1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về doanh nghiệp
Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1.1.1
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tài sản và tên riêng, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt
động kinh doanh trên thị trường
Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị
lời, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp thành lập công ty có các hoạt động
không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhận
Phân loại doanh nghiệp
- Dựa vào hình thức tổ chức doanh nghiệp nhà nước có năm loại, gồm:
Thứ nhất, công ty nhà nước: là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn
điều lệ thành lập, tổ chức quản lý và tồn tại dưới hình thức công ty nhà nước độc lập
và Tổng công ty nhà nước.
Thứ hai, công ty cổ phần nhà nước: là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là
các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn. Tổ chức và hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Thứ ba, công ty TNHH nhà nước một thành viên là công ty TNHH do nhà nước
sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Tổ chức quản lý và đăng ký theo Luật Doanh nghiệp năm
2005.
Thứ tư, công ty TNHH nhà nước có từ hai thành viên trở lên: là công ty TNHH
trong đó có tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước, thành viên được ủy quyền
góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Thứ năm, doanh nghiệp cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước: là doanh
nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà
nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp.
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất và dịch vụ
luôn gắn liền với cuộc sống của con người, công việc sản xuất thuận lợi khi các sản
phẩm tạo ra được thị trường chấp nhận tức là đồng ý sử dụng sản phẩm đó. Để được
như vậy thì các chủ thể tiến hành sản xuất phải có khả năng kinh doanh.
Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của các
đối tượng tiêu dùng, không tự sản xuất được hoặc không đủ điều kiện để tự sản xuất
những sản phẩm vật chất và dịch vụ mà mình có nh cầu tiêu dung, hoạt động này
sáng tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ để cung cấp cho người tiêu dùng nhằm thu
được tiền công và lợi nhuận kinh doanh.
Thang Long University Library
3
“Nếu loại bỏ các thành phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết
quả cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là hoạt động kinh tế
nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”
Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có
thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.
Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thể kinh doanh có mối quan hệ mật
thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thể cung cấp đầu vào, với
khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho chủ
thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình ngày càng
phát triển.
Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: vốn là yếu tố quyết định cho
việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh. Chủ thể kinh
doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động …
Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận.
Các doanh nghiệp còn có thể góp vốn vào doanh nghiệp khác để đa dạng hóa
danh mục đầu tư tăng tầm ảnh hưởng của mình cũng như thu về một khoản lợi nhuận.
Doanh nghiệp có thể đầu tư vào các công ty, có thể mua các chứng khoán ngắn hạn
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản ngắn hạn sử dụng trong hoạt động
kinh doanh chính chủ yếu là nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, vật
liệu bao bì đóng gói …
Nguyên vật liệu chính: gồm giá trị của những loại nguyên vật liệu khi tham gia
vào quá trình sản xuất là bộ phận cơ bản cấu thành nên sản phẩm
Vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì nó chỉ
có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo, có thể kết hợp với vật liệu chính
làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dạng bề ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện
cho quá trình chế tạo sản xuất sản phẩm được thực hiện bình thường hoặc phục vụ
cho nhu cầu công nghiệp, kỹ thuật phục vụ cho quá trình lao động
Nhiên liệu: Thực chất là một loại vật liệu phụ nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt
lượng cho quá trình sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản
phẩm diễn ra bình thường
Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư sản phẩm dùng để thay thế, sữa chữa
máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư công cụ, dụng cụ sản xuất…
Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản là những vật liệu và thiết bị được sử dụng
cho công việc xây dựng cơ bản
Công cụ, dụng cụ lao động nhỏ là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử
dụng trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, chúng không đủ tiêu chuẩn là tài
sản cố định vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối ngắn. Công cụ, dụng cụ lao
động sử dụng trong doanh nghiệp được phân thành hai loại:
+ Công cụ, dụng cụ được phân bổ một lần (phân bổ 100%)
+ Công cụ, dụng cụ được phân bổ nhiều lần
Thang Long University Library
5
Bao bì, vật liệu đóng gói là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp sử dụng
trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh, nó luôn đi cùng sản phẩm của doanh
nghiệp trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
phẩm dở dang và thành phẩm. Với doanh nghiệp, vật liệu thô không sinh lời song là
điều kiện căn bản để sản xuất hàng hóa thành phẩm nên việc dự trữ hàng tồn kho hợp
6
lý là vấn đề của nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình SXKD của doanh nghiệp
mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ cho doanh nghiệp
Tài sn ngn hn khác: bao gồm một số tài khoản như tạm ứng, chi phí trả trước
ngắn hạn, các khoản ký quỹ, ký cược ngắn hạn, chi sự nghiệp.
Đặc điểm của tài sản ngắn hạn 1.2.3
Tài sản ngắn hạn được phân bổ đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm
đảm bảo cho quá trình sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và
đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Do đó tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có
các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tài sản ngắn hạn biểu diễn dưới các hình thức khác nhau như tiền và
các tài sản tương đương tiền, phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác.
Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt khác nhau của TSNH
trong doanh nghiệp: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả thị
đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, hàng tồn kho được sử dụng trong
khâu sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu khách hàng dùng để ghi nhận các
khoản tín dụng thương mại.
Thứ hai, tài sản ngắn hạn thường luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ
kinh doanh, phân biệt với TSDH như thiết bị, máy móc, nhà xưởng thường dùng
trong nhiều năm và trích khấu hao.
Thứ ba, tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thực
thể của sản phẩm. Đặc điểm này là điển hình của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,
hàng tồn kho dùng cho mục đích sản xuất, thường trải qua một quá trình biến đổi
thành phẩm, hàng hóa hoàn chỉnh để xuất bán ra thị trường.
Thứ tư, tài sản ngắn hạn có giá trị luân chuyển toàn bộ một lần và giá thành sản
phẩm làm ra. Điều này có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài
sản ngắn hạn thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi
dụng thương mại, các khách hàng, đối tác dựa vào đó để đưa ra đánh giá xem có hợp
tác hay không. Các công ty dựa vào mức độ thương mại của doanh nghiệp đang xem
xét để đưa ra những quyết định chắc chắn, bao gồm việc cho vay, cho thuê, tăng nợ
tín dụng, tiêu thụ giúp hàng tồn kho với giá cạnh tranh …
1.3 Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Quản lý tài sản ngắn hạn là nhiệm vụ tất yếu để duy trì tình hình kinh doanh ổn
định của doanh nghiệp. Việc quản lý tài sản phụ thuộc vào đặc điểm của ngành nghề
mà doanh nghiệp đang kinh doanh, quy mô của doanh nghiệp (lớn, nhỏ hay trung
bình), mức độ ổn định của doanh thu và theo từng thời kỳ của doanh nghiệp.
Quản lý tiền và các tài sản tương đương tiền 1.3.1
Quản lý tiền mặt và các tài sản tương đương tiền ở đây chính là quản lý tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, các loại chứng khoán thanh khoản. Doanh nghiệp cần phải
quản lý tiền và chứng khoán thanh khoản để có thể thực hiện giao dịch, đối phó với
các biến cố bất thường xảy đến với doanh nghiệp hoặc đầu tư sinh lời.
Dự trữ loại tài sản này có lợi song cũng tiềm ẩn rủi ro. Về mặt lợi ích, doanh
nghiệp luôn đảm bảo được khả năng thanh toán từ đó cải thiện được uy tín và vị thế
của doanh nghiệp. Ngược lại khi dự trữ quá nhiều sẽ giảm khả năng sinh lời của số
tiền đó, đồng thời doanh nghiệp phải phát sinh tăng chi phí quản lý cho số tài sản này.
Quản lý tiền và chứng khoán thanh khoản cần tập trung vào các quyết định sau:
8
- Quản lý hoạt động thu – chi của tiền mặt
- Xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt tối ưu
- Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán thanh khoản
Quản lý hoạt động thu – chi của tiền mặt
Trong quản lý thu – chi tiền mặt, một nguyên tắc tất yếu đó chính là “tăng thu,
giảm chi”, tức là nhà quản lý cần tăng tốc độ thu hồi những khoản tiền nhận được và
chậm chi những khoản tiền phải trả. Tăng thu là doanh nghiệp tích cực thu hồi được
những khoản nợ từ khách hàng để sớm có vốn quay vòng đầu tư và các hoạt động của
doanh nghiệp, đảm bảo thông suốt quá trình giao dịch kinh doanh. Giảm chi là tận
khoán trong một thời kỳ (thường là 1 năm)
Chi phí giao dịch = Số lần bán chứng khoán* Phí giao dịch = (T/C)*F
Chi phí cơ hội (OC – Opportunity Cost)
Tổng chi phí cơ hội bằng tồn quỹ trung bình nhân với lãi suất đầu tư chứng
khoán ngắn hạn:
Chi phí cơ hội = (C/2)*K
Trong đó:
C/2: mức dự trữ tiền mặt trung bình
K: lãi suất đầu tư chứng khoán / thời kỳ (thường là 1 năm)
Từ đó ta có tổng chi phí: TC = TrC + OC
Mức dự trữ tiền tối ưu để tổng chi phí bỏ ra là nhỏ nhất tương đương TC min:
C* =
Đồ thị 1.1 Mô hình dự trữ tiền tối ưu
mô hình Baumol:
Mô hình quản trị tiền mặt Baumol đã làm nổi bật sự đánh đổi giữa chi phí cố
được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ. Phương sai của thu chi ngân quỹ là
tổng bình phương (độ chênh lệch) của thu chi ngân quỹ thực tế càng có xu hướng
khác biệt nhiều so với thu chi bình quân.
Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán. Khi chi phí lớn người ta muốn
giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoản dao động và khi đó khoản dao động của tiền
mặt cũng lớn.
Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng dao động
tiền mặt sẽ giảm xuống.
Mức tiền mặt theo thiết kế được xây dựng như sau:
Mức tiền
mặt theo
thiết kế
=
Mức giới
hạn dưới
+
Đây là mô hình thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng mô
hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu.
Phương sai của tiền mặt thanh toán được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế
của một quý trước đó để tính toán.
Thang Long University Library
11
Đồ thị 1.2. Biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian
phép.
Ví dụ điều khoản bán chịu “2/10 net 30” có nghĩa là khách hàng được hưởng
2% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hóa đơn được phát
hành và nếu khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng được trả chậm trong
thời gian 30 ngày kể từ ngày phát hành hóa đơn.
Thay đổi điều khoản tín dụng lại thay đổi tới thời hạn tín dụng và tỉ lệ chiết
khấu. Trong điều khoản chiết khấu, có hai vấn đề liên quan là thời hạn tín dụng và tỉ
Giới hạn trên
Mức tiền mặt
Giới hạn dưới
Thời gian
Mức cân đối tiền mặt
12
lệ chiết khấu. Thời hạn tín dụng là thời gian mà nếu người mua thanh toán trước hoặc
trong thời gian đó người mua sẽ nhận được tỉ lệ chiết khấu. Tỉ lệ chiết khấu là tỉ lệ
phần trăm của doanh thu hoặc giá bán được chiết khấu trừ nếu người mua trả tiền đối
với các khoản phải thu. Nhưng tỉ lệ chiết khấu sẽ làm giả doanh thu ròng, do đó làm
giảm lợi nhuận. Liệu giảm chi phí đầu tư khoản phải thu có bù đắp thiệt hại do giảm
lợi nhuận hay không là vấn đề mà nhà quản lý cần quan tâm.
Cần phải chú ý rằng, mỗi thời kì khác nhau đều có những thay đổi nhất định, do
đó, cần xem xét nội dung của chính sách tín dụng thương mại thường xuyên xem có
phù hợp không.
Phân tích
Để thực hiện được việc cấp tín dụng cho khách hàng thì vấn đề quan trọng là
phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Mỗi doanh nghiệp đều thiết lập tiêu
chuẩn bán chịu của mình chính thức hoặc không chính thức. Công việc nay bắt đầu
bằng việc doanh nghiệp xây dựng một tiêu chuẩn tín dụng hợp lý, sau đó xác minh
phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng. Nếu khả năng tín dụng của khách hàng
phù hợp với những tiêu chuẩn của tối thiểu mà doanh nghiệp đưa ra thì tín dụng
NPV = CF
t
/k – CF
0
CF
0
= VC*S*
CF
t
= (S*(1 – VC) – S*BD – CD) * (1-t)
Trong đó:
CF
t
: Dòng tiền sau thuế mỗi giai đoạn
k: Tỷ lệ thu nhập yêu cầu
CF
0
: Giá trị doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng
VC: Chi phí biến đổi tính theo tỷ lệ % dòng tiền vào
S/365: Dòng tiền vào (doanh thu) dự kiến mỗi ngày
ACP: Thời gian quay vòng khoản phải thu TB
BD: Tỷ lệ nợ xấu/doanh thu
CD: Dòng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng
t: Thuế suất thuế TNDN
Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị
hiện tại ròng:
NPV > 0: cấp tín dụng
NPV
0
: giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng
NPV
1
: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng
14
P
0,
Q
0,
AC
0
: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp
tín dụng
P
1
, Q
1,
AC
1
: giá bán, số lượng bán và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng
h: xác suất thanh toán
R
t
: tỷ suất chiết khấu thanh toán
Cơ sở để ra quyết định:
NPV
0
1
*Q
1
*h/ (1 + R
t
) – AC
1
*Q
1
*h – C
Cơ sở ra quyết định:
NPV
1
> NPV
2
: Không sử dụng thông tin rủi ro
NPV
1
< NPV
2
: Sử dụng thông tin rủi ro
NPV
1
= NPV
2:
Bàng quan
Sau khi đưa ra các quyết định cấp tín dụng cho khách hàng, doanh nghiệp cần
thường xuyên theo dõi các khoản phải thu dựa trên thời gian thu nợ trung bình (ACP).
Thời gian thu nợ trung bình là khoảng thời gian được tính theo ngày trung bình kể từ
1
= S/Q * O (1)
CP
2
= Q/2 * C (2)
Trong đó:
CP
1
: Chi phí đặt hàng
CP
2
: Chi phí dự trữ
S: Số lượng hàng cần đặt
Q: Lượng hàng đặt 1 lần
S/Q: Số lượng đặt hàng
O: Chi phí một lần đặt hàng
C: Chi phí dự trữ kho tính cho 1 đơn vị hàng lưu kho
Q/2: Mức lưu kho trung bình
Từ đó, ta có tổng chi phí: TC = CP
1
+ CP
2
Tổng chi phí tối thiểu là mức lưu kho tối ưu, tương đương TCmin
Q*=
Thời gian dự trữ tối ưu:
T* = Q*/(S/365)
Vậy ta có điểm đặt hàng tối ưu (OP – order point): Là điểm mà tại đó doanh
Khái niệm 1.4.1
Hiệu quả theo nghĩa chung nhất được hiểu là những lợi ích về mặt kinh tế và xã
hội do một hoạt động nào đó mang lại hay nói cách khác hiệu quả gồm hai mặt: hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội là những lợi ích đạt được về mặt xã hội do một hoạt động nào
đó đem lại. Ví dụ như hiệu quả xã hội của hoạt động thương mại tạo nên đó là việc
thỏa mãn những nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần cho xã hội, là sự góp phần cân
đối cung cầu, ổn định giá cả và thị trường, là việc mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa
giữa các vùng hoặc các nước tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động.
Hiệu quả kinh tế (hiệu quả kinh doanh) là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt
được kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất, nói cách khác, hiệu quả kinh
tế đó là sự so sánh giữa kết quả đầu ra với yếu tố đầu vào hoặc giữa kết quả với chi
phí gắn liền với hoạt động kinh doanh nào đó
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả / Chi phí
Hoặc
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu vào / Yếu tố đầu vào
Cách đánh giá này được hầu hết các nhà kinh tế công nhận và được sử dụng
rộng rãi trong thực tế. Nó cho phép đanh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh
(1) Thời gian chờ hàng về
Điểm đặt
hàng
Số
lượng
hàng
lưu kho
Thời gian
Q/2
Thời điểm
bằng bao nhiêu đơn vị tiền tệ. Khả năng thanh toán tức thời cho thấy doanh nghiệp có
bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán cho các
khoản nợ ngắn hạn, nó đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Nếu khả năng thanh toán hiện thời giảm (do tổng các khoản tương đương tiền
giảm hoặc tổng nợ ngắn hạn tăng) là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính
sẽ xảy ra. Nếu khả năng thanh toán hiện thời cao (do tổng các khoản tương đương
tiền tăng hoặc nợ ngắn hạn giảm) có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán
các khoản nợ. Tuy nhiên nếu cao quá sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động vì doanh
nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn.
Tuy nhiên khó có thể nói khả năng thanh toán tức thời cao hay thấp ở mức nào
là tốt hay không tốt. Vì chỉ tiêu này phụ thuộc vào các khoản phải thu và dự trữ mà nó
phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh của từng doanh nghiệp và của người phân
tích.
Khả năng thanh toán nhanh =
18
Hệ số này cho thấy công ty có thể dùng bao nhiêu đồng tài sản để thanh toán nợ
ngắn hạn mà không cần hàng lưu kho. Do đó, khả năng thanh toán nhanh cho biết khả
năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc hàng tồn kho.
Nếu khả năng thanh toán nhanh tăng (tổng tài sản ngắn hạn tăng hoặc hàng tồn
kho giảm hoặc tổng nợ ngắn hạn giảm) chứng tỏ tình hình tài chính doanh nghiệp tốt,
có thể trả nợ mà không cần đến hàng trong kho. Nếu khả năng thanh toán nhanh giảm
(tổng tài sản ngắn hạn giảm hoặc hàng tồn kho ứ đọng quá nhiều hoặc tổng nợ ngắn
hạn giảm) cho thấy khả năng quản lý tài sản ngắn hạn không hiệu quả.
19
cái nhìn khách quan và chính xác, cần so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp cùng
ngành nghề hoặc tỷ lệ chung của ngành.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Nếu tỷ suất sinh lời của tài sản lớn hơn 0 tức là doanh nghiệp đang có lãi. Nếu tỷ
suất sinh lời nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ. Mức lãi hay lỗ được đo
bằng phần trăm của giá trị bình quân tổng tài sản của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn được xác định bằng công thức:
Tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn
=
Li nhun sau thu
Tài sn ngn hn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn và cho biết một
đồng tài sản ngắn hạn bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu lợi nhuận. Tỷ lệ
doanh lợi tài sản ngắn hạn càng cao thì hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sử dụng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản ngắn hạn =
Chỉ tiêu này cho biết trong một kì phân tích các tài sản quay được bao nhiêu
vòng hay một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu và là điều
Thời gian thu nợ trung bình =
Trong phân tích tài chính chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu
hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp. Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình
quân doanh nghiệp phải mất bao nhiêu ngày cho một khoản thu. Vòng quay khoản
phải thu càng cao thì thời gian thu nợ trung bình càng thấp và ngược lại, chỉ tiêu này
càng nhỏ thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại.
Tốc độ luân chuyển của các khoản phải trả
Vòng quay khoản phải trả =
Vòng quay khoản phải trả cho biết số lần trả nợ của doanh nghiệp trong một chu
kì kinh doanh, hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng được các
khoản nợ dài.
Thời gian trả nợ trung bình =
Thời gian trả nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp có bao nhiêu ngày
để trả nợ. Thời gian trả nợ càng dài chứng tỏ khả năng chiếm dụng vốn của doanh
nghiệp tốt, vì khi đó nhà cung cấp bị thiệt. Tuy nhiên chiếm dụng quá lâu có thể gây
ảnh hưởng không tốt cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và đối tác.
Quản lý hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho: là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ. Số vòng hàng tồn kho càng cao việc kinh doanh được đánh giá càng tốt, bởi
lẽ doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số
cao. Vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng công thức:
mức thấp, chiếm dụng được thời gian dài đối với các khoản nợ. Tuy nhiên cũng tùy vào
đặc điểm của ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động.
Thời gian quay
vòng tiền
=
Thời gian
thu nợ TB
+
Thời gian luân
chuyển kho TB
–
Thời gian
trả nợ TB
Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn
Mức tiết kiệm tài sản ngắn hạn có được do tăng hiệu suất sử dụng TSNH được
biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối
Mức tiết kiệm TSNH tuyệt đối: Nếu quy mô kinh doanh không thay đổi, việc
tăng hiệu suất sử dụng TSNH đã giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một lượng
vốn lưu động TSNH có thể rút ra khỏi luân chuyển dùng vào việc khác. Công thức
xác định số TSNH tiết kiệm tuyệt đối:
V
TKTĐ1
= M
0
/V
1
– M
0
/V
0
, V
0
: Hiệu suất sử dụng TSNH kì trước, kì này.
22
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Các nhân tố chủ quan 1.5.1
Xuất phát từ bản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản
ngắn hạn cũng như toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp. Trong đó phải kể đến một số yếu tố:
- Lựa chọn dự án đầu tư
Là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Nếu dự án
lựa chọn khả thi, phù hợp với điều kiện thị trường và khả năng doanh nghiệp thì sản
phẩm sản xuất ra tiêu thụ mạnh, từ đó làm tăng vòng quay tài sản ngắn hạn và ngược
lại nếu sự lựa chọn là không chính xác tài sản ngắn hạn sẽ bị ứ đọng và không tạo ra
hiệu quả.
- Trình độ quản lý
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp trong cùng một thời điểm được phân bổ trên
khắp các giai đoạn luân chuyển từ khi mua săm vật tư dự trữ đến giai đoạn sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm. Nếu công tác quản lý không chặt chẽ sẽ làm thất thoát tài sản ngắn
hạn và ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
- Ngành nghề kinh doanh
Trên thị trường mỗi ngành nghề kinh doanh có những đặc điểm khác nhau như
tính mùa vụ, chu kỳ sản xuất kinh doanh … từ đó tác động không nhỏ đến hiệu quả
sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh có tính chất mùa vụ
thường có biến động trong sử dụng tài sản ngắn hạn tương ứng với mùa vụ đó. Ngoài
ra, các doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất ngắn sẽ có thời gian quay vòng vốn nhanh và
tác động đến hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp.
Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp có ảnh
hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng ngắn hạn. Doanh nghiệp làm nhiệm vụ sản
thành sản phẩm của doanh nghiệp để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Chi phí giao dịch bao gồm: phí dịch vụ mua và bán chứng khoán, hay những
thiệt hại tiềm ẩn về giá trị khi bán gấp tài sản với mức giá thấp hơn giá có thể nhận
được nếu có nhiều thơi gian hơn.
Chi phí do những áp lực tài chính bao gồm những chi phí liên quan đến luật
pháp và chi phí gián tiếp như thời gian dành cho công việc quản lý liên quan đến tổ
chức lại, phá sản, hay tránh những khó khăn về tài chính.
Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi
phí giao nhận hàng hóa. Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần
đặt hàng. Chi phí cho mỗi lần đặt hằng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí
biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chị phí đặt hàng thường biến động theo số lượng hàng
được mua.
Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng trong kho trong một
khoảng thơi gian xác định trước. Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên
mỗi đơn bị hàng lưu kho hoặc xác định bằng tỷ số phần trăm trên giá trị hàng lưu kho
24
trong một chu kỳ. Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí cất trữ, chi phí bảo hiểm, chi
phí bảo quản, chi phí về thuế, chi phí đầu tư về hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng
tồn khi và chi phí thiệt hại do hàng đang có trong kho bị lỗi thời …
Chi p
Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp không
có khả năng giao hàng bởi vì như cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho.
Ví dụ, nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại sẽ bao gồm chi phí đặt hàng
khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng sản xuất. Khi sản phẩm dở dang tồn khi bị hết
thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất kinh doanh bị thay đổi, gây thiệt
có được sự bổ sung thích hợp thì nó sẽ làm cho tài sản ngắn hạn bị giảm sút theo tỷ lệ
làm phát và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Khoa học công nghệ luôn phát triển nhanh và vượt trội với nhiều thay đổi, chính
những sự thay đổi này đem lại lợi ích cho doanh nghiệp nếu bắt kịp xu hướng mới,
hiệu quả kinh doanh được tăng cường. Song để có thể nhanh chóng bắt kịp được
những tiến bộ này cũng đòi hỏi doanh nghiệp chịu khó đầu tư, thay đổi, điều này là
không dễ với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
- Các yếu tố tự nhiên
Những rủi ro đến từ môi trường bao gồm mưa, bão, lũ, hỏa hoạn thường gây tổn
thất lớn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là về mặt tài sản. Đây là yếu tố mà các doanh
nghiệp luôn phải chú ý đề phòng cũng như xây dựng các phương án đối phó với rủi ro
khó tránh được này.
- Rủi ro trong sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, quá trình sản xuất kinh doanh luôn chứa
đựng nhiều rủi ro bất trắc. Vì vậy, nếu doanh nghiệp không có những kế hoạch biên
pháp phù hợp thì có thể sẽ dẫn tới sự suy giảm của tài sản ngắn hạn, thậm chí còn dẫn
tới tình trạng phá sản.
- Nhân tố Nhà nước
Các doanh nghiệp hiện đang hoạt động trên nền kinh tế thị trường chịu sự điều
tiết của Nhà nước. Nhà nước điều tiết hoạt động thị trường thông qua các chính sách
thuế, chính sách đầu tư, chính sách bảo trợ. Một mặt, các chính sách tích cực của Nhà
nước như ưu đãi tín dụng, ký kết các hiệp định thương mại, tham gia các tổ chức
thương mại trong khu vực và thế giới đã tạo ra môi trường và hành lang pháp lý thuận
lợi cho doanh nghiệp có cơ hội phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy
nhiên, trong chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước còn nhiều điểm hạn chế và chưa
hoàn thiện khiến cho doanh nghiệp gặp không ít khó khăn trong khi làm thủ tục hành
chính, thương mại.