BÁO CÁO THỰC TẬP-Nhận định về giá trị và hạn chế của các quan niệm về chính trị trong triết học Trung Hoa cổ đại (triết học của Nho gia và Pháp gia) từ góc độ hoạt động quản lý - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
Nhận định về giá trị và hạn chế của các quan niệm về chính trị trong triết học
Trung Hoa cổ đại (triết học của Nho gia và Pháp gia) từ góc độ hoạt động quản lý.

Giáo viên giảng dạy : TS.
Lớp chuyên ngành : Cao học Quản lý Kinh tế 22Q
Nhóm thực hiện : Nhóm 3
Hà Nội, tháng 01 năm 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3
STT MÃ SỐ HỌC VIÊN HỌ VÀ TÊN
1 CH 220743 Nguyễn Quốc Anh
2 CH 220495 Lê Tân Bình
3 CH 220744 Phạm Thị Thanh Bình
4 CH 220756 Phạm Hiệp
5 CH 220758 Nguyễn Phương Hoa (Nhóm Trưởng)
6 CH 220772 Ngô Thị Thùy Ngân
7 CH 220499 Cao Thị Hồng Nhung
8 CH 220774 Trịnh Xuân Sinh
9 CH 220784 Trần Quốc Việt
10 CH 220785 Giang Thị Bích Vượng
11 Phatsalinh Phomavanh
1
I. Đặt vấn đề
Sự hình thành và phát triển của triết học có tính quy luật và gắn liền với sự phát
triển điều kiện kinh tế - xã hội, với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, các lực lượng xã
hội; với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội; với sự thâm nhập và đấu
tranh giữa các trường phái triết học với nhau. Mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của

2.1 Nho gia
2.1.1 Tư tưởng chính trị của Triết học Nho gia
Nho gia là một trong những trường phái triết học chính của Trung Hoa cổ đại.
Phái Nho gia được Khổng Tử sáng lập, Mạnh Tử phát triển về phía duy tâm tiên
nghiệm và Tuân Tử phát triển về phía duy vật.
 Quan điểm chính trị - xã hội của Khổng Tử:
Khổng Tử là người sáng lập ra đạo Nho, ông được phong là “Chí thánh tiên sư,
Vạn thế sư biểu”, nghĩa là thầy, thánh của muôn đời, muôn nhà.
Khổng Tử coi xã hội là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người, trong
đó có các quan hệ như: Vua-tôi, Cha-con, Chồng-vợ, Anh-em, Bạn bè. Năm mối quan
hệ này về sau được phái Nho gia gọi là Ngũ luân, trong đó 3 mối quan hệ Vua-tôi,
Cha-con, Chồng-vợ là những mối quan hệ cơ bản nhất và được gọi là Tam cương.
Những phạm trù cơ bản trong thuyết Chính trị - Đạo đức của Khổng Tử là
Nhân, Lễ, Nghĩa và Chính danh:
- Nhân: là lòng thương người. Người có nhân là người có đạo đức hoàn toàn.
Trung và Thứ là hai khía cạnh của Nhân: Trung là tính ngay thẳng với người, điều
mình muốn thì hãy làm cho người; Thứ là lòng vị tha, điều mình không muốn thì đừng
làm cho người. Trong đạo nhân, hiếu là gốc - hiếu không chỉ thể hiện ở việc phụng
dưỡng cha mẹ mà quan trọng nhất là lòng thành kính. Khổng Tử nói: “Nuôi cha mẹ mà
chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật”.
-Lễ: là hình thức thể hiện lòng nhân. Lễ bao gồm mối quan hệ rộng lớn, từ quan
hệ thần linh đến quan hệ ứng xử giữa người với người, quan hệ đạo đức, phong tục, tập
quán, quan hệ nhà nước, luật pháp … Tuân theo lễ là một điều kiện để thực hiện nhân
đức. Người quân tử không bao giờ làm trái với lễ.
- Nghĩa: là hành vi đạo đức thể hiện đức nhân. Người làm việc nghĩa thì hy sinh
lợi ích của mình vì người khác. Nghĩa và lợi không thể dung hợp với nhau. Khổng Tử
nói: “Quân tử biết rõ về nghĩa, tiểu nhân biết rõ về lợi”.
- Chính danh: có nghĩa là phải bố trí người ở cương vị phù hợp với năng lực,
người ở cương vị nào thì phải xứng đáng với cương vị đó, phải làm đúng danh phận,
3

4
Tóm lại, triết học của Mạnh Tử tuy còn mang yếu tố duy tâm và thần bí nhưng
trong học thuyết về chính trị - xã hội với tư tưởng “nhân chính”, “dân bản” có ý nghĩa
tiến bộ, phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lịch sử xã hội.
 Quan điểm chính trị - xã hội của Tuân Tử:
Tuân Tử là người phát triển học thuyết của Khổng Tử, đề cao nhân, nghĩa, lễ
nhạc và chính danh. Tuy nhiên, ông phản đối quan niệm của Khổng Tử và Mạnh Tử về
những vấn đề chính trị và đạo đức. Tuân Tử đứng trên quan điểm duy vật và vô thần,
ông cho rằng tự nhiên gồm ba bộ phận: trời, đất và người. Trời chỉ là một bộ phận của
tự nhiên, bản thân tự nhiên là cơ sở hình thành và biến hoá của vạn vật. Như vậy, trời
không quyết định vận mệnh của con người, con người là sản phẩm cao nhất của giới tự
nhiên. Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm ra chứ không phải tại trời.
Nếu con người hành động thuận với lẽ tự nhiên thì lành, trái lại sẽ gặp loạn “Lấy sự trị
mà đối phó với đạo thì lành, lấy sự loạn mà đối phó với đạo ấy thì dữ”.
Không chỉ hành động phù hợp với tự nhiên mà con người có thể cải tạo tự nhiên
và xã hội để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Ông phê phán mê tín dị đoan, việc tôn thờ
trời, ỷ lại trời, khuyên con người nên tin ở sức mình, ra sức phát triển sản xuất, thực
hành tiết kiệm, ăn ở điều độ, giữ gìn sức khoẻ thì trời sẽ không để cho nghèo khó và
bệnh tật.
Về đạo đức ông đưa ra thuyết tính ác cho nên ông chủ trương sửa trị việc nước,
giáo dục đạo đức, lễ nghĩa làm cho xã hội tiến bộ, văn minh hơn. Ông đề cao “lễ trị”,
ông cho rằng lễ nghĩa và đẳng cấp trong xã hội là cần thiết để duy trì trật tự xã hội.
Có thể thấy, Khổng Tử và các học trò của ông đã thấy được sức mạnh và vai trò
to lớn của đạo đức đối với xã hội. Vì vậy, nội dung quan trọng của Nho giáo là luận
bàn về đạo đức.
Theo Khổng Tử, đạo là năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người được gọi
là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh em, bạn
bè. Trong đó, ba mối quan hệ cơ bản nhất, Đổng Trọng Thư gọi là Tam cương - ba sợi
dây ràng buộc con người từ trong quan hệ gia đình đến ngoài xã hội. Đức chính là các
phẩm chất quan trọng nhất mà con người cần phải có để thực hiện tốt các mối quan hệ

mình muốn và đừng làm cho người những cái mình không muốn.
- Đối với bản thân mình, người có đức nhân là phải thực hiện đúng lễ: “Dẹp bỏ
tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân” (Khắc kỉ phục lễ vi nhân). Lễ là hình thức
thể hiện nhân và cũng là một chuẩn mực của Ngũ thường.
Phạm trù Đức nhân tuy bao chứa nhiều nội hàm khác nhau, song cái gốc và cốt
lõi của nhân là hiếu đễ. Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ và con cái, giữa chồng
và vợ, giữa anh em với nhau (quan hệ gia đình) là những tình cảm tự nhiên, vốn có
6
thuộc về bản tính con người. Từ cách hiểu này, ông cho rằng, trong gia đình nếu người
cha đứng đầu thì mở rộng ra trong nước có ông vua đứng đầu. Khổng Tử hình dung
quốc gia là một gia đình lớn, ông vua là người cha của gia đình ấy. Nho giáo đặt vua
đứng đầu trong tam cương và ngũ luân. Vì vậy, đạo làm người phải tận hiếu với cha
mẹ, tận trung với vua. Một người biết yêu thương kính trọng cha mẹ mình thì mới biết
yêu thương người ngoài. Khổng Tử bàn đến đạo đức từ xuất phát điểm đầu tiên là gia
đình, từ đó suy rộng ra đến quốc gia và thiên hạ. Coi trọng vai trò gia đình trong việc
hình thành và tu dưỡng đạo đức của con người ở Nho giáo là một khía cạnh hợp lý và
vẫn còn có ý nghĩa nhất định đối với ngày nay, bỡi lẽ, gia đình là một tế bào của xã
hội, xã hội không thể ổn định, thịnh trị nếu các gia đình lục đục và vô đạo. Vì vậy,
người cầm quyền nếu không “tề gia” (cai quản gia đình) của mình thì cũng không thể
“trị quốc” (cai trị đất nước) được.
“Nhân” còn gắn liền với “Nghĩa” (nghĩa vụ, thấy việc đúng cần phải làm để
giúp người). Khổng Tử cho rằng người quân tử cần chú ý đến nghĩa và coi thường lợi.
Muốn thực hiện nhân, nghĩa thì cần có lòng dũng cảm (Dũng) và có trí tuệ (Trí). Có trí
mới biết cách giúp người mà không làm hại đến người, đến mình, mới biết yêu và ghét
người, mới biết đề bạt người chính trực và gạt bỏ người không ngay thẳng. Tuy nhiên,
Trí theo Khổng Tử và các môn đệ của ông không phải là những tri thức phản ánh thực
tại khách quan của tự nhiên và xã hội để từ đó chỉ đạo hành động của con người mà là
những tri thức mang tính giáo điều, chỉ gói gọn trong sự hiểu biết sách vở của Nho giáo
(Tứ thư và Ngũ kinh).
Như vậy, đối với Khổng Tử, nhân chính là đạo lý làm người, vừa thương người

chém giết nhau không từ một thủ đoạn tàn ác nào để tranh bá, tranh vương, để có bổng
lộc chức tước. Ông hoài cổ, muốn quay ngược bánh xe lịch sử cũng là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, chính mặt hạn chế này của Nho giáo đã để lại tàn dư cho đến tận ngày nay,
nó trở thành phong tục, lối sống, nó thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của không ít
người ở các nước phương Đông, nơi tiếp nhận và chịu ảnh hưởng của Nho giáo.
Tín là đức tính thứ năm trong Ngũ thường. Tín có nghĩa là lời nói và việc làm
phải thống nhất với nhau, là lòng tin của con người với nhau. Tín góp phần củng cố
lòng tin giữa người với người. Trong ngũ luân thì tín là điều kiện đầu tiên trong quan
hệ bè bạn. Tuy nhiên, nội hàm của đức tín không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ duy
nhất này mà nó còn bao gồm cả lòng tin vô hạn vào đạo lý của bậc thánh hiền và các
mối quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ. Theo quan niệm của Nho giáo thì đức tín là
nền tảng của trật tự xã hội.
Để thực hiện Nhân và Lễ, Khổng tử đã nêu ra tư tưởng Chính danh (danh nghĩa
là tên gọi, danh phận, địa vị; chính có nghĩa là đúng, là chấn chỉnh lại cho đúng tên gọi
và danh phận). Do đó, chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào
thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình, cũng không giành vị trí của người khác,
không lấn vượt và làm rối loạn. Ông cho rằng nguyên nhân hỗn loạn ở thời Xuân Thu
8
là do thiên tử nhà Chu không làm tròn trách nhiệm (không làm đúng danh) để quyền
lợi vào tay chư hầu; chư hầu không làm đúng danh nên sĩ đã lấn át. Vì vậy, để xã hội
ổn định thì mọi người cần làm đúng danh phận. Theo ông, “Danh không chính thì lời
nói chẳng thuận, lời nói không thuận thì việc chẳng nên, việc không nên thì lễ nhạc
chẳng hưng vượng, lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt
không trúng ắt dân không biết xử trí ra sao” (danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn
bất thuận tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc
hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc). Riêng đối với người
cầm quyền vua- thiên tử được thay trời cai trị thì càng phải làm đúng danh của mình,
như vậy mọi người mới noi theo. Đặc biệt, trong việc chính sự (việc nước), điều đầu
tiên nhà vua phải làm là lập lại chính danh, phải xác định vị trí, vai trò, nghĩa vụ và
trách nhiệm của từng người để họ hành động cho đúng. Khổng tử cho rằng không ở

tưởng cho các triều đại phong kiến Việt Nam. Do có thời gian tồn tại lâu dài, do được
các triều đại phong kiến tiếp thu và sử dụng có mục đích, cho nên Nho giáo có ảnh
hưởng sâu rộng ở nhiều lĩnh vực. Nho giáo đã đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức nhằm
cải tạo con người, hoàn thiện nhân cách của con người.Những tiêu chuẩn đạo đức mà
Nho giáo đưa ra để khuyên răn, dạy bảo mọi người có rất nhiều tác dụng đối với sự
hình thành nhân cách của mỗi người trong xã hội, chính vì những tư tưởng đó mà Nho
giáo còn có ảnh hưởng lớn đến xã hội ngày nay.
Đức Nhân, Nghĩa của Nho giáo đã làm cho con người có sự đối xử nhân ái,
khoan dung, độ lượng với nhau. Đức lễ, với hệ thống các qui định chặt chẽ đã giúp con
người có thái độ và hành vi ứng xử với nhau theo thứ bậc, theo khuôn phép. Xét theo
phương diện pháp luật thì Lễ của Nho giáo có tác dụng tích cực trong việc duy trì trật
tự, kỷ cương của xã hội, ngày nay chúng ta có thể kế thừa. Nho giáo quan niệm trong
nước cần phải có pháp lễ (luật pháp) thì nước mới nghiêm; trong gia đình phải có gia
pháp thì mới có trên có dưới. Điều này đã tạo cho con người nếp sống trên kính dưới
nhường. Tư tưởng chính danh giúp cho con người xác định được nghĩa vụ và trách
nhiệm của mình để từ đó suy nghĩ và xử thế đúng trong các quan hệ xã hội.
Nét đặc sắc của Nho giáo là chú trọng đến vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân, đặc
biệt là chú ý đến đạo đức người cầm quyền (những người có chức, quyền). G.S. Vũ
Khiêu đã nhận xét: Ở đây Nho giáo đã nhận thức được một thực tế là những người
trong bộ máy nhà nước mà mất đạo đức thì không thể cai trị được nhân dân. Cho nên
đạo đức là một phương tiện để tranh thủ được lòng dân. Theo Nho giáo, đạo đức người
cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, Khổng Tử
khuyên người cầm quyền phải “tu thân” để làm tấm gương cho người dưới. Với việc đề
cao tu thân, coi đây là cái gốc trong rèn luyện nhân cách, Nho giáo đã tạo nên một lớp
người sống có đạo đức. Trong lịch sử dân tộc Việt nam đã có nhiều tấm gương sáng
10
ngời về đạo đức của các vị vua, của các anh hùng hào kiệt. Theo các nhà kinh điển của
Nho giáo, người làm quan phải có đức, phải lấy nhân nghĩa, lấy chữ tín làm mục tiêu
để cảm hóa lòng người, để cai trị. Muốn vậy, phải đặt lợi ích của thiên hạ lên trên lợi
ích của vua quan. Cho đến ngày nay tư tưởng nêu trên vẫn còn nguyên giá trị. Người

mạnh trong tư tưởng giáo dục. Các học sĩ, quan lại đều lấy thánh kinh, huyền truyện
của Nho giáo làm “khuôn vàng thước ngọc” cho mọi suy nghĩ, hành động của mình;
lấy xã hội của thời Nghiêu Thuấn làm khuôn mẫu cho mọi tình trạng xã hội, lấy những
tích cực điều phạm trong kinh thư, kinh xuân thu làm tiêu chuẩn để bình giá mọi sự
việc. Bệnh giáo điều này đã ăn sâu vào trong lĩnh vực khoa học nghệ thuật, nhất là
trong văn học và sử học khiến cho sự sáng tạo trong các lĩnh vực này bị dập vào những
cái khuôn có sẵn.
Khi đã chiếm được vị trí thống trị trên vũ đài tư tưởng, Nho giáo Việt Nam
không tiếp tục đi sâu vào khám phá bản chất của đời sống con người và vũ trụ, mà nó
chỉ chú trọng đến những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế. Nên khi xã hội phong
kiến rối loạn, vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người được đặt ra thì Nho giáo
trở thành bất lực.
- Về kinh tế:
Các nhà Nho chỉ chăm lo vào học hành thi cử mà không chăm lo phát triển kinh
tế, xa rời thực tế dẫn đến nền sản xuất kém phát triển. Chính sách kinh tế của Nhà nước
là trọng nông, ức thương, nhiều chính sách xã hội và văn hóa cũng nhằm ngăn can cải
cách làm ăn. Nho giáo coi thường những người chạy theo lợi nhuận, làm giàu là vì “vi
phú bất nhân, vi nhân bất phú”, coi thương nhân là hạng bét, coi việc hưởng dụng của
cải do thương nghiệp tạo ra là một việc bẩn thỉu. Chính vì thế, các giai cấp phong kiến
thường sử dụng các biện pháp bế quan tỏa cảng, không buôn bán giao lưu với nước
ngoài, làm kinh tế kém phát triển.
- Về văn hóa – xã hội:
Nho giáo mang tính hai mặt đan xen giữa các yếu tố vô thần duy tâm tôn giáo.
Học thuyết của Nho giáo còn mang tính cải lương duy tâm.Nho giáo hạn chế vai trò
của người phụ nữ, trọng nam khinh nữ, phân biệt đẳng cấp.
Có thể thấy, một số người do quá “trọng đức”, “duy tình” trong khi xử lý các
công việc và các mối quan hệ xã hội, dẫn đến buông lỏng kỷ cương phép nước và vi
phạm pháp luật. Coi trọng đạo đức là cần thiết nhưng vì tuyệt đối hóa vai trò của đạo
đức mà quên pháp luật là sai lầm. Tiếp thu truyền thống trọng đức của phương Đông,
nhấn mạnh quan hệ đạo đức “thân thân”, “thân hiền” của Nho giáo, nhiều người khi có

người đã đưa quan hệ gia đình vào cơ quan hình thành nên quan hệ “chú cháu”, “anh
em” khiến cho người cấp dưới không dám góp ý và đấu tranh với khuyết điểm của họ
vì vị nể bậc cha chú. Từ việc xem xét và giải quyết các vấn đề của xã hội thông qua
lăng kính gia đình nhiều khi dẫn đến những quyết định thiếu khách quan, không công
bằng. Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã dẫn đến một số người lãnh đạo không tin vào
khả năng của phụ nữ, ngại tiếp nhận nữ giới vào cơ quan hoặc cho rằng họ chỉ là người
thừa hành mà không được tham gia góp ý kiến…là những trở ngại cho việc đấu tranh
13
vì quyền bình đẳng giới. Vì quan hệ thứ bậc đã tạo nên quan niệm chạy theo chức
quyền. Trong xã hội phong kiến, địa vị luôn gắn với danh vọng và quyền lợi. Địa vị
càng cao thì quyền và lợi càng lớn. Hơn nữa, khi có chức, không những bản thân được
vinh hoa phú quý mà “một người làm quan cả họ được nhờ”. Hám danh, tìm mọi cách
để có danh, để thăng quan, tiến chức đã trở thành lẽ sống của một số người. Thậm chí
việc học tập theo họ cũng là “học để làm quan”.
Sự giáo dục và tu dưỡng đạo đức của Nho giáo còn mang tính cứng nhắc đã tạo
nên những con người sống theo khuôn mẫu, hành động một cách thụ động. Những tàn
dư tư tưởng trên đang làm cản trở và gây khó khăn cho việc xây đựng đạo đức mới và
xã hội mới ở nước ta hiện nay.
Qua những điều phân tích ở trên có thể thấy rằng, tư tưởng đạo đức Nho giáo
đã có ảnh hưởng đáng kể ở nước ta. Sự tác động, ảnh hưởng này ở hai mặt vừa có tính
tích cực, vừa có những hạn chế nhất định.
Để xây dựng đạo đức mới cho con người Việt Nam hiện nay chúng ta cần kế
thừa mặt tích cực, đồng thời khắc phục và xóa bỏ dần những ảnh hưởng tiêu cực của tư
tưởng đạo đức Nho giáo. Công việc này phải được tiến hành thường xuyên, kiên trì và
lâu dài.
2.2 Pháp gia
2.2.1 Tư tưởng chính trị của Triết học Pháp gia
Pháp gia là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương
dùng những luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo
đức của con người và củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc. Là tiếng nói đại

Chuyên học về hình danh, ông được vua nước Hàn dùng làm tướng quốc. Ông đưa ra
chủ trương ly khai "Đạo đức" chống "Lễ" và đề cao "Thuật" trong phép trị nước. Ông
cho rằng "thuật" là cái "bí hiểm" của vua, theo đó nhà vua không được lộ ra cho kẻ bề
tôi biết là vua sáng suốt hay không, biết nhiều hay biết ít, yêu hay ghét mình bởi điều
đó sẽ khiến bề tôi không thể đề phòng, nói dối và lừa gạt nhà vua.
Khác hẳn các đại biểu của Pháp gia, Thận Đáo thuần túy là một tư tưởng gia. Ông
người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo của Lão Tử,
nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật. Thận Đáo cho
rằng Pháp luật phải khách quan như vật "vô vi" và điều đó loại trừ thiên kiến chủ quan,
riêng tư của người cầm quyền. Trong phép trị nước, đặc biệt Thận Đáo đề cao vai trò
của "Thế". Ông cho rằng: "Người hiền mà chịu khuất kẻ bất tiếu là vì quyền thế nhẹ,
địa vị thấp: kẻ bất tiếu mà phục được người hiền vì quyền trọng vị cao. Nghiêu hồi còn
làm dân thường thì không trị được ba người mà Kiệt khi làm thiên tử có thể làm loạn
cả thiên hạ, do đó biết rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được mà bậc hiền, trí
không đủ cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa
15
đi, kẻ bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng, do đó
mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tùng, mà quyền thế và địa vị đủ
khuất phục được người hiền".
Một đại biểu khác của Pháp gia, là Thương Ưởng. Ông người nước Vệ, sau sang
Tần và giúp vua Tần cải cách pháp luật hành chính và kinh tế làm cho nước Tần trở
nên hùng mạnh. Trong phép trị nước Thương Ưởng đề cao "Pháp" theo nguyên tắc "Dĩ
hình khử hình" (dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạm). Chủ trương của ông là pháp luật
phải nghiêm, ban bố khắp trong nước cho ai cũng biết, và từ trên xuống dưới ai cũng
phải thi hành, không phân biệt giai cấp; Pháp đã định rồi thì không ai được bàn ra bàn
vào, không được “dùng lời khéo mà làm hại pháp”. Thương Ưởng chủ trương: Tổ chức
liên gia và cáo gian lẫn nhau, khuyến khích khai hoang, cày cấy, nuôi tằm, dệt lụa,
thưởng người có công, phạt người phạm tội. Đối với quý tộc mà không có công thì sẽ
hạ xuống làm người thường dân. Ông cũng là người đã thực hiện cải cách luật pháp, thi
hành một thứ thuế thống nhất, dụng cụ đo lường thống nhất nhờ đó chỉ sau một thời

Hàn Phi cho cách thưởng phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia, trong đó dựa
theo nguyên tắc: Thưởng thì phải tín, phạt thì phải tất; Thưởng thì phải trọng hậu, phạt
thì phải nặng; Sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, chí công vô tư; Vua phải nắm
hết quyền thưởng phạt.
"Thế" có vị trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền nhân: "Chỉ có bậc
hiền trí không đủ trị dân, mà địa vị quyền thế lại đủ đóng vai trò của bậc hiền vậy
Kiệt làm thiên tử chế ngự được thiên hạ không phải vì hiền mà vì có quyền thế. Nghiêu
thất phu không trị nổi ba nhà không phải vì hiền mà vì địa vị thấp". "Thế" không chỉ là
địa vị, quyền hành của vua mà còn là sức mạnh của dân, của đất nước, của vận nước
(xu thế lịch sử). Hàn Phi giải thích: "Cái ná yếu lại bắn được mũi tên lên cao là nhờ có
"gió kích động", và nếu không có sự trợ giúp của quần chúng thì làm sao kẻ kém tài lại
cai trị được thiên hạ”.
Sau “Thế”, trong tư tưởng của Pháp gia phải kể đến yếu tố thứ hai là "Pháp".
"Pháp" được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng "Pháp" là thể chế quốc gia là chế độ
chính trị xã hội của đất nước; Nghĩa hẹp "Pháp" là những điều luật, luật lệ, những luật
lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu. Kế thừa và phát triển tư tưởng Pháp trị của
pháp gia thời trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở,
thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp
luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo Pháp". Tính cách của pháp luật theo
Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia, là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua
nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải
dựa trên những nguyên tắc chính như: 1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải
soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ thi hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính
17
cách phổ biến. Với Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định
danh phận, phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một
mối, đều lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
Chủ trương của Pháp gia là bậc vua chúa phải làm cho dân theo đúng pháp luật, như
vậy là trị nước. Công việc trị nước của vua phải thông qua bộ máy cai trị, là quan lại.
Hàn Phi cho rằng cái lợi của vua và bề tôi khác nhau, mà bản tính con người nói chung

phòng họ. Hàn Phi cho biết một số hạng người không nên dùng: Hạng người coi khinh
tước lộc, dễ dàng bỏ chức vụ mà đi nơi khác; Hạng đặt lời giả dối trái pháp luật; Hạng
người lánh đời, ở ẩn, chê bai vua; Hạng vì tư lời mà làm thân các chư hầu; Hạng vì
người thân quen mà làm việc riêng tư… Tuy nhiên Hàn Phi cũng cho rằng có kẻ rất tài
giỏi lại là gian thần, nếu vua có thuật để khống chế họ thì vẫn có thể dùng.
"Thuật" còn thể hiện trong "thuật dùng người". Quy tắc cơ bản của thuật dùng
người theo Pháp gia là thuyết Hình danh. Thuyết này là Pháp gia kế thừa từ Khổng
Tử, và Phái Danh gia. Nhưng Hàn Phi có óc thực tế, không bàn về tri thức luận mà
đem học thuyết của Nho gia vào chính trị, ông chỉ thu hẹp vào việc dùng người, gạt bỏ
những vấn đề về đạo đức, luân lí. Ông không nói đến "Chính danh", mà chỉ nói đến
"Hình danh", hay là "Thực danh". Danh và hình hay thực phải hợp nhau. Ví như một
người hứa đến thăm ta, lời hứa đó là "Danh" và hành động tới thăm là "Hình" hay
"Thực" vậy. Nếu người đó đến thăm thực thì chứng tỏ danh và hình hợp nhau, nếu
không thì chỉ có danh mà không có hình hay không có thực. Nếu pháp luật là danh thì
sự việc là hình, sự việc hợp pháp luật thì danh và thực hợp nhau. Nếu quan vị là danh
thì chức vụ là hình, chức vụ không hợp với quan vị thì danh và hình không hợp nhau.
Hàn Phi cho quy tắc hình và danh hợp nhau là quan trọng nhất trong việc trị quan lại,
nếu không theo thì sao có thể phân biệt được kẻ hay người dở, người giỏi kẻ gian, khó
thưởng phạt đúng được, như vậy nước khó mà trị được.
Muốn dùng quy tắc hình danh hợp nhau để thu phục bề tôi thì vua phải tự mình
kiểm xét xem có chính đáng không, vì nếu chỉ nghe lời giới thiệu thì có thể người giới
thiệu hoặc vì tư lợi hoặc vì tình riêng hoặc vì bè phái mà đề cử kẻ bất tài hay gian thần.
Để không bị lừa gạt thì phải thận trọng, tham bác ý kiến nhiều người, rồi đích thân xét
tài đức, sau đến mới giao việc. Hàn Phi khôn chỉ đưa ra cách xét người, mà còn chỉ ra
phương pháp “Thỉnh ngôn”, “Tham nghiệm”, và “Thí chi giao chức”. Thính ngôn tức
phương pháp nghe, là: Khi bề tôi nói thì vua phải trầm mặc, lầm lì không khen không
chê, không để lộ ý nghĩ và tình cảm của mình; Phải bắt bề tôi nói, không được làm
thinh, mà nói thì phải có đầu có đuôi có bằng cớ; Lời nói của bề tôi không được trước
mâu thuẫn với sau; Bề tôi phải đưa ra ý kiến rõ rệt, không được mập mờ, ba phải để
trốn tránh trách nhiệm; Quan trọng nhất lời nói phải thiết thực, có công dụng, không

luật " thưởng phạt phải nghiêm minh "danh chính pháp hoàn bị thì bậc minh quân
chẳng có việc gì phải làm nữa, vô vi mà được trị".
Chính sách cai trị phải dựa vào ý dân, dân muốn gì thì phải cấp cho cái đó, không
muốn cái gì thì trừ cho cái đó. Hàn Phi tử đưa ra quan điểm; bản chất con người là ác,
muốn quản lý xã hội phải khởi xướng ra lễ nghĩa và chế định ra pháp luật để uốn nắn
tính xấu của con người. Trong cai trị - quản lý thì "tiên phú, hậu giáo" trước hết là làm
cho dân giàu sang sau đó thì giáo dục họ, trong giáo dục thì" tiên học lễ - hậu học văn"
20
Nho gia chủ trương cai trị bằng đạo đức, bằng văn và đã phát triển học thuyết- phương
pháp đức trị. Ngựơc lại, pháp gia đã đưa ra một học thuyết và phương pháp cai trị mới
- pháp trị " pháp bất vị thân", pháp phải hợp thời, pháp luật phải soạn sao cho dân dễ
biết dễ thi hành; pháp luật phải công bằng bênh vực kẻ thiểu số; thường phải có trọng
hậu, phạt phải nặng. Đó là tư tưởng về chính trị xã hội.
2.2.2 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng triết học Pháp gia
• Giá trị tích cực của tư tưởng Pháp gia
Tư tưởng chính trị của Pháp gia mà tiêu biểu nhất là Hàn Phi Tử có nhiều yếu tố
tích cực đáp ứng được yêu cầu phát triển của lịch sử. Tư tưởng pháp gia vẫn còn nhiều
yếu tố có giá trị có thể vận dụng trong xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay.
Pháp gia coi trọng quyền lực của nhà lãnh đạo. Là một bước tiến lớn, trong tư tưởng
chính trị cổ đại Trung Quốc. Mục đích chính của quyền lực là để giúp cho nhà lãnh đạo
có đủ phương tiện, mưu cầu quốc gia phú cường, bằng chính sách "Canh chiến" do
Hàn Phi đề xướng. Được như vậy thì vào thời bình, nhân dân sẽ nỗ lực canh tác, làm
cho nước giàu, nhờ có pháp lệnh khuyến khích; một khi xây ra chiến tranh, thì khối
nông dân đã được tổ chức sẵn trong thời bình, đều trở thành lính chiến, có thể đưa ngay
ra chiến trường chống giặc, như Hàn Phi đã nói: vô sự tắc quốc phú, hữu sự tắc binh
cường". Mấy ngàn năm đã qua, chúng ta có thể chắc chắn một điều là không có gì hoàn
toàn cả. Tư tưởng Pháp gia cũng vậy, nó có những điểm tiêu cực, thậm chí là phản
động nhưng nó cũng có những điểm rất tiến bộ, mà ngay cả ngày nay cũng là lý tưởng.
• Hạn chế của tư tưởng Pháp gia
Có ba hạn chế lớn trong đường lối Pháp trị của Pháp gia:

- Xây dựng Pháp luật của vua, do vua, vì vua: Do điều kiện lịch sử khách quan,
dựa trên nhu cầu cai trị của vua, Pháp trị của Hàn Phi là pháp luật của vua, là việc vua
sử dụng pháp luật để cai trị thiên hạ. Trong đường lối Pháp trị, thân phận của nguời
dân, dù được nêu ra theo hướng bình đẳng trước pháp luật, nhưng không phải với nghĩa
“dân chủ” và pháp luật được “thượng tôn” nhưng vua vẫn đứng trên pháp luật. Chi có
vua là chủ, có quyền sở hữu, còn tất cả chỉ có quyền hưởng dụng. Pháp trị của Hàn Phi
là pháp trị phục vụ quyền lợi một nguời chứ không phải pháp trị phục vụ một giai cấp,
càng không phải pháp trị phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Chủ trương mọi nguời bình
đẳng trước pháp luật của Pháp trị, tuy chống lại tư tuởng phân chia đẳng cấp của Nho
giáo, nhưng đồng thời lại làm nổi bật hơn thân phận nô lệ của nguời dân. Biện pháp thi
hành pháp trị là sử dụng Thế và Thuật, cũng chỉ để đề cao vị thế của vua và sử dụng
thủ đoạn để cưỡng ép dân thi hành pháp lệnh của vua.
- Tập trung quyền lực vào một cá nhân (vua): Pháp gia tuy khác Nho gia ở quan
điểm trị nước nhưng hoàn toàn giống Nho gia ở quan điểm khẳng định quyền lực tối
thượng của vua. Việc xây dựng một lý thuyết pháp trị vững chắc dựa trên quyền lợi của
một cá nhân là không nên và sẽ không thành công. Đường lối pháp trị này đem lại rủi
22
ro rất lớn đối với lợi ích quốc gia. Về lý thuyết, Hàn Phi cho rằng nếu biết dùng pháp-
thuật-thế, vua không giỏi cũng có thể trị được nước. Nhưng trên thực tế, nếu vận dụng
hiệu quả Pháp trị của Hàn Phi, ông vua đó nhất định phải là bậc thánh nhân. Muốn
Pháp được thực hiện tốt, thì những nguời hành pháp phải mạnh. Muốn có nguời hành
pháp mạnh, thì vua phải giỏi Thuật, và thực hiện được “Vô Vi”. Thuật có giỏi thì Thế
mới vững. Thế có vững thì Pháp trị mới thành công. Hơn nữa, ngoài nắm vững Pháp -
Thuật - Thế, bậc vua sáng còn phải biết Pháp luật thay đổi theo thời thì trị; việc cai trị
thích hợp theo thời thì có công lao…Thời thế thay đổi mà cách cai trị không thay đổi
thì sinh loạn. Biết cai trị dân chúng nhưng lệnh ngăn cấm không thay đổi thì nước bị
cắt. Cho nên bậc thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi, và sự ngăn
cấm theo khả năng mà thay đổi (Thiên Tâm độ - Hàn Phi Tử). Việc nước Tần dùng
Pháp trị của Hàn Phi mà bình được loạn, thống nhất được thiên hạ nhưng đến khi cai trị
thiên hạ, vẫn lối cũ mà làm, cũng chỉ được hiệu quả thời gian đầu, về sau lại vì pháp trị

không nên quá chênh lệch trong phân phối: “không sợ thiếu, chỉ sợ không đều” đã
được đề cao; Về đào tạo nhân sự, nhà quản trị phải chịu khó dạy dỗ, thiếu cái gì dạy cái
ấy, nhà quản trị phải là tấm gương để người dưới học tập: “học không biết chán, dạy
không biết mỏi”.
Bên cạnh học thuyết “Đức trị” chủ trương lấy “Đức” làm phạm trù hạt nhân,
tức là đề cao vai trò của nhà quản trị, cần phải nói thêm về một học thuyết mà tuy
không trở thành nền tảng chính của tư tưởng quản trị nhân sự Phương Đông nhưng có
một số ảnh hưởng nhất định đến nó, đó là học thuyết “Pháp trị” do Hàn Phi Tử - một
danh sĩ đời Tần Thuỷ Hoàng sáng lập. Nội dung của “Pháp trị” được thể hiện chủ yếu
trong tác phẩm “Hàn Phi Tử”. Tư tưởng quản trị nhân sự trong học thuyết của Hàn Phi
Tử dựa trên cơ sở nhận thức của Ông về bản chất con người, đó là, ngoại trừ một số ít
thánh nhân, còn thì phần lớn con người: (i) tranh nhau vì lợi; (ii) lười biếng, khi có dư
ăn rồi thì không muốn làm nữa; (iii) chỉ phục tùng quyền lực.
Trên cơ sở nhận thức về bản chất con người khác với trường phái “Đức trị”,
Hàn Phi Tử đã xây dựng một học thuyết xoay quanh ba phạm trù: Pháp, thế, thuật.
Trong học thuyết của mình, Hàn Phi Tử đã chỉ rõ và quy trình hoá các nội dung liên
quan đến sử dụng nhân sự, đãi ngộ nhân sự: dùng người phải đúng hình danh, theo
đúng quy trình khách quan (phải phát huy được sức lực và trí tuệ, các loại công việc
khác nhau đòi hỏi các kỹ năng không giống nhau, giao việc phải từ nhỏ đến lớn ); đãi
ngộ theo nguyên tắc, quy tắc, quy chế chứ không theo ý riêng (thưởng phạt theo quy
định rõ ràng).
Hàn Phi Tử chủ trương phải cụ thể hoá hoạt động quản trị nhân sự thành thao
tác và quy trình để người bình thường cũng có thể học và thực thi được: “Pháp phải
hợp thời, dễ biết, dễ thi hành, phải công bằng”. Một trong những tư tưởng xuyên suốt
trong học thuyết “Pháp trị” đó là tính thực tiễn: “Việc phải theo thời, mà biện pháp
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status