Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty
và kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước.
3.1 Một số định hướng công tác nhập khẩu trong thời gian tới.
3.1.1 Đặc điểm tình hình liên quan triển khai công tác nhập khẩu.
+ Cam kết của Việt Nam trong WTO:
Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhâp khẩu hiện hành gồm
10.600 dòng thuế. Thuế suất cam kết cuối cùng ở mức bình quân giảm đi 23 % so với
mức thuế bình quân hiện hành của Biểu thuế ( từ 17,4 % xuống còn 13.4 %). Thời gian
thực hiện sau 5 – 7 năm.
Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng
thuế (chiếm 35,5 % số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với
khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế ); ràng buộc theo mức thuế
trần – cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế ( chiếm 30% số dòng của
Biểu thuế). chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số
phương tiện vận tải.
Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20 %, 30 % sẽ được cắt giảm thuế
ngay sau khi gia nhập. Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao
gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện
- điện tử.
Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia nhập là
16.1%, và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6%. So sánh với mức thuế MFN bình quân
của hàng công nghiệp hiện nay là 16.6% thì mức cắt giảm đi sẽ là 23.9%.
Như vậy tất cả những cam kết của Việt Nam vào WTO,… là để góp phần Việt
Nam tham gia sâu rộng hơn vào phân công lao động quốc tế, cũng như hội nhập vào
kinh tế khu vực và thế giới, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, góp phần
thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tăng trưởng kinh tế.
+ Mới đây theo nguồn Vinanet về kế hoạch nhập khẩu năm 2009 như sau:
Dự kiến, kim ngạch nhập khẩu năm 2009 vào khoảng 96,6 tỷ USD, tăng 15,% so
với năm 2008, trong đó kim ngạch của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng
14,9% và kim ngạch của các doanh nghiệp 100% vốn trong nước tăng 15,1%. Ưu tiên
nhập khẩu công nghệ nguồn từ những nước tiên tiến.
cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt nam trên trường quốc tế... góp phần xứng đáng và
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, kinh doanh trong cơ chế thị trường cũng đem lại cho công ty nhiều
bài học quý giá. Đó là bài học về đa dạng hóa kinh doanh, tích cực tìm kiếm khách
hàng, chủ động kinh doanh theo hướng tự doanh, khai thác thế mạnh truyền thống, giữ
uy tín với khách hàng...
Thực trạng nền công nghệ thông tin của Việt nam hiện nay cũng gợi mở cho
công ty những cơ hội kinh doanh hấp dẫn, bởi vì Việt Nam là nước có điểm xuất phát
thấp dưới áp lực của phát triển kinh tế thì tốc độ tăng trưởng sẽ rất cao, đây chính là yếu
tố cơ bản dẫn đến sự sôi động trên thị trường công nghệ thông tin.
Từ đó có thể thấy được phương hướng cho hoạt động kinh doanh trong thời gian
tới của công ty như sau:
-Tiếp tục phát huy vai trò dẫn đầu trong hoạt động nhập khẩu đặc biệt là nhập
khẩu ủy thác. Cụ thể là đảm bảo chất lượng hàng nhập khẩu, đôn đốc trách nhiệm của
người bán với việc bảo hành, hỗ trợ cho người mua về mặt kỹ thuật, tư vấn cho khách
hàng lựa chọn nhập khẩu những dây chuyền hiện đại để hàng hóa sản xuất ra có khả
năng cạnh tranh trên thị trường Quốc tế.
-Bên cạnh nhập khẩu ủy thác cần tiếp tục chú ý và khai thác hình thức nhập
khẩu tự doanh nhằm tạo thế chủ động và mang lại lợi nhuận cao, tuy nhiên không nên
đầu tư tràn lan gây lãng phí vốn và công nợ dây dưa mà phải xem xét cẩn thận hiệu quả
đầu tư.
-Trên cơ sở chủ sở hữu đầu tư các công trình thường không có nhiều kinh
nghiệm cần thiết cho hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị, Công ty cần tiếp tục đẩy
mạnh hoạt động tư vấn đầu tư và thương mại, cố vấn cho các phòng kinh doanh tham
gia vào quá trình đánh giá hiệu quả đầu tư và thiết kế kỹ thuật của khách hàng.
-Tăng cường hình thức liên doanh với công ty khác để dự các gói thầu cung cấp
thiết bị bởi vì khi áp dụng hình thức này sức mạnh liên doanh nhà thầu tăng lên rất
nhiều lần, đảm bảo tốt các yêu cầu khắt khe về khả năng tài chính, kỹ thuật cũng như tư
cách pháp nhân nhà thầu trong các gói thầu lớn. Thực tế trong những năm qua cho thấy
các nhà thầu Việt nam rất ít có cơ hội làm nhà thầu chính trong tất cả các dự án lớn có
kinh tế hiện nay, đối với một Công ty đứng đầu nghành công nghệ thông tin. Ngoài
những bạn hàng truyền thống như Singapo, Trung Quốc, Thái Lan,…thì Công ty nên
xúc tiến hơn nữa trong việc mở rộng thị trường sang các nước có nền phát triển như
Mỹ, Hàn Quốc,…có khả năng cung cấp các hàng hoá đa dạng, hiện đại và phong phú.
Ngoài việc tìm kiếm mở rộng thị trường Công ty cần có những biện pháp xúc
tiến nhanh chóng việc đàm phán, ký kết hợp đồng sao cho có hiệu quả, đỡ tốn về thời
gian và chi phí. Bên cạnh đó Công ty phải xác định rõ đâu là thị trường trọng điểm để
có những chiến lược kinh doanh phù hợp. Có thể thấy, thị trường nhập khẩu của Công
ty là rất lớn, tuy nhiên trong kinh doanh cần lựa chọn một số đối tác chính,các bạn hàng
tiềm năng, có đủ năng lực kinh tế và uy tín, lâu dài để đưa ra kế hoạch kinh doanh với
họ.
3.2.2 Lựa chọn thị trường, mặt hàng và đối tác trong nhập khẩu.
Lựa chọn thị trường và đối tác nhập khẩu là hoạt động cần thiết không chỉ riêng
doanh nghiệp nhập khẩu mà còn cần thiết cho cả chủ đầu tư mua sắm, bởi đây là các cơ
quan trực tiếp liên hệ, giao dịch, đàm phán trước khi quyết định nhập khẩu.
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, mặt hàng nhập khẩu, các đơn vị nhập khẩu sẽ
xếp hạng thị trường và cho điểm các thị trường khác nhau theo một tiêu thức nhất định.
Từ đó đánh gia kết quả để lựa chọn thị trường và đối tác nhập khẩu. Sự thành công của
hợp đồng phần lớn là do sự lựa chọn đối tác phù hợp nhất quyết định. Có thể chỉ ra một
số tiêu chuẩn để đánh giá năng lực của các đối tác, từ đó lựa chọn đối tác phù hợp nhất,
như năng lực về khoa học kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất, trình
độ chuyên môn của nhân viên, năng lực tài chính, kinh nghiệm trong nhập khẩu.
+ Xác định thị trường trọng điểm:
Thông qua công tác thông tin và nghiên cứu tiếp cận thị trường cần xác định thị
trường trọng điểm. Vì thị trường trọng điểm có ưu điểm là có thể nhập khẩu với số
lượng lớn, chủng loại mặt hàng đa dạng, giá cả tương đối ổn định, điều kiện thanh toán
thuận lợi, có nhiều sự hỗ trợ về chuyên môn cũng như dịch vụ sau khi bán.
Đối với thị trường trọng điểm, yếu tố quan trọng là công tác thông tin thị trường.
Phải tích cực thu thập thông tin qua nhiều nguồn khác nhau, phân tích xử lý những
thông tin đó, sàng lọc để có những thông tin cập nhật đáng tin cậy nhất. Mặc dầu tiềm
một số mặt hàng với đa dạng hoá mặt hàng sẽ khắc phục nhược điểm của hai hình thức
trên, đồng thời Công ty có điều kiện thoả mãn được các nhu cầu đa dạng của khách
hàng.
Các mặt hàng nhập khẩu truyền thống của công ty là máy tính để bàn, máy tính
xách tay, hệ thống máy chủ, máy in,… Đối với các mặt hàng này cần có sự cải tiến
trong việc nắm bắt tình hình và phán đoán nhu cầu thị trường nhằm đảm bảo nhập hàng
để có hàng bán liên tục, khắc phục tình trạng bỏ trống thị trường, không có hàng để bán
ngay hay hàng tồn kho quá nhiều.
Công ty cần thiết triển khai các mặt hàng thay thế (cùng chủng loại, tiêu chuẩn
chất lượng, mục đích sử dụng) nhưng với mức gía cả phải chăng, tạo nhu cầu, cải thiện
thị hiếu và gây cạnh tranh về giá. Tuy nhiên việc nhập mốt số hàng mới không phải là
đơn giản, nó đòi hỏi tính kịp thời nắm bắt cơ hội đồng thời cũng đòi hỏi tính thận trọng
sáng suốt khi xem xét các thông tin như: đặc điếm của hàng hóa đó, có những doanh
nghiệp nào đang kinh doanh mặt hàng này, số lượng bao nhiêu, chính sách của Nhà
nước hiện tại cũng như tương lai đối mặt hàng đó, Công ty có những bạn hàng nào sẵn
sàng bán. Việc nắm bắt các thông tin này một cách chính xác là rất khó đòi hỏi nâng
cao tri thức cán bộ, đảm bảo các cán bộ kinh doanh có kinh nghiệm, khả năng giao dịch,
biết thu thập và xử lý thông tin nhanh và chính xác đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh
doanh hàng nhập khẩu.
3.2.3 Đa dạng hình thức nhập khẩu.
Trong cơ chế mới, cùng với việc đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh thì việc
đa dạng hóa các phương thức nhập khẩu là nhân tố quan trọng. Công ty bên cạnh hình
thức nhập khẩu uỷ thác nên phát triển mạnh hơn nữa nhập khẩu tự doanh, liên doanh
làm gắn bó chặt chẽ các bên trong quan hệ hợp tác sản xuất kinh doanh.
Hiện nay có các hình thức nhập đáng quan tâm là các doanh nghiệp có các hình
thức nhập theo CIF và xuất theo FOB, theo nhận định của một chuyên viên của Ngân
hàng Thế giới về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam: “ Trong kinh
doanh xuất nhập khẩu hiện nay, với việc mua CIF bán FOB, Việt Nam là một trong số
ít các quốc gia đang làm ngược lý thuyết buôn bán và thông lệ trong thương mại quốc
tế”: khi bán hàng theo gía CIF, người bán nước ngoài sẽ cung ứng tiếp cho doanh nhân
như tiến độ thanh toán của khách hàng trong nước đồng thời phải tích cực đôn đốc
khách hàng trong nước thanh toán đúng hạn. về phương thức thanh toán ngoại, công ty
nên có một số thay đổi trong các điều kiện của phương thức thanh toán bằng L/C.
Chẳng hạn như khi sử dụng hình thức đặt cọc có giá trị lớn, công ty có thể yêu cầu
Ngân hàng bảo lãnh cho số tiền đặt cọc đó để trách những rủi ro có thể gặp phải trong
kinh doanh.
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá và nâng cao chất lượng hàng hóa nhập khẩu.
Kiểm tra đánh giá chất lượng hàng nhập khẩu là đánh gía trình độ tiên tiến, độ
tin cậy, tính năng sử dụng của hàng nhập khẩu. Đây là công việc phức tạp đối với cán
bộ chuyên trách phải có trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật cao, chuyên môn giỏi.
Trình độ tiên tiến của hàng hoá cần 3 yếu tố sau: Hiện đại, an toàn, hiệu quả.
Công ty cần xây dụng một số chỉ tiêu sau:
* Tiêu chuẩn để đánh giá sự phù hợp của hàng hoá:
- Các máy móc, thiết bị nhập phải đảm bảo tính đồng bộ của công nghệ.
- Có tính năng về chất lượng phù hợp quy trình công nghệ hiện đại.
- Quá trình hoạt động và sử dụng phải đảm bảo an toàn, bảo vệ môi trường.
* Các tiêu chuẩn đánh gía chất lượng:
- Xuất sứ của trang thiết bị kỹ thuật
- Năm sản xuất chế tạo
- Các đặc tính, tính năng kỹ thuật của thiết bị: đúng theo tính năng, kỹ
- Chỉ tiêu chất lượng: Mới, chưa qua sử dụng. hoạt động tốt.
- Đánh giá mức độ tự động hoá, mức độ cơ khí hoá, mức độ sử dụng nhân lực.
Trong nền kinh tế hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì
phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá của mình. Đối với những hàng hoá
nhập về bán trực tiếp cho người tiêu dùng thì Công ty cần giúp khách hàng có được sản
phẩm hiện vật đúng để thoả mãn nhu cầu cơ bản của họ thông qua hoạt động tìm kiếm,
đánh giá, lựa chọn các sản phẩm, cần nhập về những hàng hoá chất lượng cao, tránh
nhập những hàng hoá cũ, lỗi thời, tránh việc biến thị trường Việt Nam thành bãi rác của
thế giới. Thêm đó Công ty cần nâng cao chất lượng dịch vụ của mình nhằm cho khách
hàng cảm thấy hài lòng, yên tâm vào sản phẩm và họ thực sự là người quan trọng, được
hiện mục tiêu của doanh nghiệp trong khoảng thời gian tương ứng.
Chiến lược kinh doanh có vai trò rất quan trọng: Chiến lược kinh doanh giúp cho
doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của doanh nghiệp trong hoạt động kinh
doanh. Trong điều kiện môi trường có nhiều thay đổi nhanh chóng, có chiến lược kinh
doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp chủ động tận dụng tối đa các cơ hội kinh doanh khi