vấn đề thỏa ước lao động tập thể vô hiệu và việc xử lý thỏa ước vô hiệu - Pdf 27

I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ lao động chủ yếu được hình thành trên
cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa các bên: NLĐ và NSDLĐ. Trong mối quan hệ
này, Nhà nước không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên mà chỉ tạo
hành lang pháp lí làm cơ sở cho các bên tự thương lượng, thỏa thuận các quyền và
nghĩa vụ cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp. Để đảm bảo
lợi ích cho mình, cả NLĐ và NSDLĐ đều thấy rằng cần phải có thỏa thuận chung
về những vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động. Những thỏa thuận chung đó
chính là những bản thỏa ước lao động tập thể. Trong bài này sẽ xem xét đến vấn đề
thỏa ước lao động tập thể vô hiệu và việc xử lý thỏa ước vô hiệu.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Thỏa ước lao động tập thể theo quy định tại Điều 44 Bộ luật lao động là: “Thoả
ước lao động tập thể (sau đây gọi tắt là thoả ước tập thể) là văn bản thoả thuận giữa
tập thể lao động và NSDLĐ về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền
lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động”.
Trên thực tế, khi kí kết thỏa ước tập thể, hầu hết các bên đều tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho thỏa ước có hiệu lực pháp luật. Song
cũng không tránh khỏi một số trường hợp thỏa ước được kí kết không đúng pháp
luật về nội dung cũng như trình tự kí kết. Đối với những thỏa ước đó thì tùy từng
trường hợp sẽ được coi là vô hiệu một phần hoặc vô hiệu toàn bộ.
Theo Điều 48 Bộ luật lao động thì thỏa ước lao động tập thể bị coi là vô hiệu
một phần hoặc một số điều khoản của thỏa ước trái với quy định của pháp luật. Còn
thỏa ước bị coi là vô hiệu toàn bộ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Toàn bộ nội dung thỏa ước trái pháp luật;
- Người kí kết không đúng thẩm quyền;
- Không tiến hành theo đúng trình tự kí kết.
a) Nội dung của thỏa ước.
Khoản 2 Điều 46 Bộ luật lao động có quy định về nội dung của thỏa ước là:
“Nội dung chủ yếu của thoả ước tập thể gồm những cam kết về việc làm và bảo
đảm việc làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ

nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tòa án nhân dân trong quá
trình giải quyết tranh chấp lao động nếu phát hiện thấy thỏa ước lao động tập thể
trái với pháp luật lao động thì có quyền tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
toàn bộ hoặc một phần (khoản 4 Điều 166 Bộ luật lao động). Đối với trường hợp
thỏa ước vô hiệu do người kí kết không đúng thẩm quyền hoặc không tiến hành
theo đúng trình tự kí kết, nếu nội dung đã kí kết có lợi cho NLĐ thì cơ quan quản lí
nhà nước về lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn để các bên
làm lại cho đúng quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hướng dẫn,
nếu không làm lại thì bị tuyên bố vô hiệu. Những nội dung nào trong thỏa ước bị
tuyên bố vô hiệu thì quyền và nghĩa vụ, lợi ích của các bên được giải quyết theo
các nội dung tương ứng quy định trong pháp luật hiện hành và theo các thỏa thuận
hợp pháp trong HĐLĐ cá nhân (nếu có).
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ.
Thỏa ức tập thể là sắc thái đặc sắc của luật lao động, có ưu điểm là uyển chuyển
và dễ thích ứng với xã hội. Thỏa ước lao động tập thể rất được thịnh hành ở các
nước công nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay việc tìm hiểu
về thỏa ước lao động tập thể và các vấn đề liên quan đến nó là rất hữu ích. Từ
những điều đã trình bày trong bài, ta phần nào hiểu rõ hơn về vấn đề thỏa ước lao
động tập thể vô hiệu và việc xử lí thỏa ước vô hiệu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ luật lao động.
2. Giáo trình luật lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân.
3. Website:http://www.congdoanbdvn.org.vn/express/express_detail.as
px?id3=548&id2=142&id1=141.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status