Chương I: GIỚI THIỆU MÔN HỌC TÀI CHÍNH CÔNG
Khái niệm về tài chính công theo các quan điểm khác nhau, xem xét đối tượng nghiên cứu
của TCC, cấu trúc môn học
Tài chính công, cũng được hiểu như Kinh tế học của Khu vực công hay Kinh tế công, chủ yếu đề
cập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu của Chính phủ và những ảnh hưởng của nó trong việc
phân bổ các nguốn lực và phân phối thu nhập.
Theo Quan niểm cổ điển: TCC là khoa học nghiên cứu sự tài trợ cho chi tiêu công và sự phân bổ
các gánh nặng quốc gia (ấn định mức thuế mà mọi người phải đóng góp, thiết lập ngân sách)
Theo Quan điểm hiện đại: Chính phủ dùng Kĩ thuật tài chính để can thiệp có hiệu quả vào quá
trính phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia (chính sách chi tiêu công, chính sách tiền tệ, chi
tiêu công, ngân sách) => TCC có chức năng rộng hơn : (để giải thích rõ hơn)
+ việc sử dụng thuế quan là để phát triển kinh tế, đám bảo tính công bằng xã hội chứ không chỉ là
phục vụ chi tiêu công của chính phủ. (vd: tăng thuế là đánh vào các công ty có sản phẩm mà quốc
gia không muốn có nhiều, giảm thuế để khuyến khích những ngành, sản phẩm mà quốc gia muốn
có nhiều vì lợi ích nền kinh tế)
+ Thiết lập ngân sách nhà nước phải đảm bảo Thu và Chi phù hợp với nền kinh tế ( có biện pháp
duy trì già trị tiền tệ, khi nền kinh tế suy thoái CP có thể dùng biện pháp kích cầu…)
Tóm lại đối tượng nghiên cứu của Tài chính công là các hoạt động thu thuế và chi tiêu của chính
phủ
Phân biệt Tài chính công và Tài chính Nhà nước:
Tài chinh công: nghiên cứu các hoạt động của chính phủ để hiểu rõ vai trò của Nhà nước trong
nền kinh tế và tác động của nó đối với các nguồn lực và đối với tình trạng xung tác của người dân.
Tài chính Nhà nước: nghiên cứu các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước trong quá trình
tạo lập và sử dụng các nguồn quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ thực tiễn các chức năng
kinh tế xã hội của Nhà nước.
Nắm các quan điểm chính phủ về tổ chức và cơ chế, quy mô chính phủ, chi tiêu của chính
phủ, xem xét và so sánh chi tiêu của Chính Phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam.
• Các quan điểm về chính phủ:
o Quan điểm tổ chức về Chính phủ (organic view of government)
Xã hội được nhận thức như là một tổ chức tự nhiên. Mỗi cá nhân là một thành phần của tổ chức
hoặc cho các chính phủ khác: chính phủ lấy thu nhập từ các cá nhân, tổ chức kinh tế cấp cho
những người khác.
- Trả lãi vay: trong hoạt động của mình, chính phủ thường phải đi vay. Do đó, như những
người đi vay khác, chính phủ phải trả 1 khoản lãi vay. Khi chi tiêu của Chính phủ tăng, chi phí này
tăng và ngược lại.
Chúng ta không thể nào tổng kết lại thành một con số đơn giản về quy mô tác động của chính
phủ đối với nền kinh tế. Do đó, hầu hết các nhà kinh tế thường chấp nhân xác định chi tiêu của
Chính phủ như 1 phép gần đúng nhưng là 1 số đo hữu ích.
• Bình luận và so sánh chi tiêu cp Hoa Kỳ và cp Việt Nam
o Chi tiêu của Chính phủ Hoa Kỳ (1965-1999) :
- Chi phí quốc phòng là 1 thành phần quan trọng trong tổng chi tiêu của Liên bang nhưng nó
lại giảm đi nhiều qua các giai đoạn.
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người cao tuổi và các hoạt động phúc lợi xã hội tăng
đáng kể.
- Các khoản lãi vay phải trả cũng tăng gấp đôi (so số liệu năm 1999 với năm 1965) để tương
xứng với những chi tiêu của liên bang từ năm 1965.
o Chi tiêu của Chính phủ Việt Nam (giai đoạn 2000-2002)
- Chi tiêu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chiếm tỉ lệ cao (40% tổng chi tiêu công trong những
năm qua) vì VN là 1 quốc gia đang phát triển, có quy mô thu nhập quốc dân dân thấp.
- Trong tổng chi cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội, thì khoản chi tiêu cho giáo dục – đào
tạo, chi lương hưu và đảm bảo xã hội chiếm tỷ trọng cao nhất.
o Sự khác biệt giữa chi tiêu của cp KH và cp VN
Chương II
CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH THỰC CHỨNG
Nắm các hiệu ứng tác động của thuế lên cung lao động
Thuế suất biên tế của thuế thu nhập: số phần trăm của 1 đồng thu nhập sau cùng của người
đóng thuế đóng cho người thu thuế.
Khi có đánh thuế sẽ xảy ra cùng lúc 2 hiệu ứng, đó là hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập:
Hiệu ứng thay thế: thuế suất làm tiền công ròng giảm xuống nên việc nghỉ ngơi sẽ rẻ hơn nên
số nhược điểm của thực nghiệm xã hội. Môi trường mà hành vi kinh tế được quan sát là nhân tạo.
- Nghiên cứu kinh tế lượng: Kinh tế lượng là phân tích thống kê các số liệu kinh tế. Ưu: đánh giá
được mức độ quan trọng của sự kiện đã xảy ra. Nhược: các kết quả sai hoặc trái ngược có thể
xảy ra nếu dữ liệu từ những đối tượng rất khác nhau được kết hợp lại, nếu các biến số quan
trọng bị bỏ qua, nếu áp dụng một công thức toán học sai, nếu giữa các biến số đo đạc sai hoặc
nếu có mối quan hệ nhân quả đồng thời giữa các biến số.
Chương III
CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH QUY CHUẨN
Nắm vững định lý nền tảng thứ nhất của kinh tế học phúc lợi và điều kiện cho hiệu quả
Pareto – Nêu các giả định, chứng minh bằng công thức và phát biểu định lý
- Hiệu quả Pareto
Định nghĩa
Hiệu quả Paretto là sự phân phối mà tại đó cách duy nhất để làm cho 1 người sung túc hơn là làm
cho người khác thiệt hại đi.
Điều kiện để đạt hiệu quả pareto
- Điều kiện hiệu quả phân phối (tiêu dùng)
Hiệu quả phân phối đạt được khi và chỉ khi tỷ lệ thay thế biên giữa 2 loại hàng hoá (X,Y) của các
cá nhân (A,B) bằng nhau .
MRS
A
XY
= MRS
B
XY
Với:
Tỉ lệ thay thế biên tế MRS: là giá trị tuyệt đối độ đốc của đường bàng quang.
Do đó: để 1 phân phối là hiệu quả Paretto thì nó phải là điểm mà tại đó các đường bang quang
tiếp xúc nhau (nghĩa là độ dốc của các đường bang quang là như nhau)
XY
= MRS
A
XY
= MRS
B
XY
Định lý nền tảng thứ nhất của Kinh tế học phúc lợi:
Các giả định:
+ Tất cả các nhà sản xuất và người tiêu dùng đều hành động như những người cạnh tranh hoàn
hảo, nghĩa là không ai có được sức mạnh thị trường.
+ Một thị trường tồn tại cho mỗi loại và tất cả các hàng hóa.
Phát biểu định lý:
Định lý nền tảng thứ nhất của Kinh tế học phúc lợi phát biểu rằng: với các giả định trên sẽ xuất
hiện 1 phân bổ hiệu quả Paretto. Cụ thể là, thị trường cạnh tranh hoạt động hoàn hảo dẫn đến một
số phân bổ trên đường cong khả năng hữu dụng.
Ngay cả khi nền kinh tế tạo ra một phân phối các nguồn lực Hiệu quả Pareto, vẫn cần đến sự can
thiệp của Chính phủ để thực hiện phân phối hữu dụng “công bằng”.
Chứng minh bằng công thức:
- Xét về phía tiêu dùng:
Xét 1 nền kinh tế giản đơn gồm 2 người tiêu dùng A và B, tiêu dùng 2 loại hàng hóa X và Y được
cung cấp với lương cung cố định.
Do giả định thứ nhất nên A và B cùng mua X và Y với mức giá như nhau lần lượt là P
X
, P
Y
.
B
XY
Đây là một trong các điều kiện cần cho hiệu quả Pareto. (3)
- Xét về phía sản xuất:
Kết quả cơ bản về lý thuyết kinh tế cho rằng: 1 công ty tối đa hóa lợi nhuận sản xuất sản phẩm cho
tới khi chi phí biên tế và giá bằng nhau. Điều này có nghĩa là:
P
X
=MC
X
và P
Y
=MC
Y
Hay
y
x
y
x
MC
MC
P
P
=
Đồng thời, ta có:
xy
=
y
P
=
Hiệu quả Pareto đòi hỏi các mức giá có cùng tỷ lệ với chi phí biên tế và cạnh tranh đảm bảo thỏa
mãn điều kiện này. Đẳng thức này cho thấy tính hiệu quả đòi hỏi rằng chi phí gia tăng của mỗi loại
hàng hóa được thể hiện trong giá của nó.
Định lý nền tảng thứ hai của kinh tế học phúc lợi và lý giải tại sao lại có sự can thiệp của
Chính phủ
• Định lý nền tảng thứ hai của Kinh tế học phúc lợi:
Cộng đồng có thể đạt được bất kì phân bổ nguồn lực hiệu quả Paretto bằng cách phân bổ một
cách phù hợp sự trợ giúp ban đầu và sau đó để mọi người tự trao đổi với nhau theo mô hình hôp
Edgeworth. Nói chung, bằng cách phân phối lại thu nhập một cách phù hợp, sau đó không can
thiệp và để cho các thị trường hoạt động, chính phủ có thể đạt được bất kì điểm nào trên đường
khả năng hữu dụng.
Ý nghĩa của định lí này:
- Ít nhất trên lí thuyết, các vấn đề hiệu quả và tính công bằng trong phân phối có thể tách rời nhau
ra.
- Nếu cộng đồng xác định rằng sự phân phối nguồn lực hiện hành là không công bằng, thì cũng
không cần can thiệp vào giá thị trường và phá vỡ tính hiệu quả. Thay vào đó, cộng đồng chỉ cần
chuyển giao các nguồn lực giữa các thành viên bằng cách nào đó được cho là công bằng.
- Nếu các giả định của Định lí thứ nhất bị phá vỡ thì phân phối nguồn lực của thị trường tự do sẽ
không hiệu quả cũng như là không công bằng. Điều này được giải quyết bởi định lí thứ 2.
• Lý giải có sự can thiệp của Chính phủ
- Vẫn cần sự can thiệp của Chính phủ để thực hiện phân phối hữu dụng công bằng dù đã đạt được
phân phối hiệu quả Pareto. Tuy nhiên, CP không nên can thiệp trực tiếp vào giá cả thị trường và
tính hiệu quả của thị trường mà chỉ nên can thiệp gián tiếp nhằm phân phối lại thu nhập ban đầu
một cách phù hợp, và sau đó để cho thị trường hoạt động.
- Trong thực tế không phải lúc nào cũng có cạnh tranh hoàn hảo (vấn đề sức mạnh thị trường) và
không phải tất cả mọi thị trường đều có thể tồn tại hay còn gọi là thất bại thị trường. Thất bại thị
trường là cơ sở để CP can thiệp vào nền kinh tế. Tuy nhiên, CP chỉ nên can thiệp trong các trường
hàng hóa tư nhân được cung cấp công cộng – các hàng hóa có tình tiêu thụ cạnh tranh và có tính
loại trừ được Chính phủ cung cấp. Hàng hóa công có thể do khu vực tư nhân cung cấp. Tóm lại,
nhãn hiệu tư nhân hay công cộng tự chúng không cho chúng ta biết được khu vực nào cung cấp.
Ví dụ: dịch vụ y tế và nhà cửa.
- Cung cấp công một loại hàng hóa không nhất thiết có nghĩa là nó được tạo ra từ khu vực công. Ví
dụ: dịch vụ thu gom rác.
Nêu điều kiện cung cấp hàng hóa công hiệu quả, so sánh điều kiện hiểu quả giữa hàng hóa
công và hàng hóa tư qua đồ thị và và công thức
• Điều kiện cung cấp hàng hóa công hiệu quả:
Giả sử Adam và Eva cùng thích xem biểu diễn pháo hoa. Sự thưởng thức pháo hoa của Eva
không làm giảm thưởng thức của Adam và ngược lại. Và cũng không loại trừ bất kỳ người nào ra
khỏi buổi trình diễn pháo hoa. Do vậy, buổi trình diễn pháo hoa là hàng hóa công.
Sự tiêu thụ pháo hoa của Adam (r) được tính trên trục hoành và giá của pháo hoa () theo trục
tung. Đường cầu của Adam đối với pháo hoa là .
Tương tự, đường cầu của Eva đối với pháo hoa là .
6
r mỗi năm
Loại dịch vụ được tạo ra từ buổi trình diễn pháo hoa là hàng hóa công nên phải tiêu dùng với
số lượng ngang bằng. Để tìm tổng thiện chí sẵn sàng chi trả, ta cộng mỗi mức giá mà mỗi người
20
45
20
2020
20
20
r mỗi năm
r mỗi năm
4
4
bằng tỷ lệ chuyển đổi biên tế.
= =
Đối với hàng hóa công thuần túy, tổng tỷ lệ thay thế biên tế bằng tỷ lệ chuyển đổi biên tế.
+ = .
Đọc kỹ và phân tích giáo dục có phải là hàng hóa công hay không. Giải thích tại sao Chính
phủ lại tham gia tích cực vào sự nghiệp giáo dục chứ không để cho thị trường cung cấp.
Kinh nghiệm nào về chi tiêu giáo dục ở Mỹ có thể học tập qua bài học này
• Giáo dục có phải là hàng hóa công hay không?
Giáo dục theo một nghĩa nào đó mang tính chất công, tuy nhiên xét trên phương diện sử dụng
thì mức phí cho giáo dục không hoàn toàn do nhà nước trợ cấp mà còn có đóng góp của những
học viên. Nghĩa là nó có tính cạnh tranh. Đồng thời, với mỗi trường học sẽ có giới hạn về số lượng
cho nên không phải toàn bộ mọi người đều có thể tham gia vào cùng 1 trường hay một khóa học,
có nghĩ là nó có tính loại trừ. Do vây, giáo dục là hàng hóa tư mang tính chất công.
• Chính phủ phải tham giá tích cực vào sự nghiệp giáo dục và không để cho thị trường
cung cấp vì:
o tính hiệu quả kinh tế:
Giáo dục là hàng hóa công làm tăng phúc lợi của sinh viên bằng cách tăng khẳ năng
tạo ra thu nhập của họ hay tổng thể hơn là tăng khả năng quan hệ với cuộc sống.
Khi chi phí đi lại cao thì các trường học địa phương có một ít yếu tố độc quyền, đặc
biệt là ở vùng sâu.
Các trường học có thể là nguồn sức mạnh đối với sự xã hội hóa. Giáo dục cung cấp
con đường để truyền bá các chính sách làm cho các công dân chấp nhận chính phủ
của họ và từ đó đóng góp cho sự ổn định chính trị của xã hội.
o tính công bằng:
Giáo dục công cộng tạo ra vốn con người đồng thời khắc sâu ghi nhớ niềm tin vào
hệ thống chính trị hiện hành. Do đó, chính phủ không những cung cấp giáo dục mà
còn tạo ra giáo dục.
Nếu để cho thị trường cung cấp giáo dục mà không có sự tham giá tích cực của nhà
thích nhất. Các trường học tồi sẽ có ít học viên tham gia và buộc phải đóng cửa, đồng thời các
thầy cô giáo chưa đủ chuyên môn sẽ bị ra khỏi trường học.
Chương V
NGOẠI TÁC VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ
Khái niệm và định nghĩa về ngoại tác. Mô tả đồ thị ngoại tác, tính chất của ngoại tác
• Định nghĩa ngoại tác:
Khi hoạt động của một chủ thể (một cá nhân hay công ty) tác động trực tiếp lên phúc lợi của
các chủ thể khác bằng những cơ chế nằm ngoài thị trường, tác động này được gọi là ngoại tác.
• Mô tả đồ thị ngoại tác:
Giả sử anh Bart đang điều hành một nhà máy và thải chất bẩn vào một con sông (không có ai
là chủ sở hữu). Cô Lisa sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông. Hoạt động của anh Bart trực tiếp
làm cho cô Lisa thiệt hại chứ không phải từ sự thay đổi giá cả. nguồn nước sạch cũng là yếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất của nhà máy.
Trục hoành thể hiện quy mô đầu ra Q do nhà máy anh Bart sản xuất, trục tung đo số tiền bằng
đôla.
Đường MB cho thấy lợi ích biên tế của anh Bart đối với mỗi mức sản xuất đầu ra (lợi ích biên
tế giảm dần khi sản phẩm đầu ra tăng).
MPC là chi phí tư nhân biên tế, tăng cùng với sản lượng đầu ra.
MD là thiệt hại biên tế của chị Lisa do ô nhiễm với mỗi mức sản xuất đầu ra.
$
Anh Bart quyết định sản xuất khi lợi ích biên tế vượt quá chi phí biên tế đối với anh ta. Có nghĩa là
anh Bart sản xuất toàn bộ mức sản lượng của mình để MB vượt quá MPC nhưng sẽ không sản
xuất khi MPC vượt quá MB. Do đó, anh ta sản xuất đến mức là nơi MPC cắt MB.
Chi phí biên tế đối với xã hội: MSC = MPC + MD.
)*
!
Mặt khác, chị Lisa sẵn sàng chi trả cho anh Bart để anh này không sản xuất số đơn vị sản
phẩm khi khoản chi trả này bé hơn thiệt hại biên tế đối với chị: MD.
Do đó, cuộc thương lượng xảy ra khi MD > (MB – MPC).
Phía bên phải của , tại mọi mức sản xuất đầu ra: (MB – MPC)0 và MD>0 => MD > (MB –
MPC). Đây là phạm vi của cuộc thương lượng.
Từ bên trái của , tại mọi mức sản xuất đầu ra MD < (MB – MPC).Ở đây không xảy ra cuộc
thương lượng.
Do đó, là mức sản xuất hiệu quả. Bất kể lợi ích của cuộc thương lượng được chia sẻ như thế
nào thì sản xuất sẽ dừng lại ở .
Giả sử ngược lại là chị Lisa được giao quyền sở hữu dòng nước. Chị Lisa sẽ chấp nhận một
mức ô nhiễm mà khoản tiền nhận được lớn hơn thiệt hại biên tế (MD), anh Bart sẵn sàng chi ra
khoản tiền nhỏ hơn giá trị (MB – MPC). Tương tự, cả hai bên cùng có động lực đạt đến thỏa thuận
chị Lisa bán cho anh Bart quyền được sản xuất tại .
• Các giả định:
- Chi phí để thương lượng đối với cả hai bên là thấp, hoặc bằng 0.
- Chủ sở hữu của các nguồn lực có thể xác định nguồn gây thiệt hại cho tài sản của họ và có
thể ngăn chặn một cách hợp pháp.
• Phát biểu định lý
Với các điều kiện giả thiết trên, một khi quyền sở hữu được thiết lập, chính phủ không cần can
thiệp để đối phó với ngoại tác.
Định lý Coase là thích hợp cho các trường hợp trong đó chỉ có một vài bên liên quan và các
nguồn của ngoại tác được xác định đầy đủ.
• Các ứng xử tư nhân đối với ngoại tác:
Với sự hiện diện của ngoại tác, vấn đề phân bố nguồn lực không hiệu quả sẽ nổi lên nếu
không có biện pháp tác động. Trong các trường hợp trong đó, các cá nhân - khi hoạt động dựa
trên quyền lợi của mình - có thể tránh được ngoại tác xảy ra bằng cách:
- Mặc cả thương lượng (như phân tích ở trên)
- Nội bộ hoá bằng cách kết hợp lại các bên liên quan. Như ví dụ ở trên, nếu Bart và Lisa cùng
kết hợp hoạt động của họ lại thì lợi nhuận từ doanh nghiệp liên kết của hai người sẽ cao hơn tổng
lợi nhuận của từng cá nhân khi họ không có sự kết hợp
&
Trước thuế, mức hiệu quả là , là giao điểm của MPC và MB. Tại đó, người sản xuất tối đa hóa
được lợi nhuận.
Thiệt hại biên tế tại mức sản xuất đầu ra hiệu quả là khoảng cd. Đây là thuế Pigou.
$
Nếu anh Bart bị áp dụng thuế trên mỗi đơn vị sản xuất đầu ra, đồ thị chi phí biên tế của anh
Bart được xác định bằng cách cộng thêm cd vào MPC tại mỗi mức sản xuất đầu ra. Thuế làm tăng
chi phí biên tế hiệu quả của anh Bart, đối với mỗi đơn vị sản phẩm, anh ta phải chi trả cho các nhà
cung cấp đầu vào (đo bằng MPC) và cho người thu thuế (đo bằng cd). Do đó, MPC dịch chuyển
lên thẳng đứng một khoảng bằng cd. Khi đó, mức sản lượng đầu ra hiệu quả là (điểm giao nhau
giữa MB và MPC + cd).
Với mức sản lượng là , thuế cd đôla trên một đơn vị sản xuất đầu ra, tổng số thuế thu được là
cd * bằng diện tích cdij.
• Định nghĩa Trợ cấp Pigou:
Trợ cấp Pigou là một khoảng chính phủ trợ cấp cho người gây ô nhiễm để giảm một đơn vị
sản phẩm và đạt sản lượng hiệu quả.
• Mô tả đò thị Trợ cấp Pigou
Giả sử Chính phủ công bố sẽ chi cho người sản xuất một khoản trợ cấp là cd cho mỗi đơn vị sản
phẩm không sản xuất. Đồ thị chi phí biên tế là MPC + dc.
$
6#"7&8
'
!)!*!
!
!
mức cần thiết) lượng hàng hóa dịch vụ đang xét, nhưng một khoản trợ cấp phù hợp sẽ cải thiện
được tình hình.
• Phân biệt các chính sách khi có ngoại tác tích cực và ngoại tác tiêu cực:
- Khi có ngoại tác tiêu cực, chính phủ sẽ đánh vào nhà sản xuất hay người gây ô nhiễm một khoản
thuế để giảm ngoại tác, gọi là thuế Pigou; hoặc chính phủ sẽ trợ cấp cho nhà sản xuất để họ giảm
sản xuất nhằm giảm thiểu việc gây ô nhiễm, gọi là trợ cấp Pigou.
- Khi có ngoại tác tích cực, chính phủ sẽ trợ cấp cho nhà sản xuất để bù đắp sự thiếu hụt sản phẩm
trên thị trường, giúp thị trường hoạt động hiệu quả hơn.
Chương VI
PHÂN PHỐI LẠI THU NHẬP: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUAN ĐIỂM.
Nêu các giả thuyết và trình bày mô hình phân phối thu nhập tối ưu, vẽ đồ thị và phân tích đồ
thị mô hình
• Các giả định mô hình phân phối thu nhập tối ưu
- Các cá nhân có các hàm hữu dụng đồng nhất và các hàm này chỉ phụ thuộc vào thu nhập của
họ.
- Các hàm hữu dụng này thể hiện sự phân biệt hữu dụng biên tế của thu nhập – như thu nhập
của các cá nhân tăng lên, họ sẽ trở nên sung túc hơn nhưng ở tốc độ giảm dần.
- Tổng số thu nhập có thể có được là cố định.
• Trình bày mô hình phân phối thu nhập tối ưu
9:%;#'7/0&<(/(
9:%;#'7/0&<=
'
&
%
(
$
>?
>
""@5&<=
thu nhập được thực hiện.
Nêu các hàm liên quan đến thuyết vị lợi xã hội, các quan điểm về phân phối thu nhập
• Các hàm liên quan đến thuyết vị lợi xã hội:
- Hàm vị phúc lợi xã hội: Nếu trong xã hội có n thành viên và hữu dụng của thành viên thứ i là , khi
đó phúc lợi xã hội W là một hàm nào đó của các hữu dụng cá nhân:
W = F(, , …, )
Đôi khi hàm này được xem là hàm vị lợi phúc lợi xã hội. Giả thiết rằng, tăng lên một nào đó,
các yếu tố khác không đổi thì W sẽ tăng.
Ta xét trường hợp đặc biệt của hàm trên:
W = + + … +
Ở đây phúc lợi xã hội đơn giản là tổng các hữu dụng của các cá nhân. Hàm này được xem là hàm
cộng vào phúc lợi xã hội. Theo đó xã hội không thiên vị đối với việc phân phối các hữu dụng.
- Tiêu chuẩn tối đa tối thiểu: phúc lợi xã hội chỉ phụ thuộc vào hữu dụng của người nào có hữu
dụng thấp nhất (Min).
W = Min (, , …, )
Mục tiêu là tối đa hóa hữu dụng cho người có hữu dụng nhỏ nhất. Tiêu chuẩn tối đa hóa nói
lên rằng phân phối thu nhập phải công bằng một cách hoàn hảo, trừ khi tới mức trệch hướng ra
khỏi bình bẳng sẽ làm tăng phúc lợi cho người nghèo.
• Các quan điểm về phân phối thu nhập:
- Các quan điểm mang tính vị lợi:
+ quan điểm dựa trên thuyết vị lợi giản đơn ()
+ quan điểm dựa trên tiêu chuẩn tối đa tối thiểu (quản điểm của John Rawl)
+ quan điểm dựa trên phân phối lại thu nhập hiệu quả Pareto.
PP lại thu nhập hiệu quả Pareto: Nếu hữu dụng của mỗi cá nhân chỉ phụ thuộc vào thu
nhập của chính bản thân người đó thì sự phân phối lại sẽ không bao giờ là một sự cải thiện
Pareto. Tuy nhiên, nếu những nều có thu nhập cao có lòng vị tha (tức hữu dụng của họ không
chỉ phụ thuộc vào thu nhập của họ mà còn phụ thuộc vào thu nhập của những người nghèo)
thì phân phối lại có thể thực sự là sự cải thiện pareto. Theo đó, pp lại thu nhập là công bằng
như hàng hoá công – mọi người nhậ được sự hữu dụng từ việc thu nhập được phân phối một
đình. Kết quả đưa ra là có ảnh hưởng mạnh từ các giả định.
- Đánh giá các chuyển nhương hiện vật: nhiều chương trình của chính phủ đã cung cấp các hàng
hóa và dịch vụ thay vì bằng tiền. Những người nhận trợ cấp không được bán lại những hàng hóa
9
A
B
.&CD"5"1E/&"1/"E#
!
D
E&"F#"G2"E&/1#/"E#
và dịch vụ này một cách hợp pháp. Nếu những người được nhận trợ thích tiêu dùng ít hơn, thì giá
trị của chuyển nhượng hiện vật nhỏ hơn giá thị trường.
Đánh giá các chuyển nhượng hiện vật bằng đồ thị
Chuyển nhượng hiên vật là một chính sách trợ cấp của chính phủ dành cho người nghèo các
loại tem phiếu thực phẩm, thuốc men và nhà ở công cộng, … thông qua các luật cụ thể. Tuy nhiên,
người giàu và trung lưu cũng sẽ được hưởng lợi từ các chuyển nhượng hiện vật.
Không giống các hàng hóa công thuần túy, các chuyển nhượng hiện vật không được tất cả mọi
người tiêu thụ. Vì vậy, khó ước lượng được giá trị của nó với những người được hưởng. Ở đây, ta
đánh giá thông qua việc phân tích chính sách trợ cấp của chính phủ bằng tiền và hiện vật.
Xét Jones – một người nhận trợ cấp phúc lợi điển hình, thu nhập hàng tháng là 300 đôla giữa
pho mát và “các loại hàng hóa khác”. Giá thị trường của pho mát là $2/1 cân Anh và đơn vị “các
hàng hóa khác” là $1/1 đơn vị. Tiêu dùng của Jones đối với pho mát được đo trên trục hoành và
“các hàng hóa khác” được đo trên trục tung. Ngân sách giới hạn là AB.
Gọi:
- B
0
và C
0
lần lượt là lợi ích và chi phí ban đầu của dự án.
- B
i
và C
i
lần lượt là lợi ích và chi phí của dự án tại năm thứ i (i=1, 2, …,T)
- lợi tức ròng của dự án = B
i
- C
i
- r: là tỷ lệ chiết khấu của dự án
Hầu hết các dự án đều có lợi tức ròng phát sinh trong một khoảng thời gian. Do đó, giá trị hiện tại
của dòng lợi tức ròng (PV) là:
PV = B
0
– C
0+ + +……+
Tiêu chuẩn để 1 dự án được thừa nhận:
- 1 dự án chỉ được thừa nhận khi giá trị hiện tại của nó là dương;
- Khi 1 trong 2 dự án đc lựa chọn, dự án được ưa thích hơn là dự án có giá trị hiện tại cao hơn;
Hạn chế:
Phụ thuộc vào tỷ lệ chiết khấu. Tỷ lệ chiết khấu khác nhau có thể đưa đến những kết luận trái ngược
nhau. Theo đó, r càng gần với chi phí cơ hội thực tế của công ty càng tốt.
Dù vậy, tiêu chuẩn giá trị hiện tại vẫn đc ưa thích hơn.
, B
1,
B
2,… ,
B
T
là dòng lợi ích của dự án
- C
0,
C
1,
C
2,…,
C
T
là dòng chi phí của dự án
Khi đó, giá trị hiện tại của lợi ích là: B = B
0 + + +……+
Và hiện giá của dòng chi phí là: C = C
0 + + +……+
Tỷ lệ lợi ích – chi phí khi đó là B/C
Tiêu chuẩn để 1 dự án được thừa nhận:
- Một dự án chỉ được thừa nhận khi B/C > 1.
Hạn chế:
tiêu chuẩn tỷ lệ lợi ích chi phí đôi khi không có nhìêu ý nghĩa bởi vì luôn có một sự nhập nhằng cố
hữu trong việc tính toán tỷ lệ lợi ích và chi phí, lợi ích đc xem là chi phí âm và ngược lại. Do đó, chỉ
cần bằng việc phân loại lợi ích và chi phí một cách chủ quan, ng ta có thể tạo ra một tỷ lệ lợi ích chi
phí cao một cách tùy tiện. Trong khi tiêu chuẩn giá trị hiện tại lại dựa vào sự khác nhau giữa lợi ích
và chi phí chứ hok phải là tỷ lệ của chúng, do đó có thể tránh đc tình trạng gian lận nêu trên.
• Tiêu chuẩn được cho là đáng tin cậy nhất:
thu nhập ròng từ việc canh tác. Bởi vì ng nông dân không thể cùng một lúc làm cả hai việc trên nên
việc tính tóan như vậy biểu thị sự tính gấp đôi lợi ích.
Đánh giá – đo lường chi phí và lợi ích công, những phương cách đo lường các chi phí và
lợi ích của một dự án công, như thế nào là đo theo giá cả thị trường, giá cả thị trường có
điều chỉnh, và giá trị vô hình.