Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa Tỉnh và huyện, xã ở tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2004-2007- Thực trạng, phương hướng, giải pháp hoàn thiện - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực tài chính đồng thời
nó cũng là một công cụ tài chính quan trọng của một Quốc gia. Cùng với sự phân
cấp quản lý kinh tế và hành chính thì ngân sách nhà nước cũng được phân cấp lý
quản lý. Phân cấp quản lý ngân sách là cần thiết, nó giúp quá trình quản lý và phân
bổ một cách hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực tài chính khan hiếm của quốc
gia, nó còn tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển hài hoà về
kinh tế xã hội.Sự phân cấp có thể là khác nhau phụ thuộc vào điều kiện về chính
trị, kinh tê, xã hội của từng quốc gia.
Ở Việt Nam thì việc phân cấp quản lý ngân sách đã được Nhà nước theo đuổi từ
năm 1986, cụ thể hoá hơn khi ban hành luật ngân sách nhà nước năm 1996, và sau
đó là là luật sửa đổi, bổ sung năm 2002( có hiệu lực từ năm 2004), nó đã góp phần
vào việc quản lý có hiệu quả hơn ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nứơc bao gồm : ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Trong đó ngân sách địa phương lại bao gồm ngân sách cấp tỉnh,ngân sách cấp
huyện, ngân sách cấp xã. Việc phân cấp quản lý ngân sách địa phương là một phần
quan trọng trong phân cấp quản lý ngân sách ở nước ta. Đây là vấn đề được Nhà
nước rất quan tâm, với điều kiện của từng địa phương mà việc phân cấp quản lý
ngân sách giữa các cấp chính quyền địa phương cũng rất khác nhau. Hiệu quả của
việc phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển chung của cả nước, nếu việc phân cấp quản lý các cấp chính quyền địa
phương tốt nó không những đảm bảo việc thực hiện tốt được các nhiệm vụ đề ra
mà còn thể hiện sự tụ chủ, sáng tạo của địa phương trong việc sử dụng ngân sách.
Tuy nhiên với phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương ngoài những thành tựu đạt
đựơc vần còn tồn tại những bất cập cần phải được hoàn thịên, để đảm bảo việc
phân cấp quản lý ngân sách hiệu quả hơn góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương.
1
Với lý do đó và qua quá trình thực tập tại sở tài chính Bắc Ninh, em xin chọn đề tài

- Phạm vi nghiên cứu; nghiên cứu tình hình phân cấp quản lý ngân sách địa
phương liên quan đến một số phân cấp quản lý cụ thể như:
+ Phân cấp quản lý thu, chi ngân sách
+ Phân cấp quản lý phân định quỳên hạn giữa trung ương và tỉnh, giữa tỉnh, huyện,
xã ở Bắc Ninh
Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu tập trung là phân cấp quản lý ngân sách địa
phương và quan tâm chủ yếu đến phân cấp quản lý ngân sách giữa tỉnh và huyện ở
Bắc Ninh
5. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, khảo sát , phân tích, so sánh..
6. Kết cấu chuyên đề:
Trừ phân mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của chuyên đề thực tập gồm có 3 chương:
Chương I :Cở sở lý luận của việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Chương II :Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách nhà nước giữa Tỉnh và huyện,
xã ở Bắc Ninh giai đoạn 2004-2007
Chương III: Phương hướng, biện pháp hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách giữa
tỉnh và huyện, xã đối với tỉnh Bắc Ninh
Với sự giúp đỡ tận tình trực tiếp của thầy giáo GS- TS ĐÀM VĂN NHUỆ và sự giúp
đỡ nhiệt tình của cán bộ, nhân viên phòng Quản lý ngân sách của Sở Tài Chính
Bắc Ninh em đã hoàn thành báo cáo chuyên đề thực tập. Tuy nhiên với một sinh
viên sắp tốt nghiệp thì kinh nghiệm thực tế hạn chế, khả năng nhận thức lý luận và
thực tiễn còn chưa sắc bén , thời gian hạn hẹp, cho nên đề tài không thể tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế. Vì vậy kính mong sự phê bình, góp ý của thầy, các cán
bộ phòng Quản lý ngân sách Bắc Ninh để đề tài này hoàn thiện và phong phú hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên
Nguyễn Thị Quỳnh
3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN

tác động vào nền kinh tế để thúc đẩy( kìm hãm) sự phát triển kinh tế, đảm bảo
công bằng xã hội, bảo vệ các tầng lớp dân cư.
Thông qua việc lập, sử dụng ngân sách nhà nước bản chất của ngân sách được hình
thành. Ngân sách nhà nước thể hiện quan hệ kinh tế, tài chính giữa Nhà nước và
các chủ thể kinh tế khác của nền kinh tế hàng hóa trong quá trình phân bổ, sử
dụng nguồn lực của nền kinh tế, phân phối và phân phối lại thu nhập. Bản chất
kinh tế của ngân sách gắn liền với bản chất chính trị và bản chất giai cấp cầm
quyền
Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng
phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội
- Ngân sách nhà nước điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngân sách
nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát
triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Trước hết nhà nước sẽ hướng hoạt
động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định
để điều
Vai trò của ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước đảm bảo nguồn tài chính cho việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của Nhà nước
- Ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước tác động
vào nền kinh tế. Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng, giúp điều chỉnh cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy quá trình đô thị hoá. Cùng với các công cụ khác hỗ trợ sự hình
thành đồng bộ các yếu tố thị trường, khắc phục các thất bại của thị trường, đảm
bảo tính công bằng, môi trườn kinh doanh lành mạnh và sự phát triển hài hoà giữa
các địa phương.
- Ngân sách nhà nước đảm bảo nguồn tài chính để nhà nước thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của mình. Chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước là nhiều và mang
tính quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước, do vậy để hoàn
thành các nhiệm vụ đó thì tài chính là điều kiện không thể thiếu, nó đóng vai trò vô
cùng lớn.
1.1.2. Khái niệm của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

đầu vào
Hai là: Phân cấp quản lý ngân sách là tất yếu vì phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ
giữa phân cấp quản lý kinh tế và phân cấp quản lý ngân sách.
6
Phân cấp quản lý ngân sách là một nội dung quan trọng trong phân cấp quản lý
kinh tế giữa các cấp chính quyền. Do đó việc phân cấp quản lý ngan sách phải căn
cứ vào phân cấp quản lý kinh tế
Ngượclại phân cấp quản lý ngân sách đúng sẽ có tác động quan trọng đảm bảo sự
thành công của phân cấp quản lý kinh tế. Phân cấp quản lý ngân sách là động lực
thúc đẩy các địa phương chủ động khai thác các tiềm năng, thế mạnh của địa
phương mình trong phát triển kinh tế địa phương và đóng góp ngày càng nhiều vào
ngân sách nhà nước
Ba là: Phân cấp ngân sách còn là một yêu cầu tất yếu của việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả của kế hoạch hoá và quản lý ngân sách
Muốn quản lý thu, chi chặt chẽ không bỏ sót thu, bảo đảm chi hợp lý, tiết kiệm thì
các khoản thu, chi cụ thể đều phải có chủ ………………
Nhà nước trung ương không thể quản lý tất tốt nếu không phân cấp quản lý ngân
sách cho địa phương, các ngành các lĩnh vực khi mà các khoản thu, chi có số lượng
lớn,nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Chỉ có phân cấp hợp lý trung ương mới có thể
tập trung quản lý các nguồn thu, khoản chi lớn quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển kinh tế, xã hội chung
Phân cấp quản lý kinh tế nói chung và phân cấp quản lý ngân sách nói riêng hợp lý
sẽ phát huy được tính chủ động sáng tạo của các ngành, địa phương trong phát
triển kinh tế xã hội. Sự phát triển kinh tế của vùng được quan tâm đặc biệt. Việc
phân cấp quản lý ngân sách có mục tiêu nhằm phát triển địa phương
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng, là sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế, sự gia tăng
chất lượng cuộc sống, mức độ công bằng, dân chủ, đặc biệt là khối lượng, chất
lượng, hiệu quả của sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển ngày càng
cao hơn
Phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà của phát triển bền vững về kinh tế, xã

+ Phát triển giáo dục và đào tạo
+ Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân
+ Xu thế là gợi ý cho phân cấp quản lý kinh tế trong đó đặc biệt quan tâm đến phân
cấp quản lý ngân sách nhà nước: Địa phương được giao nhiệm vụ quản lý thì phải
được phân cấp nguồn tài chính cho việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ đó. Địa
phương được giao nhiệm vụ quản lý lĩnh vực kinh tế nào thì phải bảo toàn, phát
triển vốn tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước
8
Các nhiệm vụ phân cấp quản lý ngân sách mà trung ương phân cấp địa phương
phải đảm bảo quản lý chặt chẽ và có hiệu quả cao, đúng luật
Việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước liên quan đến hàng loạt phân cấp quản
lý cụ thể, chẳng hạn như:
- Các phân cấp quản lý thu, chi ngân sách
- Các phân cấp quản lý thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ nhà nước với
chủ thể nền kinh tế
- Phân cấp quản lý về phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa trung ương và các
cấp chính quỳên địa phương trong quá trình hình thành, tạo lập và sử dụng hợp lý
và có hiệu quả ngân sách nhà nước
Ở Quốc gia nào trên thế giới thì hệ thống chính quyền cũng được cấu tạo thành
nhiều cấp: Cấp trung ương, tỉnh( Thành phố), huyện, xã hoặc Trung ương ( Liên
bang), bang, tỉnh, huyện, xã. Ứng với mỗi cấp chính quyền thường là một cấp
ngấn sách. Tuy nhiên, có hai mô hình tổ chức chủ yếu là : Mô hình “ lồng ghép” và
mô hình “ không lồng ghép”
Với mô hình “Lồng ghép” Ngân sách trung ương bao gồm cả ngân sách tỉnh. Ngân
sách nhà nước được tổng hợp từ dự toán ngân sách nà nước của các bộ ngành ở
trung ương và các tỉnh. Với mô hình này ngân sách tỉnh có vai trò quan trọng vì nó
bao gồm cả ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Ngân sách nhà nước bao
gồm hai phần: Phần tổng hợp từ dự toán ngân sách của khối các tỉnh( thành phố) và
phần tổng hợp từ dự toán ngân sách các bộ , ngành ở trung ương
1.2.2. Nội dung cơ bản và các nguyên tắc cơ bản của phân cấp quản lý ngân sách

quốc gia, nghị quyết của Quốc Hội về ngân sách nhà nước hàng năm
- Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc Hội:
. Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực ngân sách
. Thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách nhà nước, các báo cáo
về thực hiện ngân sách nhà nước và quyết toán ngân sách nhà nước do Chính Phủ
trình Quốc Hội
. Thẩm tra phương án phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ
sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do
Chính Phủ trình Uỷ ban thường vụ Quốc Hội
. Giám sát hoạt động của Chính Phủ, các ngành, các cấp trong việc thực hiện ngân
sách nhà nước và việc thực hiện pháp luật về ngân sách của các tổ chức và cá nhân
10
. Kiến nghị với Quốc Hội các vấn đề về ngân sách, tài chính, tiền tệ
c. Chính Phủ
Thực hiện việc quản lý, tổ chức triển khai và kiểm tra việc thực hiện dự toán ngân
sách nhà nước. Cụ thể như sau:
- Chính phủ trình Quốc Hội, Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và các dự án luật, pháp
lệnh và các dự án khác về ngân sách nhà nước
- Ban hành các văn bản pháp quy về ngân sách nhà nứơc theo thẩm quyền
- Lập và tình Quốc Hội dự toán ngân sách nàh nước và phân bổ ngân sách nhà
nước, dự toán điều chỉnh ngân sách nhà nước trong trường hợp cần thiết
- Lập và trình Uỷ ban thường vụ Quốc Hội phương án phân bổ cụ thể ngân sách
trung ương
- Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc Hội và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc
Hội, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, ngành, nhiệm vụ
thu, chi và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho từng tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương
- Thống nhất phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ
giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong việc thực hiện ngân sách nhà nước
- Tổ chức và kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước, báo cáo Quốc Hội, Uỷ

toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân
sách trung ương trình Chính Phủ
- Đề xuất các biện pháp nhằm thực hiện phân cấp quản lý tăng thu, tiết kiệm chi
ngân sách nhà nước
- Chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành trong việc xây dựng các chế độ, tiêu chuẩn
định mức chi ngân sách nhà nước trình Chính phủ quyết định hoặc quyết định theo
phân cấp của Chính phủ để thi hành thống nhất trong cả nước
- Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với tất cả các tổ chức kinh tế, các đơn vị hành
chính sự nghiệp và các đối tượng khác có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước và sử
dụng ngân sách nhà nước
- Quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ khác của nhà nước
- Lập quyết toán ngân sách trung ương, tổn hợp, lập quyết toán ngân sách nhà nước
trình Chính phủ, tổ chức quản lý, kiểm tra việc sử dụng tài sản nhà nước
Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư:
- Trình Chính phủ dự án kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của cả nước và các cân
12
đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, trong đó có cân đối tài chính tiền tệ, vốn đầu
tư XDCB làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài chính, ngân sách
- Phôí hợp với Bộ Tài Chính lập dự toán và phương án phân bổ ngân sách nhà nước
trong lĩnh vực phụ trách
- Phối hợp với Bộ Tài Chính và các Bộ , ngành hữu quan kiểm tra đánh gía hiệu
quả của vốn đầu tư các công trình xây dựng cơ bản
Ngân hàng nhà nước Việt Nam:
- Phối hợp với Bộ Tài Chính trong việc lập dự toán ngân sách nhà nước đối với kế
hoạch và phương án vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
- Tạm ứng cho ngân sách nhà nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà
nước theo quyết định của Thủ tướng Chính Phủ
Các bộ, cơ quan chuyên ngành:
- Phối hợp với Bộ Tài Chính, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong quá trình lập, phân bổ
và quyết toán ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách, nhất là các Bộ

- Thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu
- Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành
- Các khoản thuế và thu khác tự hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí
- Tiền thuê mặt đất, mặt nước
- Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế
- Thu hồi tiền cho vay của ngân sách trung ương( cả gốc và lãi)
Thu từ quỹ dự trữ tài chính của trung ương
- Thu nhập từ vốn góp của ngân sách trung ương
- Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ở
nước ngoài cho Chính Phủ Việt Nam
- Phần nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của Pháp luật từ các khoản phí,và lệ
phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu không kể phí xăng, dầu và
lệ phí trước bạ
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật các khoản thu sự nghiệp của các
đơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý
- Chênh lệch thu lớn hơn chi của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
- Thu kết dư ngân sách Trung ương
- Thu chuyển nguồn ngân sách Trung ương năm trước chuyển sang
14
- Các khoản phạt, tịch thu và thu khác của ngân sách Trung ương theo quy định của
Pháp luật
Các khoản thu phân chia tỷ lệ phần trăm % giữa ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương
Được quy định tại luật ngân sách năm 2002 một số khoản như sau:
- Thuế giá trị gia tăng ( không kể thuế giá trị gia tăng hang hóa nhập khẩu) và thuế
giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết
- Thuế thu nhập doanh nghiệp( không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn
vị hạch toán toàn ngành và thuế thu nhập từ hoạt động xổ số kiến thiết
- Thúê thu nhập với người có thu nhập cao ( không kể các khoản thuế và thu khác

đấu Quốc gia và Quốc tế, quản lý các cơ sở thi đấu thể dục thể thao, và các hoạt
động thể dục, thể thao khác
+ Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
+ Các sự nghiệp kinh tế do Trung ương quản lý:
. Sự nghiệp giao thông: duy tu, bổ dưỡng, sửa chữa cầu đường, các công trình giao
thông khác, lập biểu báo và các biện pháp an toàn giao thông trên các tuyến đường
. Sự nghiệp nông,lâm, ngư nghiệp, thuỷ lợi: Bảo dưỡng sưả chữa các tuyến đê, các
công trình thuỷ lợi, các trại trạm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Các công
tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, công tác khoanh nuôi, bảo vệ, phòng
chống cháy rừng, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, điều tra cơ bản.
.Đo đạc hành chính, đo bản đồ, lưu trữ hồ sơ địa chính
.Định canh, định cư và kinh tế mới
.Các hoạt động sự nghiệp môi trường
. Sự nghiệp kinh tế khác
+ Chi cho các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội do ngân sách
trung ương đảm bảo
+ Chi cho các hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, các bộ, các cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, hệ thống toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân.
Hoạt động của cơ quan trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, hoạt động của cơ
quan trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội
cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
+ Chi trợ giá theo phân cấp quản lý nhà nước, chi thường xuyên trong các chương
trình quốc gia, dự án nhà nước do các cơ quan trung ương thực hiện, thực hiện chế
16
độ đối với người về hưu, mất sức, theo quy định của Bộ luật lao động cho các đối
tượng thuộc ngân sách Trung ương đảm bảo, quỹ hỗ trợ bảo hiểm xã hội theo quy
định của Chính phủ.
+ Chi hỗ trợ các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp đối với
thương binh, bệnh binh, liệt sỹ, thân nhân liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng
và các đối tượng phân cấp quản lý xã hội khác

- Các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại khoản 3 điều 8 của luật ngân sách
nhà nước
- Thu từ kết dư ngân sách địa phương
- Các khoản phạt, tịch thu và thu khác của ngân sách địa phương theo quy định của
pháp luật
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
- Thu chuyển nguồn từ ngân sách địa phương năm trước sang ngân sách địa phương
năm sau
D . Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương gồm:
Chi đầu tư phát triển:
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng
thu hồi do địa phương quản lý
- Đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của
Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Chi đầu tư phát triển trong các chương trình quốc gia do các địa phương thực hiện
- Các khoản chi đâù tư khác theo quy định của pháp luật
Chi thường xuyên:
- Chi các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, xã hội,
thông tin, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao, khoa học, công nghệ, môi trường
và các sự nghiệp khác do địa phương quản lý. Giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá,
nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông dân tộc nội trú và các hoạt động giáo dục khác; Đại
học, cao đẳng chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào
tạo, bồi dưỡng khác; Phòng bệnh, chữa bệnh và các hoạt động y tế khác; Các trại xã
hội, cứu tế xã hội, cứu đói, phòng chống các tệ nạn xã hội và các hoạt động
1.2.2.3. Quy định mối quan hệ giữa các cấp ngân sách
Tức là xác định các nguyên tắc về việc chuyển giao và tiếp nhận ngân sách giữa
cấp trên và cấp dưới, tuân theo những nguyên tắc này đảm bảo cho việc các cấp
18
làm đúng và hiệu quả công việc của mình. Qua số lượng, quy mô, cơ cấu chuyển
giao giữa các cấp có thể đánh giá được mức độ độc lập, tự chủ của mỗi cấp ngân

a. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phù hợp và đồng bộ với phân cấp
quản lý KT-XH và tổ chức bộ máy quản lý kinh tế, hành chính địa phương, đồng
thơì phù hợp với khả năng quản lý của mỗi cấp
b. Phân cấp nguồn thu ngân sách phảo trên cơ sỏ gắn trách nhiệm quản lý,
khai thác nguồn thu, chống thất thu. Nguồn thu gắn với trách nhiệm quản lý của
chính quyền cấp nào thì phân cho ngân sách cấp chính quyền đó. Hạn chế phân
chia nguồn thu có quy mô nhỏ cho nhiều cấp. Phân cấp tối đa nguồn thu trên địa
bàn để đảm bảo nhiệm vụ chi được giao, hạn chế bổ sung từ ngân sách cấp trên
c. Ngân sách cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ
quan trọng, như tập trung vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội, xây dựng
đô thị hiện đại thực hiện các chính sách quan trọng, bảo đảm hoạt động y tế, giáo
dục- đào tạo do tỉnh quản lý, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ
ngân sách cấp dưới chưa cân đối thu, chi ngân sách
Đối với nhiệm vụ chi xây dựng cơ bản các dự án thuộc tỉnh phải được ưu tiên bố
trí, sắp xếp căn cứ theo cơ cấu đầu tư từng lĩnh vực, theo nghị quyết HĐND tỉnh,
phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội và khả năng ngân sách tỉnh và
hiệu quả đầu tư
Đối với các chương trình, nhiệm vụ theo các chính sách của địa phương phải đảm
bảo cấp được phân cấp nhiệm vụ chi được phân bổ kinh phí trong dự toán ngân
sách cấp đó và chịu trách nhiệm chủ động nguồn vốn quản lý, thanh toán, quyết
toán ở cấp đó.
d. Ngân sách huyện, thành phố được tăng cường nguồn thu tối đa để đảm bảo chủ
động thực hiện nhiệm cụ phát triển kinh tế- xã hội, trong phạm vi quản lý, bảo
đảm hoạt động thường xuyên của bộ máy chính quyền cơ sở
e. Đối với ngân sách cấp xã baỏ đảm tăng cường nguồn lực để đáp ứng nhiệm vụ
chi được phân cấp và phù hợp với điều kiện đặc điểm của xã, phường, thị trấn theo
các căn cứ và tiêu thức phân loại nhóm xã cụ thể
Quan hệ giữa các cấp ngân sách thuộc tỉnh thực hiện theo nguyên tắc:
- Mỗi cấp ngân sách được phân cấp nguồn thu cụ thể, đảm bảo chủ động thực hiện
nhiệm vụ được giao, HĐND tỉnh quyết định việc phân cáp nguồn thu, quy định tỷ

giao
+ Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, công trình, dự án có ý nghĩa lớn đối với yêu cầu
phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, nằm trong quy hoạch và đã được cấp có
21
thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây
dựng, ngân sách cấp dưới đã được bố trí chi nhưng chưa đủ nguồn, mức hỗ trợ
theo phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Hỗ trợ một phần để xử lý khó khăn đột xuất: Khắc phục thiên tai hoả hoạn, tai
nạn trên diện rộng với mức độ nghiêm trọng, sau khi ngân sách cấp dưới đã sử
dụng dự phòng nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu
+ Hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác, mức bổ sung theo
quyết định của cấp có thẩm quỳên
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
1.2.3.1. Hình thức cấu trúc nhà nước
Là sự cấu tạo Nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, xác lập những mối
quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan nhà nước trung ương
với cơ quan chính quyền địa phương. Với mỗi hình thức cấu trúc nhà nước, bộ
máy nhà nước được phân chia thành từng cấp và được giao nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể trong quản lý kinh tế, xã hội
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu:
Nhà nước đơn nhất: Có chủ quyền chung, thống nhất cơ quan quyền lực, cơ quan
quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương, tập trung quyền lực cao ở cấp
trung ương. Mức độ phân cấp quản lý ngân sách ở các nước theo hình thức cấu
trúc nhà nước đơn nhất thường mức độ và giới hạn, phần lớn tập trung ở ngân sách
trung ương
Nhà nước liên bang : Là nhà nước có từ hai hay nhiều thành viên hợp lại, cơ quan
quyền lực và cơ quan quản lý được tổ chức thành hai hệ thống. Trong đó một hệ
thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống riêng của từng thành viên. Đối với
cấu trúc nhà nước liên bang, hệ thống ngân sách nhà nước được chia thành ngân
sách liên bang, ngân sách các bang và ngân sách của các cấp trực thuộc bang.

tỉnh Hà Bắc lại được tách ra thành 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Tỉnh Bắc Ninh
được tái lập và bắt đầu hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 01/01/1997
Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 803,93km2, dân số 987.000 người nằm ở phía
đông bắc của thủ đô Hà Nội, có vị trí quan trọng trên tuyến hàng lang kinh tế trọng
điểm của Bắc Bộ đó là : Hà Nội- Hải Dương- Hải phòng- Quảng Ninh. Là một
trong 8 tỉnh kinh tế thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có tang trưởng
cao.
Tỉnh Bắc Ninh nằm trên những tuyến giao thông quan trọng như : Quốc lộ 1, quốc
lộ 18, có tuyến đường sắt nối với Trung Quốc, nằm trên hệ thống sông Cầu, sông
Đuống, sông Thái Bình, thuận tiện cho vận tải bằng đường thuỷ
2.1.2. Tình hình phát triển KT-XH tỉnh Bắc Ninh
Giai đoạn đầu sau khi tách tỉnh, Bắc Ninh gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển
kinh tế- xã hội. Tỉnh ít được đầu tư, nguồn tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, nền
công nghiệp nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, dịc vụ kém hiệu quả, kinh tế chủ yếu là
nông nghiệp nhưng năng suất không cao phụ thuộc vào thiên nhiên.Thiếu về vốn
lẫn nguồn nhân lực đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của tỉnh
Nhưng sau hơn 5 năm tái lập Tỉnh, nhờ có sự quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ, sát sao
của lãnh đạo Tỉnh và sự phối hợp hiệu quả của các cấp ngành kinh tế Bắc Ninh đã
đạt được những thành tựu đáng kể: Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp phát triển,
các làng nghề truyền thống phát triển và mở rộng và hiệu quả, các hoạt động dịch
vụ thương mại phát triển, cơ sở hạ tầng được chú ý đầu tư. Y tế, giáo dục được
quan tâm, đầu tư, an ninh quốc phòng được ổn định
24
Tính đến tháng 06/2007 thì tình hình kinh tế xã hội của Bắc Ninh có một số điểm
chú ý sau:
2.1.2.1. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng cao
Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội của UBND tỉnh thì tổng sản phẩm trong tỉnh
tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2006. Trong đó:
- Nông nghiệp tăng 0,26%
- Công nghiệp xây dựng tăng 20,7%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status