Giải pháp tăng cường huy động vốn trung và dài hạn tại NHNTHN - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi đổi mới nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng
với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, đất nước ta đã có sự đổi mới sâu
sắc và toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế xã hội. Mấy năm gần đây, lĩnh vực
tiền tệ - ngân hàng và thị trường tài chính đã trở nên một trong những lĩnh vực
kích thích nhất của nền kinh tế. Việt Nam là một nước đang phát triển, TTCK
mới ở giai đoạn sơ khai, các doanh nghiệp còn chưa quen với việc huy động
vốn qua TTCK mà vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn của ngân hàng. Vì vậy tín
dụng là nghiệp vụ truyền thống đem lại khoảng 80% thu nhập cho các NHTM
ở nước ta hiện nay (trong khi thế giới chỉ là 20%, 80% thu nhập còn lại là từ
các hoạt động dịch vụ). Nhu cầu tín dụng gia tăng đòi hỏi các NHTM phải có
một lượng vốn đủ lớn để đáp ứng. Các nguồn ngắn hạn với đặc điểm thời gian
quay vòng vốn nhanh, ngân hàng có nhiều cách để huy động như từ các khoản
tiền gửi ngắn hạn của dân cư, tổ chức kinh tế xã hội, chứng chỉ tiền gửi ngắn
hạn, vay trên thị trường liên ngân hàng … thậm chí có thể lấy từ nguồn dài
hạn nếu cân bằng được chi phí huy động và lãi suất cho vay. Đối với nguồn
trung và dài hạn, do đặc điểm thời gian quay vòng vốn lớn (từ 1 năm trở lên),
các NHTM gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động. Các hình thức mà
hiện nay các NHTM đang tiến hành như huy động từ nguồn vốn tự có, tiền
gửi tiết kiệm trung và dài hạn, phát hành trái phiếu trung và dài hạn, phát
hành cổ phiếu (đối với NHTM cổ phần). Cũng như các NHTM làm thế nào để
huy động vốn có hiệu quả là một vấn đề bức xúc đặt ra đối với NHNTHN
hiện nay. Cùng với những kiến thức đã được học trong suốt 4 năm qua tại
trường em đã chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp mong có thể đóng góp ý
kiến nhỏ bé của mình vào vấn đề không chỉ các NHTM mà cả xã hội đang
quan tâm.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đánh giá kết quả huy động vốn, rút

tài sản. Đây cũng là điều kiện để dịch vụ thanh toán của ngân hàng ra đời.
Thực tiễn hoạt động các ngân hàng thường xuyên có người gửi tiền vào và rút
tiền ra, song tất cả người gửi tiền không rút ra cùng lúc đã tạo ra số dư thường
xuyên ở trong két. Do tính chất vô danh của tiền, nhà buôn tiền có thể tạm
thời sử dụng một phần tiền gửi để cho vay. Do các tổ chức, các cá nhân kinh
doanh đều muốn mở rộng sản xuất, muốn tăng khả năng cạnh tranh, còn
người tiêu dùng đời sống ngày càng được nâng lên, nhu cầu mua sắm tăng
nhưng trong một số trường hợp năng lực tài chính của họ chưa cho phép, do
đó nhu cầu vay ngày càng gia tăng. Hoạt động cho vay đã tạo lợi nhuận khá
lớn cho ngân hàng. Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt động
ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh. Ngân hàng bao gồm nhiều loại
tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính
nói riêng. Từ các ngân hàng tư nhân, quá trình tích tụ và tập trung vốn trong
ngân hàng đã dẫn đến hình thành ngân hàng cổ phần. Quá trình gia tăng vai
trò quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng đã tạo ra ngân hàng quốc
doanh, các ngân hàng liên doanh, các tập đoàn ngân hàng phát triển mạnh
trong những năm cuối thế kỉ 20. Căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động,
các ngân hàng bao gồm:
- Ngân hàng thương mại
- Ngân hàng đầu tư và phát triển
- Ngân hàng tiết kiệm
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Ngân hàng chính sách
- Ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng và các loại hình doanh nghiệp
Mỗi loại hình ngân hàng có đặc thù riêng nhưng xét trên phương diện
những loại hình dịch vụ mà họ kinh doanh có thể nói rằng ngân hàng là tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất so
với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Từ chỗ chỉ cho vay
ngắn hạn là chủ yếu, các NHTM đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho

Thứ nhất lĩnh vực chủ yếu của NHTM là tài trợ cho các hoạt động liên
quan đến thương mại, thực hiện kinh doanh với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận.
Mặc dù giờ đây các ngân hàng đều chuyển sang mô hình ngân hàng đa năng
nhưng nó vẫn mang những đặc trưng khác nhau về đối tượng và thị phần các
lĩnh vực tài trợ so với ngân hàng đầu tư (chủ yếu là tài trợ cho lĩnh vực đầu tư
phát triển), ngân hàng chính sách (thông qua hoạt động và dịch vụ ngân hàng
để thực hiện một chính sách kinh tế xã hội nào đó của nhà nước mà không vì
mục tiêu lợi nhuận), ngân hàng tiết kiệm (chủ yếu phục vụ cho việc tiết kiệm
của cá nhân tổ chức), hay ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng (là tổ chức kinh
doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng do các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình
tự nguyện thành lập với mục tiêu chủ yếu là tương trợ lẫn nhau cùng phát
triển trong kinh doanh.
Thứ hai với vai trò trung gian tài chính cho thấy đặc điểm của các
NHTM là tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh cao hơn so với bất kì tổ chức
nào trong nền kinh tế. Ngân hàng hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành
đầu tư, góp phần vào tập trung, phân phối vốn có hiệu quả. Trong nền kinh tế
xuất hiện các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (chi tiêu cho tiêu
dùng và đầu tư vượt quá thu nhập, họ cần bổ sung vốn, đồng thời cũng có
những cá nhân thặng dư trong tiêu dùng (thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các
khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ) họ có tiền để tiết kiệm. Để cả hai cùng
có lợi tất yếu sẽ nảy sinh mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm nghĩa là tiền sẽ
được chuyển từ người có thặng dư sang người có thâm hụt. Tuy nhiên mối
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan hệ tài chính giữa hai nhóm bị giới hạn do sự không phù hợp về qui mô
thời gian không gian, từ đó đòi hỏi phải có các trung gian giàu chuyên môn
kinh nghiệm đứng ra cung cấp các dịch vụ tài chính đáp ứng nhu cầu cụ thể
của từng cá nhân, tổ chức. Ngân hàng chính là một tổ chức thu hút tiết kiệm
lớn nhất đồng thời cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp,
cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước. Ngân hàng đóng vai trò là

thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá, dịch vụ. Các NHTM đã đưa ra nhiều
hình thức như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thanh toán bằng
các loại thẻ … cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và
cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn tiến hành bù trừ
với nhau thông qua ngân hàng trung ương hoặc thông qua trung tâm thanh
toán. Công nghệ ngân hàng được mở rộng về cả chiều rộng lẫn chiều sâu,
nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo ra tính thống nhất
trong thanh toán.
Cuối cùng NHTM bị sự điều hành của chính phủ chặt chẽ hơn so với
bất kì tổ chức nào trong nền kinh tế. Mỗi ngân hàng muốn được cấp giấy phép
hoạt động phải đáp ứng yêu cầu có một lượng vốn ban đầu đủ lớn, cam kết
thực hiện một số chính sách nhất định như cho vay, tài trợ cho một dự án hay
một khoản chi tiêu nào đó đồng thời trong quá trình hoạt động ngân hàng chịu
sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Ngân hàng còn là chỗ dựa quan trọng của
Chính phủ để thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là các chính sách tiền
tệ, vì vậy là công cụ kinh tế quan trọng của Chính phủ nhằm phát triển nền
kinh tế bền vững.
1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của NHTM
NHTM là một doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính cho công
chúng và các tổ chức trong nền kinh tế. Bắt đầu từ nghiệp vụ đổi tiền, đúc
tiền, cho vay nặng lãi, cất trữ hộ gọi là những người kinh doanh ngoại tệ rồi
nảy sinh dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, qua thời gian hoạt động
ngân hàng đến nay đã có nhiều đổi thay. Sự phát triển của nền kinh tế, điều
kiện cạnh tranh gay gắt buộc các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển phải
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tăng cường các dịch vụ, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của khách hàng. Các
hoạt động cơ bản hiện nay của ngân hàng bao gồm:
 Huy động vốn
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, vốn là nguyên liệu đầu

tín dụng khác). NHTM phải thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định của
NHNN. Mức dự trữ bắt buộc được xác định dựa trên nguồn vốn huy động
trong kì tính và tỷ lệ dự trữ bắt buộc cụ thể (tỷ lệ này thay đổi tuỳ theo thời kì
khác nhau, các nguồn khác nhau). Ngân quỹ của ngân hàng là tài sản không
sinh lời hoặc sinh lời rất thấp song lại có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng
nhu cầu chi trả thường xuyên. Do đó mỗi ngân hàng đều cố gắng duy trì ngân
quỹ ở mức thấp nhất có thể được mà vẫn đáp ứng khả năng chi trả, thanh toán
khi khách hàng yêu cầu.
• Nghiệp vụ cho vay
Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng, nó vừa giúp ngân hàng
mở rộng tín dụng, tăng lợi nhuận, vừa giúp cho các đơn vị có đủ nguồn vốn
để phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở Việt Nam hiện nay đối với hầu
hết các ngân hàng cho vay vẫn là hoạt động chủ yếu, được quan tâm mở rộng
trong khi về cơ bản hệ thống các dịch vụ ngân hàng thì đơn điệu về chủng
loại, chất lượng dịch vụ thấp còn xu hướng thế giới và ở các nước phát triển
họ quan tâm nhiều đến việc phát triển các dịch vụ tài chính. Các hình thức
cho vay chủ yếu của NHTM :
- Cho vay thương mại: Hình thức cho vay thương mại đầu tiên là chiết
khấu thương phiếu. Thực tế đây là hoạt động cho vay đối với người bán,
người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước sau đó
ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng là người mua, giúp họ có
vốn để mua hàng hoá dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng: Ở thời kì đầu, ngân hàng thợ vàng là những người
cho vay nặng lãi, thực hiện cho vay đối với cá nhân chủ yếu là những người
giàu có phục vụ mục đích tiêu dùng. Tuy nhiên sự sụp đổ của hệ thống ngân
hàng này sau đó đã khiến cho các NHTM giai đoạn sau không còn tích cực
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho vay tiêu dùng bởi họ tin rằng khả năng vỡ nợ tương đối cao. Nhưng rồi sự
gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và cạnh tranh, các ngân hàng đã hướng

việc ngân hàng tham gia vào đầu tư chứng khoán vì có khả năng quay vòng
vốn nhanh hơn cả và ưu thế về nguồn vốn so với các tổ chức và cá nhân khác.
Ưu điểm của hoạt động đầu tư là ngân hàng có thể thâm nhập trực tiếp giám
sát quá trình kinh doanh, nắm bắt nhanh chóng, chính xác các thông tin để kịp
thời có các biện pháp khi thấy dấu hiệu kinh doanh không tốt, giúp giảm rủi
ro cho nguồn vốn. Tuy nhiên để thực hiện được hoạt động đầu tư, ngân hàng
phai có lượng vốn lớn, ổn định trong lâu dài.
• Các hoạt động sử dụng vốn khác
Các hoạt động tài trợ cho các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao, cung cấp
các thông tin đánh giá kinh tế, quảng bá danh tiếng, mở rộng quan hệ, đặc biệt
là quan hệ tín dụng…
 Cung cấp các dịch vụ
Theo xu hướng hiện đại, các ngân hàng ngày càng mở rộng hoạt động
dịch vụ của mình, không chỉ giúp gia tăng thu nhập của ngân hàng mà còn
giúp đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tiết kiệm thời gian, của cải cho xã
hội. Các chuyên gia ngân hàng đánh giá rằng thu về dịch vụ thanh toán, kinh
doanh ngoại hối, đầu tư, đặc biệt là dịch vụ tài chính phi ngân hàng như
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chứng khoán, tư vấn tài chính, mua bán nợ của các NHTM Việt Nam … còn
rất thấp.
 Dịch vụ bảo quản tài sản hộ (còn gọi là dịch vụ cho thuê
két)
Ngân hàng thực hiện việc lưu giữ hộ những tài sản tài chính, bảo quản
vàng, các giấy tờ có giá, các tài sản và giấy tờ quan trọng khác cho khách
hàng trong két với nguyên tắc bí mật, an toàn, thuận tiện. Dịch vụ này phát
triển cùng các dịch vụ khác như mua bán các giấy tờ có giá cho khách hàng,
thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ…
 Dịch vụ quản lý ngân quỹ
Do có kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân,

 Dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng,
điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế
hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên
doanh với công ty bảo hiểm hoặc tổ chức ra các công ty bảo hiểm con (công
ty trực thuộc ngân hàng). Các hình thức bảo hiểm phổ biến hiện nay là gắn
bảo hiểm với tiết kiệm như: tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí…
 Dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi
nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi nên các ngân hàng khác (thường là các
ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ đại lý cho các ngân hàng khác như thanh
toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm đầu mối trong đồng tài trợ.
 Dịch vụ thông tin tư vấn
Xuất phát từ đặc điểm kinh doanh riêng có của hệ thống ngân hàng đã
tạo cho nó lợi thế hơn hẳn trong việc cung cấp cho khách hàng những lời
khuyên tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về mọi lĩnh vực mà khách hàng
yêu cầu, qua đó giúp khách hàng giảm thấp thiệt hại và nâng cao mức lợi
nhuận. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như chuyên gia tư vấn tài chính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho họ. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, về thành lập,
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng không
những thu được phí của khách hàng mà còn mở rộng quan hệ, nắm bắt chính
xác tình hình kinh doanh của họ giúp cho việc ra quyết định cho vay mà còn
củng cố, tăng cường vị trí, uy tín của ngân hàng một cách nhanh chóng.
 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Khi khách hàng gửi tiền, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực
hiện lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho
thanh toán không dùng tiền mặt, Người gửi tiền không cần phải đến ngân
hàng để lấy tiền mà chỉ việc viết phiếu chi trả, khách hàng của họ mang giấy

vốn điều lệ theo từng thời kì còn thể hiện năng lực và xu thế phát triển của
mỗi ngân hàng. Tuy vốn điều lệ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn
huy động nhưng mang tính ổn định, vững chắc cao, có thể thay đổi theo từng
thời kỳ căn cứ vào hoạt động của ngân hàng đồng thời nó có vai trò quan
trọng bổ sung vào nguồn trung và dài hạn với chi phí rẻ, tức là ngân hàng
không phải trã lãi cho việc huy động mà chỉ mất chi phí để duy trì.
Thứ hai vốn quyết định khả năng cho vay và thực hiện các hoạt động
của ngân hàng. Có vốn nhiều ngân hàng mới có thể tăng cường cho vay đặc
biệt là đối với những khách hàng lớn, ngược lại nếu nguồn vốn hạn hẹp, ngân
hàng sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để tạo lợi nhuận. Khả năng cho vay là cơ sở để
khách hàng đánh giá qui mô, tiềm năng và mức độ uy tín của ngân hàng. Một
ngân hàng mà khả năng cho vay kém đồng nghĩa với việc qui mô ngân hàng
nhỏ, mức độ uy tín không cao, khách hàng sẽ cảm thấy không yên tâm khi gửi
tiền cũng như sử dụng các dịch vụ khác. Tất cả các hoạt động của ngân hàng
đều có mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Ngân hàng phải quan tâm phát triển đồng đều tất cả các mặt, cân đối giữa huy
động vốn và sử dụng vốn tránh rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán.
Nguồn vốn không chỉ quyết định khả năng cho vay mà còn ảnh hưởng đến
việc thực hiện các hoạt động khác của ngân hàng như hoạt động thanh toán,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đầu tư, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Thứ ba vốn là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Người xưa có câu: " Buôn tài không bằng dài vốn ". Muốn thắng trong cạnh
tranh ngân hàng không thể không có một nguồn vốn ổn định và vững mạnh.
Khi đời sống con người tăng lên, mức độ đòi hỏi đối với các hoạt động dịch
vụ cũng tăng lên về cả số lượng và chất lượng. Các ngân hàng thành công
luôn biết nắm bắt cơ hội kinh doanh, xác định đúng nhu cầu thị trường, có sự
đầu tư chiều sâu. Nhưng để làm được điều đó một trong những yếu tố quan

chuyên gia ngân hàng ngày càng có kinh nghiệm hơn trong việc thẩm định để
ra các quyết định cho vay, làm cho tính rủi ro của các khoản cho vay trung và
dài hạn giảm đi. Thu nhập đem lại từ việc cho vay trung và dài hạn lớn hơn từ
ngắn hạn rất nhiều, hơn nữa nó lại ít chịu ảnh hưởng của những biến động
kinh tế hàng ngày so với việc cho vay ngắn hạn. Do các khoản cho vay ngắn
hạn không thể chuyển hoá hoàn toàn để cho vay trung và dài hạn mà bị giới
hạn trong một tỷ lệ nhất định nên chỉ các nguồn trung và dài hạn mới đáp ứng
được nhu cầu cho vay trung và dài hạn của ngân hàng.
Thứ hai nguồn vốn trung và dài hạn là một phần khá quan trọng
giúp ngân hàng thực hiện cho vay ngắn hạn. Để đảm bảo khả năng thanh toán,
Ngân hàng phải đảm bảo nguyên tắc cân bằng giữa thời hạn nguồn và tài sản,
hay sự cân bằng của huy động vốn và sử dụng vốn. Sự khác biệt về kỳ hạn
nguồn và tài sản là tất yếu nhưng nó có thể tạo thu nhập cao hơn cho ngân
hàng . Để xác định kỳ hạn của nguồn và tài sản người ta dựa vào kỳ hạn thực
tế. Nguồn trung và dài hạn có thể dùng để cho vay ngắn hạn do người ta
chuyển hoán kỳ hạn của nguồn. Tỷ lệ cho phép chuyển từ nguồn ngắn hạn
sang trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn dể cho vay trung và dài hạn
do NHNN quy định là 25%. NHNN phải quy định tỷ lệ này để đảm bảo khả
năng thanh toán của NHTM. Tuy nhiên khi chuyển hoá từ nguồn trung và dài
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hạn sang ngắn hạn thì lại không phải tuân theo tỷ lệ nào do thời hạn nguồn
ngắn hạn nhỏ hơn nguồn trung và dài hạn. Còn tỷ lệ chuyển hoá là bao nhiêu
tuỳ thuộc vào chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng, tuỳ vào đòi hỏi cho
vay ngắn hạn đồng thời cũng phải tính đến chi phí huy động nguồn trung và
dài hạn với lãi suất cho vay ngắn hạn.
Thứ ba nguồn vốn trung và dài hạn còn là chỗ dựa để ngân hàng thực
hiện các hoạt động khác. Ngoài hoạt động tín dụng, các NHTM còn thực hiện
rất nhiều hoạt động khác. Giờ đây cạnh tranh giữa các ngân hàng chủ yếu là
cạnh tranh về dịch vụ. Các ngân hàng liên tiếp tung ra thị trường các loại hình

hạn là một loại quan trọng nhất trong cơ cấu nguồn vốn, là cơ sở giúp cho mọi
hoạt động của Ngân hàng
1.2. Huy động vốn trung và dài hạn
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm vốn của NHTM
Khái niệm
Khái niệm về vốn của NHTM bắt nguồn từ khái niệm về nguồn vốn nói
chung trong lịch sử kinh tế học. Ngay từ thời kỳ đầu của lịch sử kinh tế học
người ta đã nói đến vốn, cùng với lao động, kỹ thuật là các yếu tố quan trọng
của quá trình kinh doanh tạo ra giá trị thặng dư.
Vốn là biểu hiện bằng tiền giá trị của các tài sản hữu hình, tài sản vô
hình, tài sản tài chính được đầu tư vào các hoạt động kinh tế xã hội, quốc
phòng, an ninh đối ngoại. Trong phạm vi một quốc gia, một xã hội, vốn là
toàn bộ tài sản tồn tại đến tất cả hình thái mà một xã hội, một đất nước có
được ở một thời điểm hay một thời kỳ nhất định, có thể chi phối và sử dụng
cho việc xây dựng, phát triển đất nước, hoạt động của doanh nghiệp và nhu
cầu của hộ gia đình.
Vốn của NHTM là biểu hiện bằng tiền toàn bộ giá trị tài sản hữu hình,
tài sản vô hình, tài sản tài chính mà ngân hàng có được bao gồm nguồn tự có
và nguồn huy động.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vốn trung và dài hạn của NHTM là biểu hiện bằng tiền toàn bộ giá trị
mà ngân hàng tạo lập đuợc bao gồm nguồn vốn tự có (ngân hàng có toàn
quyền sở hữu và sử dụng), nguồn vốn huy động với thời hạn từ 1 năm trở
lên (ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu).
Đặc điểm
Thứ nhất vốn được biểu hiện dưới hình thái giá trị của những tài sản,
đại diện cho một lượng giá trị thực của một tài sản. Tất cả mọi tài sản đều có
một giá trị nhất định. Để hình thành nên tài sản phải có sự chuyển đổi từ
nguồn vốn, dùng vốn để hình thành nên tài sản. Chính vì vậy nguồn vốn và tài

lời. Tài sản mang lại thu nhập chủ yếu, còn nguồn vốn lên quan tới chi phí
chủ yếu của ngân hàng, chi phí trả lãi. Quy mô huy động càng tăng, tài sản
càng tăng, khả năng sinh lời có thể càng lớn hoặc ngược lại. Nếu dùng chỉ
tiêu chênh lệch thu chi từ lãi (thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi) để đo mối liên
hệ sinh lời giữa nguồn vốn và tài sản, thì sinh lời tăng khi lãi suất bình quân
của tài sản phải lớn hơn lãi suất bình quân của nguồn vốn hoặc lãi suất biên
của tài sản phải lớn hơn lãi suất biên của nguồn vốn. Điều này có nghĩa là
nguồn vốn và sự gia tăng nguồn vốn với quy mô và cấu trúc nhất định cần
được phân bổ cấu tạo thành các tài sản sinh lời thích hợp. Việc gia tăng cho
vay và đầu tư với mức rủi ro thấp nhất chính là điều kiện để gia tăng sinh lời.
Thứ ba vốn là hàng hoá phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Vốn
cũng được coi là một hàng hoá nên nó cũng có thị trường mua bán riêng đó là
thị trường tài chính. Trong thị trường tài chính những người có vốn tạm thời
nhàn rỗi (thu nhập > chi tiêu) nếu không trực tiếp sử dụng vốn để tạo ra thu
nhập những người này sẽ tiến hành chuyển quyền sử dụng sang cho những
người thiếu vốn, cần vốn để trực tiếp sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất
kinh doanh tạo ra lợi nhuận. Việc di chuyển vốn đầu tư thông qua việc mua
bán các công tụ tài chính trên thị trường tài chính làm nảy sinh hiện tượng
tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn Thị trường tài chính tạo
điều kiện cho người có cơ hội đầu tư, làm tăng khả năng sản xuất, giúp nâng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cao năng suất và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, trực tiếp cải thiện mức
sống của người tiêu dùng bằng cách giúp họ chọn thời điểm mua sắm tốt hơn.
Cuối cùng một khoản tiền phải đạt đến một lượng nhất định khi muốn
thực hiện một hoạt động kinh doanh nào đó mới được coi là nguồn vốn vì vậy
vốn còn có đặc điểm là phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất
định.
1.2.2. Các phương thức huy động vốn trung và dài hạn
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện tập trung và

nước cấp. Nếu là ngân hàng cổ phần thì các cổ đông đóng góp, ngân hàng tư
nhân thì do vốn thuộc sở hữu tư nhân. Nguồn vốn hình thành ban đầu tuy
chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng, nhưng
mang tính ổn định, vững chắc đồng thời có thể thay đổi theo từng thời kỳ nhất
định căn cứ vào quy mô hoạt động của ngân hàng.
 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Là số vốn do ngân hàng tạo ra từ kết quả kinh doanh tổng hợp và các
hoạt động khác. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ theo
nhiều phương thức tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể và mục tiêu hoạt động
trong từng thời kỳ.
- Nguồn từ lợi nhuận: Ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực tiền tệ cũng như các tổ chức kinh doanh khác sẽ thu được lợi
nhuận. Trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn 0, chủ ngân hàng có xu hướng
gia tăng vốn chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư.
Tỷ lệ chuyển tuỳ thuộc vào cân nhắc của từng chủ ngân hàng về tích luỹ và
tiêu dùng. Những ngân hàng lâu năm, thu nhập ròng lớn hơn, nguồn tích luỹ
từ lợi nhuận sẽ cao hơn so với vốn của chủ hình thành ban đầu.
- Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để
mở rộng quy mô, đổi mới trang thiết bị đầu tư vào các dự án mới, đáp ứng
yêu cầu gia tăng vốn chủ do NHNN quy định… Đặc điểm của hình thức huy
động này là không thường xuyên, song giúp cho ngân hàng có được lượng
vốn sở hữu lớn hơn vào lúc cần thiết.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Các quỹ
Theo tinh thần của các Pháp lệnh Ngân hàng và dự thảo luật Ngân hàng
thì mọi NHTM hoạt động ở Việt Nam đều phải thành lập các loại quỹ dự trữ
bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và Quỹ dự trữ đặc biệt. Ngoài ra
còn một số quỹ khác tuỳ thuộc vào quy định của từng nước và yêu cầu của
từng ngân hàng khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status