BÀI BÁO CÁO -CÁC PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT DẦU NHỜN GỐC. - Pdf 27

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
LỜI MỞ ĐẦU
Dầu mỏ được con người biết đến và sử dụng vào thế kỷ 18 với mục
đích thắp sáng. Năm 1853 tại Mỹ xuất hiện giếng khoan đầu tiên đây là bước
chuyển mình và đi lên của ngành khai thác và chế biến dầu mỏ.
Đến năm 1992, thế giới đã có tới 100 loại dầu mỏ khác nhau thuộc sở
hữu của 48 quốc gia trong đó có Việt Nam. Quốc gia có sản lượng dầu mỏ lớn
nhất là Arập xêút chiếm 26% tổng sản lượng dầu mỏ trên thế giới.
Cho đến nay khi chưa có sự thống nhất nhưng đa số dư luận khoa học
cho rằng: Dầu mỏ có nguồn gốc hữu cơ. Tuỳ thuộc vào tuổi của dầu, độ sâu
và tính chất địa lý mà dầu mỏ có thể khác nhau. Nhưng đặc điểm chung của
dầu đều tồn tại ở thể lỏng sánh và dính. Dầu thô có màu tối hay gặp là màu
nâu và đen, có mùi đặc trưng khó ngửi. Dầu mỏ không tan trong nước nhẹ
hơn nước. Thành phần của dầu mỏ là một hỗn hợp phức tạp chứa chủ yếu là
hydrrocacbon (80 – 85%C, 10 – 14%H).
Công nghiệp dầu khí là một ngành công nghiệp có những bước thay đổi
và phát triển không ngừng, đặc biệt là những năm cuối thể kỷ 20. Công
nghiệp dầu khí đã và đang trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, bên cạnh
đó là sự phát triển không ngừng của một số nguyên liệu trong ngành công
nghiệp hoá dầu, song không thể không nhắc đến nguyên liệu mazut, là một
trong những nguyên liệu có đặc tính quan trọng để sản xuất ra dầu nhờn.
Mazut có tên gọi là dầu cặn, được sử dụng phổ biến cho ngành tổng
hợp hoá dầu và các ngành công nghiệp khác. Nguyên liệu Mazut đã góp phần
tạo ra sự thay đổi lớn về cơ cấu phát triển các chủng loại và chất lượng sản
phẩm của ngành công nghiệp hoá dầu.
Ngày nay nguyên liệu Mazut được sử dụng với mục đích chủ yếu là
giải quyết nhu cầu nguyên liệu cho động cơ và nguyên liệu cho công nghiệp.
Do có nhiều tính năng ưu việt trong khi sử dụng, mà các dạng nguyên liệu cổ
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT

dầu cho phép thu được dầu gốc có chất lượng cao.
Đối với việc sản xuất các sản phẩm dầu nhờn từ dầu mỏ dạng nhiều lưu
huỳnh và nhiều parafin thì phải lựa chọn sơ đồ hệ thống sản xuất dầu nhờn
phức tạp hơn và sử dụng dung môi chọn lọc, phải thêm quá trình khử parafin,
rồi đến quá trình hấp thụ lần cuối trên đất sét hay thay thế cho quá trình này
bằng quá trình làm sạch bằng hydro.
Như chúng ta đã biết, quá trình chưng cất chân không là quá trình đầu
tiên của hệ thống sản xuất dầu nhờn. Việc phân chia các phân đoạn có triệt để
hay không đều ảnh hưởng đến các chỉ tiêu của quá trình cơ bản sản xuất dầu
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
nhờn. Tất cả các phân đoạn dầu nhờn được phân chia qua quá trình chưng cất
ở áp suất chân không bao gồm:
• Phân đoạn dầu nhờn nhẹ: 300 ÷ 400
0
C.
• Phân đoạn dầu nhờn trung bình: 350 ÷ 420
0
C.
• Phân đoạn dầu nhờn nặng: 320 ÷ 500
0
C.
• Phân đoạn dầu nhờn cặn: > 500
0
C.
Các phân đoạn này đều trải qua quá trình trích ly (hay làm sạch) bằng
dung môi chọn lọc (có thể dùng phenol hay fufurol…). Sau đó tiếp tục tới quá
trình kết tinh (hay khử) parafin nhẹ để giảm nhiệt độ đông đặc của dầu nhờn
và cuối cùng làm sạch lần cuối bằng các chất dung môi có lẫn từ các quá trình

cho sản xuất dầu nhờn. Sơ đồ công nghệ chung để sản xuất dầu nhờn gốc từ
dầu mỏ thường bao gồm các công đoạn như hình 1b, gồm các quá trình sau:
- Chưng chân không nguyên liệu cặn mazut.
- Chiết tách, trích ly bằng dung môi.
- Tách hydrocacbon rắn (sáp).
- Làm sạch lần cuối bằng quá trình hydro hoá.
Quá trình tách asphan bằng dung môi propan thường được áp dụng để
sản xuất dầu nhờn có độ nhớt cao từ nguyên liệu cặn gudron cũng được xếp
vào quá trình chiết, trích ly bằng dung môi.
I.1. Quá trình chưng cất chân không [2]
Qúa trình chưng cất chân không cho phép ta nhận được các phân đoạn
riêng biệt dựa vào khoảng nhiệt độ sôi hay độ nhớt. Do mục đích của công
đoạn này là điều chỉnh độ nhớt và nhiệt độ chớp cháy của phân đoạn dầu gốc.
Sơ đồ chưng cất chân không được trình bày trên hình 2.
Qúa trình chưng cất chân không cho phép nhận được các phân đoạn
dầu bôi trơn có độ nhớt khác nhau. Phần dầu nhẹ nhất, có độ nhớt nhỏ nhất
thu được ở đinh tháp và phần nặng nhất thu được ở đáy tháp có độ nhớt lớn
nhất. Trong các phân đoạn thu được sẽ có mặt tất cả các cấu tử có mặt trong
nguyên liệu của loại dầu đem chưng cất.
Như chúng ta đã biết, các loại dầu mỏ khác nhau thì chúng đều khác
nhau về thành phần hoá học nên không phải tất các dầu mỏ đều cho ta dầu bôi
trơn có chất lượng tốt. Nhưng nhờ công nghiệp chế biến dầu hiện đại, người
ta có thể thu được dầu gốc chất lượng tốt từ bất kỳ dầu thô nào, song giá
thành sản phẩm sẽ rất khác nhau và sẽ càng cao nếu nguyên liệu không thuận
lợi. Loại dầu thô tốt nhất cho việc sản xuất dầu gốc là các phân đoạn dầu
nhờn có chứa nhiều hydrocacbon naphten và các hydrocacbon thơm một vòng
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
7
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
có nhánh, parafin dài phân nhánh và các izo-parafin. Còn dầu thô xấu nhất là

lượng hydrocacbon đa vòng thơm và cặn nhựa khá cao. Chính vì thế mà quá
trình tách bằng dung môi rất quan trọng và không thể thiếu trong công nghệ
sản xuất dầu nhờn có chất lượng cao.
Nguyên lý của quá trình chiết bằng dung môi dựa trên việc sử dụng
dung môi. Việc lựa chọn dung môi phụ thuộc vào tính chọn lọc của nó, tức là
dựa vào khả năng phân tách hai nhóm cấi tử khác nhau về mặt hoá học. Khi
trộn dung môi với nguyên liệu ở điều kiện thích hợp, các cấu tử trong nguyên
liệu sẽ được phân chia thành hai nhóm: .
• Nhóm cấu tử hoà tan tốt vào dung môi tạo thành pha riêng gọi là pha
chiết (extract).
• Nhóm cấu tử không hoà tan hoặc hoà tan rất ít vào dung môi gọi là rafinat.
Sản phẩm có ích có thể nằm trong extract hoặc trong pha rafinat tuỳ
dung môi sử dụng. Dựa vào bản chất của dung môi mà người ta chia thành
dung môi có cực và dung môi không cực, hay dung môi hỗn hợp, nhưng dù
loại dung môi nào được chọn cũng phải thoả mãn các yêu cầu sau :
+ Phải có tính hoà tan chọn lọc, tức là phải có khả năng phân tách thành
hai nhóm cấu tử: nhóm có lợi và nhóm không có lợi cho dầu gốc. Tính chất
này còn được gọi là độ chọn lọc của dung môi.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
+ Phải bền về mặt hoá lọc, không phản ứng với các cấu tử của nguyên
liệu, không gây ăn mòn và dễ sử dụng.
+ Có giá thành rẻ, dễ kiếm.
+ Có nhiệt độ sôi khác xa so với cấu tử cần tách để dễ dàng thu hồi
dung môi, tiết kiệm được năng lượng.
Ba loại dung môi được sử dụng để chiết tách các phần hydrocacbon
thơm và cặn nhựa ra khỏi phân đoạn dầu nhờn hiện nay đó là phenol, fufurol
và N-metylpirolydon (NMP). Còn để tách các hợp chất nhựa - asphan trong
phân đoạn gudron phổ biến là dùng propan lỏng.

C nó hoà tan parafin rất tốt, nhưng
khả năng này giảm khi nhiệt độ tăng cho đến khi đạt đến nhiệt độ hoà tan tới
hạn của prôpan (96,8
0
C) tất cả các hydrocacbon đều không tan trong propan.
Trong khoảng 40 ÷ 96,8
0
C các hợp chất nhựa. - asphan có phân tử lượng cao
hầu như không tan trong propan, vì thế tính chất này sẽ quyết định chế độ
công nghệ khử asphan bằng propan. Quá trình tách bằng chưng cất các phân
đoạn chủ yếu dựa vào trọng lượng phân tử, còn chiết tách bằng dung môi thì
đưa vào chủng loại phân tử. Quá trình tách asphan nằm ở vị trí trung gian
giữa hai quá trình này, vì tách asphan phụ thuộc vào cả trọng lượng phân tử
và chủng loại cấu trúc phân tử.
Hình 3. Sơ đồ đơn giản của quá trình tách asphan bằng propan
Sơ đồ công nghệ quá trình tách asphan được trình bày trên hình 4.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
11
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
Hình 4. Sơ đồ nguyên lý chung của quá trình tách asphan.
Nguyên liệu tiếp xúc với lượng propan lỏng lớn gấp 5 ÷ 8 lần theo thể
tích ở nhiệt độ thích hợp đã chọn trước. Dầu càng nặng thì lượng propan dùng
càng phải lớn, pha chiết chứa từ 30 ÷ 50% propan (theo thể tích, còn lại là
khối lượng asphan. Đó không hẳn là dung dịch mà là một dạng nhũ tương của
các hợp chất asphan trong propan. Từ sơ đồ hình 4 cho thấy propan được đưa
vào đáy tháp chiết, còn nguyên liệu (phần cặn chưng cất chân không) được
đưa vào đỉnh tháp. Vì propan chuyển động ngược lên đỉnh tháp, nó hoà tan
dầu từ nguyên liệu rồi moang chúng theo lên đỉnh tháp. Các loại hợp chất
nhựa, asphan đi ra từ đáy tháp, còn hỗn hợp dầu – propan đi ra từ đỉnh là phần
rafinat (rafinat gồm dung môi và 15 ÷ 20% khối lượng dầu). Propan tách ra

dung môi cần thiết càng ít để nhận được cùng một rafinat chất lượng tương
đương, thì khả năng hòa tan của dung môi càng lớn.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
Về nguyên lý, độ chọn lọc và khả năng hòa tan là hai đại lượng ngược
nhau, tăng chỉ tiêu này sẽ dẫn tới làm giảm chỉ tiêu kia. Độ chọn lọc là khả năng
hoà tan của mỗi một dung môi không phải là đại lượng cố định mà chúng phụ
thuộc vào thành phẩn hoá học của nguyên liệu. Độ hòa tan của hydrocacbon
trong dung môi có cực không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc của hydrocacbon mà
còn phụ thuộc vào nhiệt độ và thường tuân theo một số quy luật sau:
• Khi tăng số vòng trong phân tử hydrocacbon thì độ hòa tan tăng.
• Khi tăng chiều dài mạch alkyl, độ hòa tan giảm xuống.
• Độ hòa tan giảm khi tăng số nguyên tử cacbon trong naphten.
• Độ hòa tan của hydrocacbon thơm sẽ lớn hơn naphten khi có cùng số
nguyên tử cacbon trong vòng.
• Hydrocacbon lai hợp naphten - thơm có độ hòa tan cao hơn so với
naphten có cấu trúc tương tự.
• Hyđrocacbon parafin có độ hòa tan nhỏ nhất.
Như trên đã nói, ngày nay người ta đâng sử dụng phổ biến ba loại dung
môi có cực để tách các hợp chất nhựa và thơm đa vòng ra khỏi nguyên liệu
dầu nhờn là phenol, furfurol là N-metylpyrolidon (NMP).
Bảng 1. Một số tính chất của các dung môi
Chỉ tiêu Phenol Fufurol NMP
Khối lượng riêng ở 20
0
C, kg/cm
3
1060 1159 1033
Nhiệt độ sôi,

tạo điều kiện thuận lợi cho làm sạch nguyên liệu dầu nhờn, nhất là loại có
chứa nhiều cặn và độ nhớt cao đồng thời dung môi này cũng rẻ tiền và dễ
kiếm. Tuy nhiên, phenol lại rất độc hại đối với người, do đó đặt vấn đề bảo vệ
môi trường và bảo hộ lao động.
Ở nhà máy khác trên thế giới lại hay dùng quá trình làm sạch bằng
fufurol do ít độc hại hơn so với phenol. Và tuy có khả năng hoà tan kém hơn
phenol, nhưng dung môi này lại có độ chọn lọc cao hơn. Điều này sẽ cho hiệu
quả lớn hơn khi dùng fufurol để làm sạch phần cất chứa nhiều hydrocacbon
hơn. Dung môi này được sử dụng rộng rãi để nâng cao chỉ số độ nhớt và tính
năng, chống oxy hoá của các phân đoạn dầu chưng cất và dầu cặn. Tính oxy
hoá mạnh và dễ tạo nhựa khi có mặt không khí và nước là nhược điểm chính
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
của dung môi fufurol. Để tránh quá trình oxy hoá nó, trong công nghiệp người
ta hay áp dụng các biện pháp sau :
• Bảo quản fufurol trong môi trường khí trơ.
• Kiểm tra chặt chẽ nhiệt độ trong hệ thống đun nóng và tái sinh dung
môi.
• Khử khí sơ bộ khỏi nguyên liệu trước khi tiến hành trích ly
• Có thể thêm chất chống oxy hoá đặc biệt và fufurol.
Bảng 2. Một số tính chất của rafinat được chiết tách bằng fufurol so với
phân đoạn dầu chưng cất .
Tính chất Dầu chưng cất gốc naphten Rafinat
Độ nhớt, mm
2
/s
Ở 40
0
C 93 77

I.3.1. Khái niệm chung
Sáp là một hỗn hợp mà chủ yếu là các parafin phân tử lớn và một lượng
nhỏ các hydrocacbon khác có nhiệt độ nóng chảy cao (chúng dễ bị kết tinh ở
nhiệt độ thấp) và kém toà tan vào dầu nhờn ở nhiệt độ thấp. Vì thế chúng cần
phải được tách ra khỏi dầu nhờn. Trong thực tế, đa phần dầu gốc chế tạo từ
dầu mỏ đều phải qua khâu tách sáp, xử lý tách parafin trừ khi hàm lượng
parapin thấp không ảnh hưởng tới độ linh động của dầu.
Tách paraffin là một khâu quan trọng và khó khăn trong quá trình sản
xuất dầu nhờn gốc. Có hai loại quy trình công nghệ hiện đang được sử dụng
trong công nghiệp sản xuất dầu nhờn, đó là:
- Làm lạnh để kết tinh sáp và dùng dung môi để hoà tan phần dầu đủ cho
phép lọc nhanh tách sáp khỏi dầu nhờn.
- Cracking chọn lọc để bẻ gãy parafin tạo sản phẩm hay qúa trình này còn
gọi là quá trình tách parafin dùng xúc tác.
Tùy theo mức độ khử parafin mà người ta có thể phân thành quá trình khử
parafin bình thường hay quá trình khử parafin triệt để. Trong qúa trình khử
parafin bình thường, người ta nhận được sản phẩm có nhiệt độ đông đặc từ
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
-10 đến -15
0
C (-18
0
C). Còn ở quá trình tách triệt để (tách sâu), sản phẩm dầu
nhờn gốc thường có nhiệt độ đông đặc từ -30
0
C và thấp hơn. Nhiệt độ đông
đặc của dầu sau khi tách sáp phụ thuộc vào chế độ tách sáp nhất là nhiệt độ và
loại dung môi được sử dụng. Tuy nhiên việc tách parafin để đạt được nhiệt độ

- Ít (hay không) hòa tan sáp.
- Hòa tan tốt dầu nhờn ở tại nhiệt độ kết tinh sáp.
- Sáp ở đang tinh thể lớn để dễ tách bằng lọc.
- Có nhiệt độ sôi thấp để dễ tách khỏi dầu, tiết kiệm năng lượng.
- Dung môi phải sẵn, rẻ tiền, không độc hại và không gây ăn mòn.
- Tỷ lệ dung môi/ nguyên liệu dầu thấp để giảm chi phí vận hành.
Một số loại dung môi hay được sử dụng trong phương pháp này gồm
dung môi chính là các xeton, hydrocacbon thơm và các dẫn xuất clo của
hydrocacbon. Dùng hỗn hợp hai loại dung môi cho hiệu quả tốt hơn. Vì vậy
phổ biến nhất là dùng dung môi xeton - hydrocacbon thơm.
Sơ đồ còng nghệ tách sáp dùng dung môi được trình bày trên hình 7
bao gồm ba công đoạn sau: .
- Pha trộn dầu nhờn cần tách sáp với dung môi rồi làm lạnh.
- Lọc hỗn hợp đã làm lạnh để tách sáp.
- Thu hồi dung môi và tái sử dụng chúng.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
HÌnh 7: Sơ đồ công nghệ tách sáp bằng phương pháp
dùng dung môi chọn lọc
Từ sơ đồ hình 7 cho thấy, dầu nhờn và dung môi được trộn với nhau
theo chế độ công nghệ chọn trước ở thiết bị trộn, sau đó qua thiết bị làm lạnh
(với tác nhân làm lạnh có thể dùng amoniac, propan, etan hay etylen). Hỗn
hợp lạnh gồm sáp và dung môi được đưa vào bộ phận lọc quay chân không
hình trống để lọc tách sáp kết tinh. Bộ phận lọc quay chân không là thiết bị
hình trụ được bọc bởi một lớp kim loại hoặc lưới bằng chất dẻo. Trống quay
chậm quanh trục nằm ngang, phần dưới đi qua bể chứa hình trụ to hơn trống
lọc nơi để dầu và sáp được dẫn vào. Trống lọc được chia thành nhiều ngăn
bởi các vách ngăn đi từ tâm ra ngoài thành, mỗi ngăn được nối với bộ phận
hút chân không nhờ ống nối ở đuôi trống. Khi trống quay, những ống nầy nối

Những ưu điểm chính của phương pháp này so với phương pháp dùng
dung môi có chọn lọc là:
- Hiệu suất dầu tăng.
- Không cần phải có công đoạn làm sạch bằng hydro.
- Vốn đầu tư thấp.
- Cho phép sản xuất dầu gốc có nhiệt độ đông đặc thấp từ những
nguyên liệu có hàm lượng parafin cao.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
I.5. Làm sạch bằng axit sunfuric và đất sét [11].
Tinh chế bằng axit là một trong những phương pháp cổ điển nhất trong
công nghiệp dầu mỏ. Nói một cách sơ lược quá trình này gồm hai giai đoạn,
đó là khuấy trộn dầu với axit sunfuric đặc, tách dầu khỏi cặn bùn axit bằng
cách để lắng gạn hoặc ly tâm. Cuối cùng là tách các chất có tính axit tan trong
dầu bằng cách dùng xút rửa hoặc dùng một loại đất sét thích hợp để xử lý.
Việc xử lý bằng axit sunfuric và đất sét trong thời gian dài là quá trình tinh
chế dầu khoáng quan trọng nhất. Tuy nhiên quá trình này có nhiều nhược
điểm, do đó dần dần nó bị thay thế bằng các quá trình xử lý bằng hydro. Một
phần do lịch sử, một phần do nó vẫn được sử dụng trong công nghệ tái sinh
dầu thải nên một số khía cạnh của quá trình xử lý bằng axit và đất sét được đề
cập dưới đây.
Quá trình được tiến hành trong thiết bị khuấy trộn trong đó hỗn hợp
dầu vớt axit được trộn bằng cách sục không khí hoặc dùng bơm tuần hoàn
trộn. Tiếp theo cặn bùn axit tạo thành được lắng tách trong bế lắng. Thông
thường thiết bị trộn là thùng thép hình trụ phía trong lót lớp chì, đáy hình côn
để dễ lắng và tháo cặn bùn axit .
Hình 8 mô tả một cách sơ lược quá trình làm sạch bằng axit và đất sét.
Quá trình này liên tục cho công suất lớn và có tính kinh tế hơn.
Việc xử lý bằng axit sunfuric dẫn đến sự tách một phần hoặc hoàn toàn

0
C đối với dầu trắng.
Lượng đất sét khoảng 0,5 ÷ 3,5% trọng lượng và thường phải xử lý từ 2 đến 4
lần.
Công nghệ xử lý dầu bằng axit - đất sét là qúa trình gián đoạn, khó vận
hành, giá thành cao vì hiệu suất thấp, mức tiêu tốn hoá chất lớn và đòi hỏi
nhiều công. Tuy nhiên điểm chủ yếu của nó là vấn đề liên quan tới cặn thải
axit và đất sét đã dùng vì xét theo quan điểm luật bảo vệ môi trường nghiêm
ngặt thì khó chấp nhận và tốn kém. Không thể để tồn các chất thải này thành
đống được mà nếu đốt chúng thì sẽ gây ô nhiễm không khí khá lớn.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
23
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ PHÂN XƯỞNG CHƯNG CẤT DẦU MAZUT
Do vậy việc xử lý dầu bằng hydro có thể khắc phục các nhược điểm
trên. Đây là quá trình liên tục trong đó dầu khoáng được đưa vào xử lý với
hydro có xúc tác ở nhiệt độ cao và áp suất lớn. Các yếu tố trên có thể chuyển
hoá được các hợp chất không bền thành các sản phẩm tốt, giá thành thấp hơn
quá trình xử lý bằng axit - đất sét .
I.6. Làm sạch bằng hydro [2]
Quá trình tinh chế sản phẩm dầu đã tách parafin là quá trình cần thiết
nhằm loại bỏ các hợp chất hoạt động bề mặt hoá học có ảnh hưởng đến độ
bền màu của dầu gốc.
Ví dụ: Các hợp chất hữu cơ chứa nitơ ảnh hưởng rất lớn đến màu sắc
cũng như độ bền màu của dầu gốc, vì thế việc loại bỏ chúng là yêu cầu chính
của quá trình tinh chế bằng hydro.
Sơ đồ của quá trình làm sạch bằng hydro được trình bày ở hình 9.
Hình 9: Sơ đồ quá trình làm sạch bằng hydro
Trong quá trình làm sạch bằng hydro, nguyên liệu tiếp xúc với hydro
trong điều kiện có xúc tác và nhiệt độ, áp suất cao (300 ÷ 370
0

Các hydrocacbon parafinic có độ nhớt thấp hơn so với các loại khác.
Chiều dài và độ phân nhánh của hydrocacbon càng lớn, độ nhớt sẽ tăng
lên.
Trần Viết Chánh Trường ĐHBK Hà Nội
25

Trích đoạn SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC SƠ ĐỒ CễNG NGHỆ [11]. AN TOÀN VỀ TRANG THIẾT BỊ TRONG NHÀ MÁY HOÁ CHẤT TỪ KHÂU THIẾT KẾ ĐẾN KHÂU VẬN HÀNH. CƠ SỞ KỸ THUẬT AN TOÀN PHềNG CHÁY TRONG CễNG NGHIỆP. AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ PHềNG CHỐNG ĐỘC HẠI VỚI CễNG NHÂN, MễI TRƯỜNG. NHỮNG YấU CẦU VỀ PHềNG CHỐNG CHÁY NỔ.
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status