Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng sông Đà - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để tồn tại
và phát triển, Công ty cổ phần t vấn xây dựng Sông Đà cũng không phải là một
ngoại lệ, là một công ty con của Tổng Công ty Sông Đà- một doanh nghiệp Nhà
Nớc phát triển hàng đầu trong ngành xây dựng. Tuy mới thành lập từ năm 1992,
và cổ phần hoá năm 2004, nhng công ty đã chứng tỏ đợc năng lực của mình
thông qua thực hiện tốt các công việc đợc giao từ công ty mẹ và hoàn thành
xuất sắc các bản hợp đồng với các đối tác. Là một doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực dịch vụ t vấn, khảo sát thiết kế, lập tổng dự toán vốn đầu t các
công trình xây dựng, nên doanh nghiệp mang đặc thù của ngành dịch vụ, thơng
mại nhng cũng mang những đặc trng riêng của ngành xây dựng. Là một doanh
nghiệp mang tính chất là dịch vụ nên doanh nghiệp có rất nhiều vấn đề cần lu ý
trong hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của
mình nh: vấn đề nguồn lực, vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản, vấn đề về tiền l-
ơng Tất cả những vấn đề trên đều đặt doanh nghiệp tr ớc các thách thức lớn
nhằm hoàn thiện hơn nữa để có thể đứng vững trên thị trờng cạnh tranh hiện
nay.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Công ty cổ phần t vấn xây dựng Sông Đà trớc khi cổ phần hoá là một
doanh nghiệp Nhà Nớc, tuy vẫn chịu những ảnh hởng lớn của phong cách làm
việc theo kế hoạch mà ít chú ý đến hiệu quả, nhng từ khi nền kinh tế thị trờng
phát triển doanh nghiệp phải tự thay đổi mình để bắt kịp với sự phát triển của
nền kinh tế. Vì vậy, doanh nghiệp đã thay đổi cung cách làm việc từ khâu quản
lý đến khâu giám sát, nhân sự Doanh nghiệp thay đổi đội ngũ cán bộ công
nhân viên, đầu t máy móc thiết bị hiện đại nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp. Là một doanh nghiệp dịch vụ nên tài sản lu động
của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lu động sẽ có ảnh hởng quyết định đến
hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, do ảnh hởng nh vậy của việc quản lý

hoàn thành chuyên đề này.
Chơng I
Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng tài
sản lu động trong doanh nghiệp
1.1. Tài sản trong doanh nghiệp
1.1.1. Hoạt động quản lý tài chính trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm chung về doanh nghiệp
Mỗi nền kinh tế đều hàm chứa bên trong nó những thành viên đợc hình
thành và phát triển nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Các thành viên hoạt
động và giúp đỡ nhau cùng phát triển, trong các thành viên của nền kinh tế thì
doanh nghiệp là một thành viên chủ chốt và quyết định sự tồn tại và phát triển
của bất kỳ một nền kinh tế nào.
Vậy doanh nghiệp đợc hiểu nh thế nào? Có rất nhiều khái niệm về doanh
nghiệp nhng nhìn chung doanh nghiệp đợc hiểu là một chủ thể kinh tế độc lập,
có t vấn cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trờng nhằm mục tiêu tối
đa hoá giá trị tài sản của các chủ sở hữu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Doanh nghiệp là một tổ chức hoạt động kinh tế trong nhiều các ngành
nghề khác nhau. Có rất nhiều hoạt động kinh tế phải đợc thực hiện bởi doanh
nghiệp chứ không phải bất cứ một thành niên nào khác của nền kinh tế.
Đó là khái niệm chung của thế giới về doanh nghiệp. Còn tại Việt Nam,
theo luật doanh nghiệp năm 1999- Điều 1 quy định: Doanh nghiệp là một tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đợc đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh- tức là thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình đầu
t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trờng nhằm
mục đích sinh lời.
Hiện nay trong nền kinh tế các nớc, doanh nghiệp đợc tổ chức thành nhiều
loại hình khác nhau. ở Việt Nam, theo quy định của Luật doanh nghiệp thì các

của doanh nghiệp đều phải đợc đặt trong các mối liên hệ xung quanh nh môi tr-
ờng kinh tế- xã hội. Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với sự phát triển của công
nghệ thông tin dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong hoạt động quản lý tài
chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp là đối tợng quản lý của Nhà Nớc, sự thắt
chặt hay nới lỏng hoạt động của doanh nghiệp bằng các văn bản quy phạm pháp
luật. Doanh nghiệp trong nền kinh tế phải dự tính các rủi ro, đặc biệt là các rủi
ro tài chính để có các phản ứng kịp thời và đúng đắn. Doanh nghiệp phải đáp
ứng đợc những đòi hỏi của đối tác về mức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn. Sự
tăng vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới hoạt động của doanh nghiệp, đặc
biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau. Muốn phát triển bền vững, các
doanh nghiệp phải có khả năng tự chủ và có thể dự đoán trớc đợc sự thay đổi
của môi trờng để sẵn sàng thích nghi với nó. Trong các trờng hợp, quan hệ tài
chính doanh nghiệp đợc thể hiện rất phong phú và đa dạng.
b) Nội dung cơ bản của quản lý tài chính doanh nghiệp
Các quan hệ tài chính doanh nghiệp đợc thể hiện trong các quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Việc xử lý các quan hệ tài chính chính là
việc các doanh nghiệp thực hiện trong quá trình sản xuất kinh doanh thông qua
giải quyết ba vấn đề quan trọng đó là:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thứ nhất: nên đầu t dài hạn vào đâu và bao nhiêu cho phù hợp với các
loại hình sản xuất kinh doanh đã lựa chọn, đây chính là chiến lợc dài hạn của
doanh nghiệp, nó cũng là cơ sở để cho các doanh nghiệp dự toán vốn đầu t.
- Thứ hai: Các doanh nghiệp sẽ lấy nguồn vốn đầu t ở đâu, hay chính là trả
lời câu hỏi Các chủ doanh nghiệp phải kiếm tiền từ đâu để thực hiện các hoạt
động đầu t của doanh nghiệp.
- Thứ ba: Việc quản lý tài chính hàng ngày của doanh nghiệp sẽ đợc thực
hiện nh thế nào? Đây là các quyết định tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp và
chúng liên quan chặt chẽ tới việc quản lý tài sản lu động của doanh nghiệp.
Đây chính là ba vấn đề chính và chủ yếu của tài chính doanh nghiệp.

nhà quản lý doanh nghiệp cần phải lu tâm để quản lý doanh nghiệp một cách tốt
nhất.
1.1.2. Tài sản lu động trong doanh nghiệp
a) Tài sản trong doanh nghiệp
Khái niệm tài sản trong doanh nghiệp
Tài sản trong doanh nghiệp là khoản mục nằm bên trái bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp chính là các bộ phận đợc hình
thành trong quá trình đầu t của doanh nghiệp.
Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho những lợi ích
mà đơn vị thu đợc trong tơng lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho hoạt động
kinh doanh của đơn vị. Nói cách khác, tài sản là tất cả những thứ hữu hình hoặc
vô hình gắn với lợi ích trong tơng lai của đơn vị thoả mãn các điều kiện:
- Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của đơn vị
- Có giá trị thực sự đối với đơn vị
- Có giá phí xác định
Sự hình thành các tài sản trong doanh nghiệp
Một trong những nội dung chính của hoạt động tài chính doanh nghiệp
đó là đầu t vào đâu, hay doanh nghiệp sẽ mua sắm tài sản nh thế nào cho phù
hợp.
Việc đầu t vào tài sản của doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng
đối với doanh nghiệp, nó quyết định đến hoạt động kinh doanh của bất kỳ một
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp nào. Việc hình thành các tài sản của doanh nghiệp là từ quá trình
đầu t của doanh nghiệp, doanh nghiệp thu hút đợc vốn đầu t từ bên ngoài vào sẽ
tiến hành mua sắm tài sản để tiến hành sản xuất kinh doanh. Khi đầu t vào tài
sản doanh nghiệp đầu t sao cho cơ cấu của nó phù hợp với loại hình doanh
nghiệp và đặc điểm của ngành nghề kinh doanh của mình.
Sự hình thành các loại tài sản khác nhau thì cần hình thành từ các nguồn
khác nhau, doanh nghiệp cần phải có chính sách đầu t thích hợp nhằm đảm bảo

nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu
thiếu một bộ phận nào đó thì cả hệ thống vẫn thực hiện đợc chức năng hoạt
động chính của nó, nhng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi
phải quản lý riêng từng bộ phận thì mỗi bộ phận thiết bị nói trên, đợc coi là
một tài sản cố định hữu hình độc lập.
Những súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm thì từng con đợc coi là tài sản
cố định, từng mảnh vờn cây lâu năm cũng đợc coi là tài sản cố định.
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, khi khoa học đã trở
thành một lực lợng sản xuất trực tiếp thì khái niệm về tài sản cố định cũng đợc
mở rộng nó bao gồm cả những tài sản cố định không có hình thái vật chất. Loại
này là những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra cũng đồng thời thoả mãn hai tiêu
chuẩn nêu trên và thờng bao gồm: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về
bằng phát minh sáng chế
Phân loại tài sản cố định
Để quản lý tốt tài sản cố định trong doanh nghiệp, tài sản cố định thông
thờng đợc phân thành các loại sau:
- Tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh: đây là những tài sản
cố định do doanh nghiệp sử dụng cho các mục đích kinh doanh kiếm
lời, bao gồm: tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài
sản cố định hữu hình bao gồm: nhà cửa vật kiến trúc, máy móc thiết bị,
phơng tiện vận tải thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý, các loại
tài sản cố định khác
- Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc
phòng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài hai loại tài sản cố định nêu trên, trong các doanh nghiệp nhà nớc
còn có thể có loại tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nớc theo
quyết định của các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền.
Vai trò của tài sản cố định trong hoạt động kinh doanh của doanh

mất đi nh các loại nhiên liệu. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng
cần phải có các đối tợng lao động. Lợng tiền ứng trớc để thoả mãn nhu cầu các
đối tợng lao động gọi là vốn lu động của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp, bất kể đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp
thơng mại thì khi tiến hành kinh doanh đều phải cần có tài sản lu động. Tài sản
lu động đợc phân bổ trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Để quá trình sản xuất kinh doanh đợc liên tục thì doanh nghiệp cần phải
có đủ tài sản lu động. Nếu không quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp sẽ bị gián đoạn, làm tăng chi phí và làm quá trình sản xuất kinh doanh bị
ảnh hởng xấu.
Với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì nhu
cầu về tài sản lu động của doanh nghiệp cũng khác nhau, quy mô của tài sản lu
động cũng ảnh hởng rất lớn đến sản xuất kinh doanh. Một quy mô tài sản lu
động phù hợp sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động một cách bình thờng và liên
tục. Ngoài quy mô thì cơ cấu tài sản lu động ảnh hởng không kém phần quan
trọng đến hoạt động của doanh nghiệp, có một cơ cấu tài sản lu động hợp lý sẽ
đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp giảm
đợc chi phí cũng nh nâng cao hiệu quả cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Cơ cấu về tài sản lu động còn cho biết tình hình tài chính hiện tại
của doanh nghiệp, về khả năng thanh toán và các rủi ro tài chính của doanh
nghiệp.
Qua đây cho ta thấy rằng tài sản lu động là hết sức quan trọng đối với các
doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp cần phải có chế độ quản lý và sử dụng
một cách khoa học và hợp lý nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản l-
u động của doanh nghiệp.
Tài sản lu động là những tài sản ngắn hạn và thờng xuyên luân chuyển
trong quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài
sản lu động đợc thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không đợc quá nhiều vì nh vậy sẽ rất lãng phí, gây ứ đọng vốn của doanh
nghiệp.
- Các khoản đầu t tài chính ngắn hạn bao gồm đầu t chứng khoán ngắn hạn
có khả năng thanh khoản cao, đầu t ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu t
ngắn hạn... Đây là tài sản có tính thanh khoản cao của doanh nghiệp nhng vẫn có
khả năng sinh lời cho doanh nghiệp hơn là việc giữ tiền mặt. Khi có nhu cầu
thanh toán doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này.
- Các khoản phải thu hay còn gọi là các khoản tín dụng thơng mại bao
gồm các khoản phải thu khách hàng, trả trớc cho ngời bán, thuế giá trị gia tăng
đợc khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác, khi tiến hành sản xuất
doanh nghiệp cần phải có các mối quan hệ rộng rãi nhằm tiêu thụ đợc sản
phẩm. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải bán chịu cho các khách hàng tin cậy
nhằm tăng khách hàng đồng thời mở rộng mạng lới tiêu thụ sản phẩm. Các
khoản phải thu này cũng có thể đợc hình thành qua việc doanh nghiệp đặt hàng
ở nhà cung cấp nhng cha lấy hàng về nh đặt hàng nguyên vật liệu hoặc các
khoản tạm ứng cho công nhân viên cha thu về
- Dự trữ, tồn kho: bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ, phục
vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm,
thành phẩm lu kho. Các doanh nghiệp khác nhau thì khoản mục này là khác
nhau. Tuy nhiên doanh nghiệp cần phải có một chế độ quản lý hết sức khoa học
và hợp lý để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh đợc liên tục, tránh lãng phí
những chi phí không cần thiết.
- Tài sản lu động khác bao gồm các khoản tạm ứng cha thanh toán, chi phí
trả trớc, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp, kí
cợc, kí quỹ
Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục trên
trong tài sản lu động của doanh nghiệp. Thờng các doanh nghiệp chỉ có ba mục
chính đó là : ngân quỹ, phải thu và tồn kho. Và ở trong chuyên đề này chúng ta

Nhìn chung tài sản lu động có một số đặc điểm chính nh sau:
+ Tài sản lu động có thời gian luân chuyển, sử dụng, thu hồi ngắn, thờng
chỉ trong một chu kỳ của quá trình sản xuất kinh doanh.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tài sản lu động trong quá trình sản xuất chuyển hết giá trị vào giá trị của
sản phẩm.
Do các đặc điểm trên nên nguồn tài trợ cho tài sản lu động cũng có những
đặc điểm để phù hợp với đặc thù của tài sản lu động. Các nguồn tài trợ cho tài
sản lu động bao gồm:
* Các nguồn tài trợ ngắn hạn bao gồm
- Sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi có trong doanh nghiệp: đó là các khoản vốn
chiếm dụng của doanh nghiệp nh các khoản thuế phải nộp nhng cha nộp, các
khoản phải trả cán bộ công nhân viên nhng cha đến hạn trả, các khoản đặt cọc
của khách hàng hay các khoản mua chịu của doanh nghiệp.
- Vay ngắn hạn ngân hàng: doanh nghiệp có thể tiến hành làm hồ sơ vay vốn
ngắn hạn của ngân hàng, khi hết quá trình sản xuất kinh doanh thu đợc tiền sẽ
trả cho ngân hàng cả gốc và lãi.
- Chiết khấu thơng phiếu hoặc các giấy tờ khác: khi doanh nghiệp bán chịu
hàng cho đối tác sẽ nhận đợc thơng phiếu do khách hàng. Nếu cần vốn mà cha
đến hạn trả của khách hàng, doanh nghiệp có thể lên ngân hàng để chiết khấu
thơng phiếu lấy một khoản tiền.
* Các nguồn tài trợ dài hạn
Các nguồn tài trợ dài hạn bao gồm
- Vay trên thị trờng tài chính: bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái
phiếu của doanh nghiệp trên thị trờng tài chính. Bằng cách này doanh nghiệp sẽ
có một lợng vốn dài hạn và ổn định.
- Sử dụng vốn chủ sở hữu, hoặc lợi nhuận để lại: khi mới thành lập doanh
nghiệp, doanh nghiệp nào cũng có một lợng vốn chủ nhất định, trong quá trình
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp làm ăn có lãi có trích lợi nhuận để lại nhằm

dùng, nên trong doanh nghiệp tồn kho một lợng thành phẩm nhất định, nhất là
những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ có quy trình chế tạo tốn nhiều
thời gian thì dự trữ, tồn kho sản phẩm là rất lớn.
Có nhiều phơng pháp quản lý hàng tồn kho nhng ở đây chúng ta chỉ đề cập
đến một số các phơng pháp nh sau:
1. Quản lý hàng tồn kho theo phơng pháp cổ điển- EOQ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mô hình đợc giả định những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau. Khi
doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí nh chi
phí bốc xếp hàng hoá, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm nh ng nói chung có
hai loại chi phí chính:
- Chi phí lu kho: đây là những chi phí liên quan tới việc tồn trữ hàng hoá
bao gồm chi phí hoạt động (chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng
hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản ); chi phí tài chính (trả lãi tiền
vay, chi phí về thuế, khấu hao ).
Gọi Q là số lợng mỗi lần cung ứng hàng hoá thì dự trữ trung bình sẽ là Q/2.
Gọi C
1
là chi phí lu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lu kho của doanh
nghiệp là
- Chi phí đặt hàng (chi phí hợp đồng): bao gồm chi phí quản lý giao dịch
và vận chuyển hàng hoá. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thờng ổn định
không phụ thuộc vào số lợng hàng hoá đợc mua.
Nếu gọi D là toàn bộ lợng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời
gian( tháng, quý, năm) thì số lợng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q. Gọi C
2

chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là:


+ Điểm đặt hàng mới: trong thực tiễn hoạt động hầu nh không có doanh
nghiệp nào đến khi nguyên vật liệu hết rồi mới đặt hàng. Nhng nếu nh đặt hàng
quá sớm thì sẽ làm tăng lợng hàng tồn kho tốn kém chi phí. Do vậy, các doanh
nghiệp cần phải xác định điểm đặt hàng mới. Thời điểm đặt hàng mới đợc xác
định bằng số lợng nguyên liệu sử dụng mỗi ngày nhân(x) với độ dài của thời
gian giao hàng.
+ Lợng dự trữ an toàn: nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày là luôn biến đổi,
đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ hoặc sản xuất
những hàng hoá nhạy cảm với thị trờng. Do đó, để đảm bảo cho sự ổn định của
sản xuất, doanh nghiệp cần phải duy trì một lợng hàng hoá tồn kho an toàn. L-
ợng dự trữ an toàn hoàn toàn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp.
Lợng dự trữ an toàn là lợng hàng hoá dự trữ thêm vào lợng dự trữ tại thời điểm
đặt hàng.
2. Phơng pháp cung cấp đúng lúc (dự trữ = 0)
Theo phơng pháp này, các doanh nghiệp có trong một số ngành nghề có
liên quan chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn
đặt hàng nào đó họ sẽ tiến hành hút những hàng hóa và sản phẩm dở dang của
các đơn vị khác mà họ không cần phải dự trữ. Sử dụng phơng pháp này sẽ làm
giảm tới mức thấp nhất chi phí lu kho. Tuy nhiên, đây chỉ là phơng pháp quản lý
đợc áp dụng trong một số loại dự trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp
với các phơng pháp quản lý khác.
c) Quản lý tiền mặt và các chứng khoán thanh khoản
Lợi thế của việc giữ tiền mặt
Tiền mặt đợc hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng. Nó đợc sử dụng để trả lơng, mua nguyên vật liệu,
mua tài sản cố định
Tiền mặt là một khoản không mang lại lãi cho doanh nghiệp, vì vậy quản
lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lợng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng
nhất. Việc giữ một lợng tiền mặt trong doanh nghiệp là hết sức cần thiết bởi vì:
Website: Email : Tel : 0918.775.368

=
i
CM
bn
..2
M
*
: tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
C
b
: chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i: lãi suất
d) Quản lý các khoản phải thu
+ Phân tích tín dụng khách hàng: để thắng lợi trong hoạt động kinh doanh
trên thị trờng, các doanh nghiệp có thể sử dụng chiến lợc về chất lợng sản phẩm,
về quảng cáo, về giá cả tuy nhiên trong nền kinh tế thị tr ờng, việc mua bán
chịu là một việc không thể thiếu, tín dụng thơng mại giúp doanh nghiệp đứng
vững trên thị trờng nhng có thể mang đến những rủi ro cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Tín dụng thơng mại tác động đến doanh thu bán hàng,
làm cho doanh thu bán hàng tăng lên, tín dụng thơng mại làm giảm chi phí tồn
kho của doanh nghiệp, làm cho việc sử dụng tài sản cố định trở nên hiệu quả
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đầu tư tạm thời bằng
cách mua chứng
khoán có tính thanh
khoản cao
Các chứng khoán thanh
khoản cao
Dòng thu
tiền mặt

thu sẽ không phải chịu ảnh hởng của yếu tố thay đổi theo mùa vụ của doanh số
bán. Sử dụng phơng pháp này doanh nghiệp có thể thấy đợc hoàn toàn nợ tồn
đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp. Cùng với cách theo dõi khác, ngời quản
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân=
Doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lý có thể thấy đợc sự ảnh hởng của các chính sách tài chính nói chung và chính
sách tín dụng thơng mại nói riêng.
1.3. Vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản lu động trong doanh nghiệp
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lu động trong doanh nghiệp
a) Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lu động
Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế
phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp
vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu
hoá chi phí.
Một doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu
tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Muốn vậy doanh nghiệp cần phải làm
tốt công tác quản lý doanh nghiệp, trong đó quản lý tài sản lu động là một trong
những mảng hết sức quan trọng, không những là đem lại lợi ích cho doanh
nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Việc nâng cao hiệu quả sử
dụng tài sản lu động là hết sức cần thiết vì:
- Nó sẽ đảm bảo khả năng linh hoạt về tài chính, nâng cao tính tự chủ và
giảm bớt rủi ro trong kinh doanh cho doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử
dụng tài sản lu động làm cho tài sản lu động đợc quay vòng nhanh dẫn đến tiết
kiệm cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp sẽ tự chủ không phụ thuộc vào các nguồn tài trợ từ bên
ngoài, việc sử dụng linh hoạt nguồn vốn sẽ làm giảm thiểu các rủi ro của doanh
nghiệp.

1.3.2.1. Hai phơng pháp chính sử dụng đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lu
động
Trong phân tích tài chính có rất nhiều phơng pháp để tiến hành đánh giá,
đối với việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lu động có hai phơng pháp chủ yếu
hay đợc sử dụng đó là: phơng pháp so sánh và phơng pháp tỷ số.
a) Ph ơng pháp so sánh
Đây là một phơng pháp đợc sử dụng hết sức phổ biến không chỉ trong lĩnh
vực quản lý tài chính. Và khi đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lu động các nhà
quản lý cũng rất hay sử dụng phơng pháp này. Khi sử dụng phơng pháp này ng-
ời ta phải lựa chọn các tiêu chuẩn, các căn cứ đợc sử dụng để so sánh. Các tiêu
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chuẩn này đợc lựa chọn tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu của doanh nghiệp.
Các nhà quản lý có thể sử dụng một số tiêu chuẩn nh sau:
Có thể lấy tài liệu của các năm trớc, kỳ trớc làm tiêu chuẩn để so sánh, tiêu
chuẩn này dùng để đánh giá sự phát triển của các chỉ tiêu đợc chọn lựa.
Hoặc doanh nghiệp có thể lấy những con số dự kiến trong tơng lai để so
sánh với hiện tại nhằm đánh giá việc thực hiện các định mức của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có thể sử dụng các con số mang tính quy chuẩn làm căn cứ
để so sánh nh các chỉ tiêu trung bình ngành, khu vực kinh doanh nhằm đánh
giá vị thế của doanh nghiệp trên thị trờng.
Doanh nghiệp muốn sử dụng phơng pháp này để đánh giá hiệu quả sử
dụng tài sản lu động thì phải sử dụng đồng nhất các chỉ tiêu để đánh giá. Khi
đánh giá các chỉ tiêu kinh tế cần phải quan tâm đến cả thời gian và không gian.
Về thời gian các chỉ tiêu đợc dùng để so sánh phải đợc thống nhất về nội dụng
kinh tế, cùng một phơng pháp tính toán và cùng một đơn vị đo lờng. Về không
gian các chỉ tiêu cần phải đa về cùng một quy mô và điều kiện nh nhau để so
sánh.
Thông thờng có các kỹ thuật so sánh nh sau:
- So sánh bằng số tuyệt đối: ngời ta tiến hành so sánh số tuyệt đối của kỳ

đánh giá một tỷ số của doanh nghiệp. Hơn nữa, việc áp dụng một công nghệ tin
học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt
các tỷ số; phơng pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả
những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời
gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Phơng pháp phân tích giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời
gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Về nguyên tắc với phơng pháp tỷ số, cần xác định đợc các ngỡng- các tỷ
số tham chiếu. Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp cần so
sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu.
Nh vậy, phơng pháp so sánh luôn đợc sử dụng kết hợp với các phơng pháp
phân tích tài chính khác. Khi phân tích, nhà phân tích thờng so sánh theo thời
gian, để nhận biết xu hớng thay đổi của biến cần đợc phân tích chẳng hạn xem
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status