hình kinh doanh của khách hàng để có thể nhận thức và
xác định sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động mà theo đánh giá Kiểm toán
viên có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của Kiểm
toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán”.

Bước 4: Tìm hiểu sơ bộ về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với
vốn bằng tiền
Đây là công việc hết sức quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Việc nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm
soát đã được quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 400 – Đánh giá rủi
ro và kiểm soát nội bộ, đã nêu: “Kiểm toán viên phải có hiểu biết đầy đủ về hệ
thống kế toán và kiểm soát nội bộ để đánh giá thái độ, mức độ quan tâm và sự can
thiệp của các thành viên trong hội đồng quản trị và ban giám đốc với kiểm soát nội
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
bộ và đánh giá khả năng của kiểm soát nội bộ của khách hàng trong việc ngăn
ngừa, phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính”.
Các nguyên tắc kiểm soát nội bộ đối với vốn bằng tiền
 Nhân viên phải có đủ khả năng và liêm chính: Vì không thể có kiểm
soát nội bộ vững mạnh khi nhân viên không đủ khả năng, hoặc không liêm
chính và cố tình gian lận.
 Áp dụng nguyên tắc phân chia trách nhiệm: nghĩa là không cho bất cứ
cá nhân nào thực hiện các chức năng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc
nghiệp vụ. Nói cách khác, mỗi cá nhân chỉ được phân công một nhiệm vụ
trong quá trình xử lý nghiệp vụ, bao gồm các chức năng xét duyệt nghiệp vụ;
ghi chép vào sổ kế toán; bảo quản tài sản; kiểm kê, đối chiếu các số liệu ghi
trên sổ sách kế toán với số liệu thực tế.
 Tập trung đầu mối thu: nên hạn chế tối đa số người nắm giữ tiền, nghĩa
là chỉ cho phép một số ít nhân viên được thu tiền. Điều này làm giảm khả
năng thất thoát số tiền đã thu.
 Ghi chép kịp thời và đầy đủ số thu: Phân công cho một nhân viên ghi
nhận kịp thời các nghiệp vụ thu tiền ngay vào thời điểm phát sinh.
 Hàng ngày đối chiếu số liệu giữa thủ quỹ và kế toán, nộp ngay số thu
cho ngân hàng. Để tăng cường kiểm soát, trước khi thủ quỹ nộp tiền vào
ngân hàng, có thể phân công cho một nhân viên độc lập so sánh giữa tổng số

1. Khi phát sinh nghiệp vụ thu chi tiền có được
phản ảnh đầy đủ vào các sổ sách liên quan?
2. Việc xét duyệt thu chi có giới hạn ở một số
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
người mà họ không đảm nhận việc ghi chép sổ
sách kế toán hay lưu giữ chúng?
3. Việc ghi chép, kiểm tra và lưu giữ sổ sách
trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền có được
thực hiện độc lập bởi các nhân viên chuyên trách
không?
4. Kế toán quỹ và thủ quỹ có độc lập với nhau
không?
5. Nơi thực hiện quá trình thu chi và quản lý cất
giữ tiền có đủ rộng, ngăn cách khỏi văn phòng?
6. Việc thu tiền có tổ chức việc thu tại công ty?
7. Công ty có sử dụng két sắt để bảo vệ tiền mặt
chưa?
8. Mã số của két sắt có được giữ bí mật theo quy
định không?
9. Quy trình xét duyệt các khoản chi tiền mặt có
được sự phê chuẩn của kế toán trưởng và thủ
trưởng đơn vị không?
10. Biên lai thu tiền hoặc phiếu bán hàng có được
quy định đánh số trước?
11. Các khoản tiền mặt thu về có nộp vào ngân
hàng đầy đủ và kịp thời không?
12. Những khoản thu chi lớn có được thực hiện
qua ngân hàng?
13. Tiền gửi ngân hàng có được mở sổ chi tiết là

chất nghiệp vụ kinh tế phát sinh, kết quả các lần kiểm toán trước.
 Rủi ro kiểm soát (CR): là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do
hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt
động không hiệu quả, do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm
này. Đối với khoản mục vốn bằng tiền, kiểm toán sẽ tiến hành đánh giá lại
rủi ro kiểm soát của từng sơ sở dẫn liệu. Công việc này chủ yếu là để nhận
diện các điểm yếu, điểm mạnh của hệ thống kiểm soát nội bộ, nhằm điều
chỉnh chương trình kiểm toán cho phù hợp.
Nếu Kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát là thấp, thì các thử nghiệm
cuối năm có thể chỉ hạn chế ở mức đối chiếu với sổ phụ ngân hàng và so
sánh số dư này với xác nhận của ngân hàng. Nếu đánh giá mức độ rủi ro
trong kiểm soát là trung bình, thì có thể áp dụng các thủ tục trên và bổ sung
thêm một số thủ tục nhằm phát hiện gian lận. Nếu đánh giá rủi ro kiểm soát
là đáng kể hay tối đa thì kiểm toán cần mở rộng các thủ tục kiểm tra chi tiết
các khoản mục.
 Rủi ro phát hiện (DR): là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính
gộp lại mà trong quá trình kiểm toán, Kiểm toán viên không phát hiện được.
 Rủi ro kiểm toán (AR): AR = IR x CR x DR
DR = AR / (IR x CR)
Với mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được và các rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát xác định Kiểm toán viên sẽ tính ra rủi ro phát hiện và dựa vào đó xác
định số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập.
Bước 6: Lập kế hoạch kiểm toán chung và thiết kế chương trình kiểm toán
Trên cơ sở hiểu biết về tình hình kinh doanh, nghĩa vụ pháp lý cùng hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng, Kiểm toán viên tiến hành lập kế hoạch kiểm toán
chung và thiết kế chương trình kiểm toán cho khoản mục vốn bằng tiền.
2.2.2. Thực hiện kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là thực hiện các công việc đã lập ra trong kế
hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán. Mục đích của giai đoạn này là thu

 Khảo sát, xem xét các quy định về phân công nhiệm vụ và về trách
nhiệm của các nhân viên, các bộ phân liên quan như:
 Phân công người giữ quỹ và chế độ trách nhiệm về giữ quỹ, xem
xét theo nguyên tắc “tập trung đầu mối thu” có được đảm bảo hay không.
 Phân công và phân biệt giữa cán bộ có trách nhiệm duyệt chi với
kế toán và thủ quỹ có đảm bảo nguyên tắc “bất kiêm nhiệm”.
 Sự phân công công việc giữa các nhân viên trong các khâu hạch
toán có đảm bảo cho việc thực hiện hạch toán tiền mặt được kịp thời và chặc
chẽ.
Thể thức các khảo sát trên đây thực hiện chủ yếu bằng việc xem xét các văn
bản quy định về phân công nhiệm vụ, trách nhiệm, thực hiện việc phỏng vấn nhân
viên liên quan, kết hợp quan sát trực tiếp sự vận hành của một số công việc như kế
toán quỹ và thủ quỹ. Nếu có sự kiêm nhiệm trong công việc không tuân theo quy
định hoặc không có sự tách biệt trách nhiệm rõ ràng thì hiệu lực kiểm soát bị giảm
đi, tiềm năng về gian lận hoặc sử dụng tiền mặt lạm dụng dễ xảy ra.
 Khảo sát, xem xét các quy trình duyệt chi tiền mặt và khâu tổ chức
bảo quản chứng từ thu tiền, như:
 Việc thực hiện quy trình duyệt chi tiền mặt có được giới hạn ở
một số người đảm bảo sự chặt chẽ và nguyên tắc “uỷ quyền, phê chuẩn” hay
không. Kiểm toán viên cần chú ý đến các dấu hiện của sự phê chuẩn trên các
hồ sơ và các chứng từ chi tiền của đơn vị.
 Công việc tổ chức bảo quản các chứng từ tài liệu liên quan đến
tiền mặt, có được đơn vị chú ý và thực hiện như thế nào?
 Nếu có trường hợp khoản chi không được phê chuẩn trước thì sự
lỏng lẻo trong kiểm soát này để gây ra gian lận của khoản chi hoặc chứng từ
không đảm bảo hợp lệ, hợp lý.
 Khảo sát, xem xét việc phân công trách nhiệm trong khâu kiểm tra,
soát xét đối với các thủ tục, các chứng từ, các việc tính toán và đối với việc ghi
chép kế toán.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 8

thủ quỹ phải có ký quỹ cũng thể hiện sự ngăn ngừa gian lận, biển thủ tiền
mặt của đơn vị một cách có hiệu quả, tăng cường trách nhiệm của thủ quỹ.
Những công việc khảo sát về kiểm soát nội bộ đối với tiền mặt nói trên
giúp cho kiểm toán viên đánh giá được hiệu lực của kiểm soát nội bộ và mức
độ rủi ro kiểm soát đối với tiền mặt. Từ đó xác định phạm vi và thiết kế các
khảo sát cơ bản để kiểm toán đối với các số liệu kế toán (khảo sát chi tiết các
nghiệp vụ và số dư tiền mặt).
2.2.2.2. Thử nghiệm kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
2.2.2.2.1. Tiền mặt
Tiếp theo sau việc khảo sát về kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên cần tiến hành
các khảo sát về các nghiệp vụ tiền mặt. Dưới đây sẽ trình bày các mục tiêu kiểm
toán cụ thể và thể thức khảo sát thông thường, phổ biến mà kiểm toán viên thường
sử dụng trong khảo sát nghiệp vu tiền mặt:
 Mục tiêu kiểm toán: các khoản tiền mặt thu, chi ghi trên sổ kiểm toán
tiền mặt đều thực tế phát sinh và có căn cứ hợp lý.
Để khảo sát mục tiêu này, kiểm toán viên thường tiến hành các thể thức chủ
yếu sau đây:
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
 Kiểm tra các bằng chứng về sự phê duyệt chi tiền của người có trách
nhiệm (chữ kí phê duyệt, tính đúng đắn của sự phê duyệt). Kiểm tra mẫu
những chứng từ chi tiền đối với những khoản chi lớn và bất thường về nội
dung chi, xem xét các chứng từ có đầy đủ chứng từ gốc kèm theo chứng
minh hợp lệ và hợp lý không.
 Đối chiếu chứng từ thu, chi với các chứng từ chứng minh nghiệp vụ
(chứng từ gốc). Xem xét lại sổ nhật ký quỹ (thu, chi tiền mặt), sổ cái tài
khoản tiền mặt và đối chiếu với các sổ kế toán có liên quan như sổ mua hàng,
bán hàng, thanh toán…
 Kiểm tra tên của những người nộp tiền, người nhận tiền trên các
chứng từ liên quan.

bạc và đá quý. Các khảo sát cụ thể thường là:
 Kiểm tra việc tính toán thu chi tiền mặt và việc đối chiếu số liệu giữa kế toán
và thủ quỹ.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
 Kiểm tra việc tính toán quy đổi ngoại tệ có phù hợp với tỷ giá ngân hàng
công bố có hiệu lực cùng thời điểm; việc sử dụng phương pháp đánh giá
vàng bạc, đá quý có đảm bảo phù hợp và nhất quán hay không.
 Khảo sát việc thực hiện nghiệp vụ đánh giá ngoại tệ tồn quỹ có được duy trì
và thực hiện đúng thể thức quy định hay không.
 Kiểm tra việc tính toán các khoản giảm giá, hoa hồng … đã chi bằng tiền mặt.
 Mục tiêu kiểm toán: các khoản tiền thu được đều được
gửi vào ngân hàng kịp thời, thực hiện quy định thanh toán qua ngân hàng.
Các khảo sát chủ yếu thường được thực hiện gồm:
 Khảo sát việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán,
các khoản lớn qua ngân hàng.
 Đối chiếu giữa sổ kế toán tiền mặt với sổ ngân
hàng về ngày bán hàng thu tiền mặt; ngày nộp tiền mặt vào ngân hàng và số
tiền mặt nộp vào ngân hàng.
 Mục tiêu kiểm toán: các nghiệp liên quan
đến tiền mặt đều được hạch toán đúng.
Kiểm toán viên thường thực hiện các khảo sát như so sánh, xem xét việc hạch
toán vào tài khoản liên quan, tham chiếu một số nghiệp vụ trong việc hạch toán
vào sổ kế toán, đặc biệt các nghiệp vụ chi tiền mặt cho các chi phí để kiểm tra việc
hạch toán có đúng hay không.
 Mục tiêu kiểm toán: việc tổng hợp và chuyển đổi để ghi sổ cái là đúng
đắn và chính xác.
Khảo sát cho mục tiêu này thường được Kiểm toán viên tiến hành bằng cách
tổng hợp các sổ chi tiết liên quan đến thu, chi tiền mặt và đối chiếu sổ cái tài
khoản tiền mặt. Cũng có thể tham chiếu các sổ kế toán khác có liên quan.

kê) của ngân hàng gửi cho đơn vị ở khoản thời gian trước và sau ngày khoá
sổ để đối chiếu với số liệu trên sổ của đơn vị nhằm phát hiện chênh lệch tìm
hiểu nguyên nhân (nếu có).
 Gửi thư xác nhận số dư tài khoản tiền gửi ngân hàng vào thời gian
khoá sổ.
 Kiểm toán viên có thể yêu cầu đơn vị kê khai hoặc tự mình thu thập
và kê khai về tiền gửi ngân hàng của đơn vị tại các ngân hàng có liên quan và
đảm nhận việc gửi đi, nhận về “thư” đề nghị các ngân hàng xác nhận số dư tiền
gửi ngân hàng vào thời điểm báo cáo. Việc xin xác nhận này không thể thiếu
trong khảo sát tiền gửi ngân hàng. Cùng với nội dung về đề nghị xác nhận số
dư tiền gửi, kiểm toán viên cũng xin ý kiến về các thông tin có liên quan khác
như:
 Số dư của mọi tài khoản của đơn vị tại ngân hàng.
 Các giới hạn trong việc sử dụng tiền gửi ngân hàng.
 Mức lãi suất (của các khoản tiền gửi đã có lãi).
 Các khoản khác: cầm cố, thế chấp, mở thư tín dụng hay các khoản tương tự.
Thư xác nhận này là một cơ sở để đối chiếu với số liệu kế toán tai đơn vị (như
đã nêu trên). Nếu thấy chênh lệch, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân có liên quan.
 Khảo sát các quá trình chuyển khoản:
Nghiệp vụ chuyển khoản là loại nghiệp vụ đặc thù riêng của tiền gửi ngân
hàng. Trường hợp tiền gửi của đơn vị được chuyển từ ngân hàng này sang ngân
hàng khác hay chuyển khoản giữa các tài khoản trong nội bộ của công ty, tổng
công ty rất khó để quá trình đó được thực hiện hợp lý, đúng đắn.
Kiểm toán viên cần chú ý khảo sát loại nghiệp vụ này bằng cách lập bảng liệt
kê tất cả các khoản tiền gửi ngân hàng trong các nghiệp vụ chuyển khoản được
thực hiện trước và sau ngày lập báo cáo tài chính và đối chiếu với việc ghi sổ kế
toán của từng nghiệp vụ đó có được ghi sổ kịp thời và đúng đắn không. Việc khảo
sát này có thể phát hiện được sự che dấu của sự biển thủ bằng việc ghi chép không
đúng đắn ngày và tài khoản có quan hệ (ví dụ: thực hiện một nghiệp vụ chuyển
tiền vào cuối kỳ từ một ngân hàng này sang một ngân hàng khác nhưng chỉ hạch

những séc không có khả năng thu tiền này…
 Những sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến
báo cáo tài chính nhưng cần công khai. Các sự kiện này thường bao gồm: sự
phát hành trái phiếu hoặc các chứng khoán vốn, sự tụt giảm thị trường chứng
khoán làm giảm các khoản đầu tư, khách hàng có số dư khoản phải thu lớn bị
phá sản do gặp thiên tai, hoả hoạn,…
Các thủ tục kiểm toán của việc xem xét các sự kiện trên được chia làm hai nhóm:
 Nhóm các thủ tục thường được kết hợp với
nhau thành một phần của quá trình kiểm tra các số dư tài khoản cuối năm.
 Nhóm các thủ tục thực hiện đặc biệt nhằm mục
đích phát hiện các sự kiện hoặc quá trình phải được thừa nhận trong kỳ kiểm
toán.
2.2.3.2. Đánh giá kết quả của toàn bộ công việc kiểm toán khoản mục vốn bằng
tiền
Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán khoản mục vốn
bằng tiền, kết quả thu thập được và cân nhắc để đưa ra ý kiến nhận xét về khoản
mục này để nhận xét về báo cáo tài chính. Để đạt được mục đích này, Kiểm toán
viên thường thực hiện các công việc sau:
 Áp dụng các thủ tục phân tích
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 chỉ rõ: “Kiểm toán viên phải thực hiện
các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét
tổng thể báo cáo tài chính. Thủ tục phân tích cũng có thể được thực hiện ở các giai
đoạn khác trong quá trình kiểm toán”. Việc áp dụng các thủ tục phân tích trong
giai đoạn kết thúc kiểm toán nhằm mục đích đánh giá tính đồng bộ và xác thực của
các thông tin tài chính thu thập được, nhất là các số liệu thu được của các khoản
mục trên báo cáo tài chính.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
 Đánh giá sự đầy đủ của các bằng chứng kiểm toán
Chuẩn mục kiểm toán quốc tế số 500 có nêu: “Các Kiểm toán viên phải thu

được khi tiến hành kiểm toán, giúp cho Kiểm toán viên cung cấp cho ban quản trị
khách hàng nhiều thông tin bổ ích.
Thư quản lý không bắt buộc nhưng trong hầu hết các cuộc kiểm toán đều được
lập nhằm tạo mối quan hệ tốt hơn giữa công ty kiểm toán và khách hàng. Không
có tiêu chuẩn nào trong việc viết thư quản lý. Mỗi thư phải được triển khai để đáp
ứng phong cách của Kiểm toán viên và nhu cầu của khách hàng. Nhưng thư quản
lý phải chỉ ra được các nhược điểm và yếu kém của doanh nghiệp, ảnh hưởng của
nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
Chương 2: Quy trình kiểm toán vốn bằng tiền do công ty TNHH kiểm
toán và kế toán AAC thực hiện
1. Giới thiệu về công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC (trước đây là Công ty kiểm toán và
kế toán AAC trực thuộc Bộ Tài Chính thành lập từ năm 1993) là một trong số rất ít
các công ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. AAC hoạt động trên
phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc lựa chọn và bổ
nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêm yết trên sàn
giao dịch chứng khoán, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán...
1.2. Phương châm, mục tiêu hoạt động của công ty
 Công ty AAC hoạt động theo phương châm: độc lập, khách quan, trung
thực và bí mật số liệu của khách hàng, và đó cũng là lời cam kết của công ty đối
với mọi khách hàng.
 Mục tiêu hoạt động của công ty là giúp khách hàng và những người quan tâm
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, cung cấp cho họ những thông tin đích thực
và cần thiết để tổ chức điều hành hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra các quyết
định quản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạt động của công ty nhằm góp phần phát
hiện và ngăn ngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạt động kinh

Các dịch vụ kiểm toán do AAC cung cấp bao gồm:
• Kiểm toán báo cáo tài chính,
• Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế,
• Kiểm toán hoạt động,
• Kiểm toán tuân thủ,
• Kiểm toán nội bộ,
• Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB,
• Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư XDCB.
 Thuế: Đối với các công ty, thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng do các
quy định về thuế càng ngày càng trở nên phức tạp. Thông qua một đội ngũ các
chuyên gia am hiểu về các sắc thuế và tận tâm, AAC sẵn sàng hỗ trợ các khách
hàng hoàn thành đúng nghĩa vụ thuế với nhà nước đồng thời tận dụng triệt để các
lợi thế về thuế trong hoạt động kinh doanh để gia tăng lợi ích của các chủ sở hữu
công ty. Đối với nhiều cá nhân, thuế thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều
hơn. Với khả năng của mình, AAC giúp các khách hàng của mình có đầy đủ tự
tin hoàn thành nghĩa vụ thuế với nhà nước cũng như đảm bảo được giá trị tài sản
của mình. AAC sẵn sàng bảo vệ khách hàng trong mọi trường hợp tranh chấp xảy
ra. AAC làm việc hết mình để xây dựng uy tín của chính mình, niềm tin đối với
khách hàng không chỉ vì các khách hàng , vì Nhà nước mà còn vì cộng đồng.
Các dịch vụ thuế do AAC cung cấp bao gồm:
• Đăng ký & kê khai thuế
• Tư vấn kế hoạch thuế
• Cung cấp các văn bản thuế có liên quan
 Tư vấn và đào tạo: Thế giới hiện nay đang thay đổi từng phút, từng giây, để có
được thành công mỗi người phải biết nắm bắt lấy từng cơ hội đồng thời phải biết kiểm
soát các rủi ro. Thông qua việc cung cấp các dịch vụ tư vấn có hiệu quả và các khóa học
cập nhật các kiến thức mới nhất, AAC đã tham gia thành công vào việc giúp các khách
hàng của mình thích ứng với môi trường mới.
Các dịch vụ tư vấn & đào tạo do AAC cung cấp bao gồm:
- Về tư vấn:

tầm quan trọng.
 Chịu trách nhiệm đánh giá công việc kiểm toán đã thực hiện, ký báo
cáo kiểm toán và thư quản lý
 Chịu trách nhiệm tham gia buổi họp với khách hàng sau khi kết thúc
cuộc kiểm toán hoặc ủy quyền lại
 Phó Tổng Giám đốc: AAC có hai phó tổng làm việc trong lĩnh vực
kiểm toán báo cáo tài chính và xây dựng cơ bản.
 Được phân công uỷ quyền giải quyết cụ thể các vấn đề liên quan đến
nhân lực, hành chính, kế hoạch và các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ.
 Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và pháp luật Việt Nam.
 Trưởng, phó phòng: Mỗi lĩnh vực chuyên môn có một trưởng phòng
và một phó phòng.
 Trưởng phòng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc và đóng vai
trò quan trọng trong lĩnh vực hoạt động của công ty. Trưởng phòng giữ vai trò
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 17
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng tư vấn –
đào tạo
Phòng kiểm toán
xây dựng cơ bản
Phòng kiểm toán
báo cáo tài chính
Phòng hành chính
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
lãnh đạo trong ban quản lý của công ty, họ có chức năng như một cầu nối giữa
Tổng Giám Đốc, ban quản lý và các nhân viên trong công ty, chịu trách nhiệm
về các vấn đề liên quan đến nhân sự, phối hợp hoạt động và đảm nhận các vấn
đề về công việc hành chính. Trưởng phòng có vai trò rất quan trọng trọng việc
tạo ra môi trường làm việc đầy tính chuyên nghiệp, chất lượng chuyên môn

 Trợ lý kiểm toán viên cấp 2: Là người làm việc ở công ty kiểm toán
được hai năm, chịu trách nhiệm về các công việc mà nhóm trưởng giao phó.
 Trợ lý kiểm toán viên cấp 3: Là người làm việc ở công ty được ba
năm, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán và có thể làm trưởng
đoàn kiểm toán cho những công ty nhỏ.
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.s Phạm Hoài Hương
1.6. Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH kiểm toán và
kế toán AAC
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính ở công ty TNHH kiểm toán và kế
toán AAC gồm ba giai đoạn thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: các giai đoạn của quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
1.6.1 Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của quá trình kiểm toán nhằm tạo
ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiện cần thiết khác cho cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 nêu rõ: kiểm toán viên và công ty kiểm
toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã
được tiến hành một cách có hiệu quả. Lập kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên
thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ để kiểm
toán viên đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của khách hàng. Không
những thế, công việc này còn giúp hạn chế được những sai sót và nâng cao chất
lượng của cuộc kiểm toán. Tạo dựng niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Quy
trình lập kế hoạch kiểm toán ở công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC được thể
hiện như sau:
SVTH: Trương Văn Minh Trang: 19
Lập kế hoạch
kiểm toán
Thực hiện
kiểm toán
Kết thúc kiểm

chính
Ký kết hợp đồng
kiểm toán
Tài liệu và thông tin yêu
cầu khách hàng lập
Kiểm tra kế hoạch
kiểm toán
Tìm hiểu
khách hàng
Hệ thống kế
toán
Hệ thống kiểm
soát nội bộ

Trích đoạn Đánh giá chung về quy trình kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền do công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC thực hiện Một số biện pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền do công ty TNHH kiểm toán và kế toán AAC thực hiện Thủ tục phân tích mà kiểm toán viên dùng trong kiểm toán khoản mục vốn bằng tiền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status