Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết - Kinh nghiệm quốc tế và chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam - Pdf 28

Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lời mở đầu
Sự hợp tác và tham gia phân công lao động quốc tế tăng lên không những làm
cho trao đổi hàng hóa trong nớc gia tăng mà còn làm cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ
giữa các nớc phát triển. Trên cơ sở phát triển của các mối quan hệ kinh tế giữa các
nớc, sự liên hệ về chính trị và văn hóa giữa các nớc ngày càng phát đạt. Những mối
quan hệ thờng xuyên về mặt kinh tế, chính trị và văn hóa giữa các nớc đã làm nảy
sinh những quan hệ tiền tệ của nớc này đối với nớc kia. Quan hệ so sánh đồng tiền
của các quốc gia với nhau đợc gọi là tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò quan trọng đến tình hình ngoại hối của các nớc
và ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia, nó sẽ đảm bảo tính ổn định
trong nền kinh tế, ổn định giá cả tạo ra môi trờng an toàn cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh mà đặc biệt là hoạt động ngoại thơng. Vì vậy, việc áp dụng một chính
sách tỷ giá đúng đắn là một điều kiện tiên quyết để góp phần thúc đẩy tăng trởng
kinh tế.
Tất nhiên cha hẳn là một tỷ giá là u việt đối với nớc này thì đã là phù hợp với
các nớc khác, bởi vì mỗi nớc có một điều kiện kinh tế cụ thể khác nhau. Thậm chí
ngay trong một quốc gia, việc áp dụng cố định một chế độ tỷ giá khi các điều kiện
kinh tế - chính trị trong nớc và quốc tế đã thay đổi cũng không thể đem lại một kết
quả tốt nh mong đợi. Điều quan trọng là phải biết trong trờng hợp nào thì cố định tỷ
giá phát huy tác dụng tối đa u điểm của mình, từ đó sẽ quyết định lựa chọn việc áp
dụng cố định tỷ giá một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện khách quan và mục
tiêu u tiên hàng đầu trong chiến lợc phát triển đất nớc.
Không dễ dàng về mặt lý thuyết cũng nh thực tế khi lựa chọn một hệ thống tỷ
giá thích hợp. Trên thực tế có nhiều tranh luận về lợi thế cũng nh bất lợi của hai
chính sách tỷ giá đặc biệt: tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi. Nhng có nhiều lập luận
ủng hộ sự kết hợp giữa hai chế độ tỷ giá trên, đó là tỷ giá thả nổi có điều tiết. Nó cho
phép tận dụng lợi thế, đồng thời hạn chế những bất lợi của cả hai chế độ. Vì thế, trên
thực tế, một nớc có thể có nhiều lựa chọn các kết hợp khác nhau tùy thuộc vào các
đặc điểm cấu trúc, những cú sốc bên ngoài có thể xảy ra và môi trờng kinh tế vĩ mô.
1

của chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
I - Tỷ giá hối đoái
1. Khái niệm
Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái:
- Các phơng tiện thanh toán quốc tế đợc mua và bán trên thị trờng hối đoái bằng
tiền tệ quốc gia của một nớc theo một giá cả nhất định. Vì vậy, giá cả của một đơn vị
tiền tệ nớc này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nớc kia đợc gọi là tỷ giá hối đoái.
Ví dụ: Một ngời nhập khẩu ở Đức phải bỏ ra 142.000 DEM để mua một tờ séc có
mệnh giá100.000 GBP để trả tiền nhập khẩu từ Anh. Nh vậy giá 1GBP là 1,42DEM,
đây là tỷ giá hối đoái giữa GBP và DEM.
- Tỷ giá hối đoái còn đợc định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh giữa
tiền tệ của hai nớc với nhau.
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng
của hai nớc với nhau hoặc là so sánh hàm lợng vàng của hai đồng tiền hai nớc với
nhau.
Trong chế độ lu thông tiền giấy, ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ
giá hối đoái. Việc so sánh hai đồng tiền với nhau đợc thực hiện bằng so sánh sức mua
của hai tiền tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ.
Ví dụ: Một hàng hoá A ở Mỹ mua với giá là 1USD, nhng ở Việt nam lại đợc mua
với giá là 15.000VND.
Ngang giá sức mua là: 1USD = 15.000 :1 = 15.000 VND
Đây là tỷ giá hối đoái giữa đô la Mỹ và đồng Việt nam.
Từ khi ra đời cho đến nay, lịch sử phát triển của tỷ giá hối đoái trải qua rất
nhiều giai đoạn. Trớc thế chiến thứ I (1914) nền kinh tế thế giới hoạt động theo chế
độ bản vị vàng. Trong chế độ này, vàng đợc coi là tiền tệ thế giới và đợc dùng nh một
công cụ dự trữ và tiền tệ thanh toán cuối cùng giữa các quốc gia. Đồng tiền của hầu hết
các nớc đều đợc đổi ra vàng, hình thành nên tỷ giá hối đoái cố định. Tuy nhiên, đầu thế
chiến thứ II, chế độ này tan rã, nhờng chỗ cho một chế độ tỷ giá hối đoái mới, đó là hệ
3
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ

những cho dân chúng mà còn cho các nhà đầu t nớc ngoài muốn đầu t vào Việt nam.
4
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
- Chế độ tỷ giá cố định cũng làm giảm bớt ảnh hởng của các cú sốc kinh tế từ bên
ngoài tới nền kinh tế trong nớc. Điều này có ý nghĩa lớn đối với những nền kinh tế nhỏ
vốn tự nó không thể chống đỡ đợc các tác động ngoại lại mạnh mẽ.
- Hạn chế sự bất ổn về lợi nhuận đầu t nớc ngoài và lợi nhuận trong ngoại thơng
và quản lý hành chính, công nợ nớc ngoài và dự trữ ngoại tệ trong nớc.
- Chế độ tỷ giá cố định trong đó tỷ giá đợc gắn với một ngoại tệ hay một rổ tiền tệ
có xét đến u thế, tỷ trọng thơng mại và nợ nớc ngoài của nớc này với các nớc tơng ứng.
Điều này sẽ giúp ổn định cán cân thanh toán thơng mại cũng nh các khoản nợ nớc
ngoài.
b. Nhợc điểm
- Chế độ tỷ giá cố định chỉ phát huy đợc trong điều kiện chế độ này đợc áp dụng
phổ biến trên toàn thế giới và nền kinh tế thế giới cũng đang ổn định, không có biến
động mạnh mẽ về giá cả. Nhng kinh tế chính trị thế giới luôn luôn vận động và phát
triển theo xu thế đi lên, vậy một nớc áp dụng và duy trì chế độ tỷ giá cố định trong điều
kiện nói trên là rất khó.
- Chế độ tỷ giá cố định đòi hỏi một quốc gia phải có quỹ dự trữ ngoại tệ đủ lớn để
ổn định tỷ giá trớc những biến động của cung cầu ngoại tệ, lạm phát và lãi suất Điều
này không phải quốc gia nào cũng đạt đợc.
- Chế độ tỷ giá này không khả thi trong điều kiện dự trữ eo hẹp do thâm hụt cán
cân thơng mại và cán cân TTQT, nợ nớc ngoài cao.
- Trên thực tế không phải quốc gia nào cũng có đủ khả năng nắm bắt và cung cấp
chính xác các số liệu thống kê có liên quan trong việc xác định tỷ giá nên sự lựa chọn
mức tỷ giá hối đoái cố định chịu sai số lớn. Sai số này có thể gây ảnh hởng không tốt
cho nền kinh tế.
2.2 Chế độ tỷ giá thả nổi
Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ hầu hết các nớc đều áp dụng chế độ tỷ giá
thả nổi. Có hai loại chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi:

những quy định vĩ mô sai lầm ảnh hởng đến mức tăng trởng kinh tế.
b. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý
Là chế độ tỷ giá trong đó có sự can thiệp của Chính phủ vào thị trờng hối đoái
thông qua việc mua bán các đồng tiền để can thiệp vào mức cung và cầu tiền tệ. Qua
đó, một tỷ giá hối đoái đợc hình thành và phản ánh đợc phần nào quan hệ cung cầu
ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối, đồng thời thoả mãn đợc các mục tiêu phát triển của
nền kinh tế quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
6
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
* Ưu điểm
- Tỷ giá thả nổi có quản lý phần nào khắc phục đợc những nhợc điểm của chế độ
tỷ giá thả nổi hoàn toàn vì nhờ có sự can thiệp đúng mức và kịp thời của NHNN sẽ
giúp cho thị trờng ngoại hối trong nớc bị ảnh hởng và biến động ít hơn trớc những cú
sốc về kinh tế trên thế giới.
- Cơ chế can thiệp vào tỷ giá thả nổi này sẽ phát huy đợc vai trò của công cụ giá
trong nền kinh tế, không thể để tỷ giá bị trôi nổi trớc những hoạt động đầu cơ ngoại tệ,
mà thực sự biến nó thành công cụ khuyến khích các hoạt động xuất khẩu, ngăn cấm
nhập khẩu cải thiện cán cân th ơng mại.
- Ngày nay với nền kinh tế thị trờng, đa số các nớc đều áp dụng chế độ tỷ giá thả
nổi có quản lý. Do đó, tỷ giá hối đoái đã trở thành công cụ tài chính vô cùng quan
trọng trong quá trình quản lý kinh tế vĩ mô. Chính phủ không còn sử dụng công cụ tỷ
giá theo kiểu ấn định nó một cách chủ quan nh trong chế độ tỷ giá cố định nữa, mà chỉ
tác động đến nó bằng cách can thiệp vào thị trờng hối đoái thông qua việc mua bán
ngoại tệ và các phơng pháp điều tiết khác.
Các nớc đều thực thi chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý nhng có sự khác nhau về
mức độ thả nổi và hình thức can thiệp. Một nớc có nền kinh tế thị trờng tơng đối phát
triển và hoàn hảo về một thị trờng ngoại hối, thờng áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi với sự
can thiệp rất ít của nhà nớc. Một thị trờng hối đoái hoàn chỉnh với các quy chế quản lý
ngoại hối chặt chẽ và các thành viên có đủ khả năng tham gia trên thị trờng sẽ góp
phần hình thành nên một mức tỷ giá hợp lý thể hiện đúng tơng quan sức mạnh của các

Nhằm mục đích duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, nhiệm vụ mua bán ngoại tệ
đợc thực hiện trên cơ sở cung tiền tệ, diễn biến giá cả ngoại tệ trên thị trờng và ý đồ
can thiệp mang tính chủ quan của nhà nớc. Việc can thiệp này không có tính chất áp
đặt một cách máy móc và vi phạm các quy luật kinh tế của kinh tế thị trờng, mà đây là
hoạt động có cân nhắc tính toán kỹ lỡng những nhân tố của thực tại cũng nh chiều h-
ớng phát triển trong tơng lai của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, việc lựa chọn các thời
điểm cần mua, cần bán ngoại tệ trên thị trờng với tỷ giá nào để đạt đợc mục tiêu đề ra -
chính là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định.
2.2 Chính sách chiết khấu
Là chính sách mà NHNN dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu để điều chỉnh lãi
suất trên thị trờng tín dụng, do đó ảnh hởng gián tiếp đến tỷ giá hối đoái trên thị trờng.
Khi tỷ giá hối đoái lên cao đến mức nguy hiểm, muốn làm cho tỷ giá hạ xuống thì
NHNN nâng lãi suất chiết khấu lên làm cho lãi suất trên thị trờng tăng lên. Kết quả là,
vốn ngắn hạn trên thị trờng thế giới sẽ chạy vào nớc mình để thu lãi cao. Lợng vốn
8
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
chạy vào sẽ làm dịu căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó tỷ giá hối đoái có xu hớng hạ
xuống.
Chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hởng nhất định và có hạn đối với tỷ giá hối
đoái bởi giữa tỷ giá hoạt động và lãi suất không có quan hệ nhân quả.
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thờng chính sách chiết khấu. Nếu tình hình
các nớc đều đại thể nh nhau thì phơng thức đầu t ngắn hạn vẫn hớng vào những nớc có
lãi suất cao. Do đó hiện nay chính sách chiết khấu cũng có ý nghĩa của nó.
2.3 Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái
Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái là hình thức biến tớng của chính sách hối đoái, mục
đích của nó là chủ động tạo ra một lợng dự trữ ngoại hối để ứng phó với sự biến động
của tỷ giá hối đoái thông qua nghiệp vụ thị trờng mở.
Về nguyên tắc thì NHNN các nớc không chịu trách nhiệm điều tiết sự thay đổi
của tỷ giá hối đoái thả nổi. Song do khủng hoảng ngoại hối trầm trọng, tiền tệ của các
nớc ngày một mất giá và tỷ giá thay đổi mãnh liệt đã ảnh hởng đến sản xuất và lu

Là việc nâng giá chính thức đơn vị tiền tệ của nớc mình so với ngoại tệ.
ảnh hởng của nâng giá tiền tệ đến ngoại thơng của một nớc hoàn toàn ngợc lại
với phá giá tiền tệ. Nâng giá tiền tệ trong điều kiện hiện nay có thể xảy ra dới áp lực
của các nớc khác khi mà các nớc này muốn tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá n-
ớc mình vào các nớc có cán cân thanh toán và các cân thơng mại thặng d.
Ngoài ra, một số nớc có nền kinh tế phát triển quá nóng, muốn làm lạnh nền kinh
tế để tránh khủng hoảng thì sẽ dùng biện pháp này để giảm đầu t vào trong nớc, tăng
xuất khẩu vốn, giảm xuất khẩu hàng hoá ra nớc ngoài.
10
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Chơng II :
Chính sách điều hành tỷ giá của Việt nam trong thời gian qua
Thành tựu và những mặt còn hạn chế
I - Chính sách tỷ giá của Việt nam giai đoạn 1986-1989
1. Thực trạng tình hình kinh tế trong giai đoạn 1986 - 1989
Năm 1986 đã đi vào lịch sử Việt nam - đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của
đất nớc: thời kỳ đổi mới và mở cửa. Đờng lối đổi mới và mở cửa do Đảng cộng
sản Việt nam khởi xớng tại Đại hội lần thứ VI tháng 12/1986.
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính sách điều hành tỷ giá của
NHNN từng bớc cũng đợc cải thiện để phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế, tài
chính đất nớc. Nền kinh tế vẫn đang trong tình trạng trì trệ kéo dài, lu thông tiền tệ rối
loạn, lạm phát tăng nhanh và kéo dài trong nhiều năm. Hiện tợng đô la hoá diễn ra
nhanh chóng trong khi chính sách tiền tệ không có khả năng điều chỉnh vĩ mô, khống
chế lạm phát. Nợ nớc ngoài ngày càng tăng, lại không có khả năng thanh toán, thâm
hụt cán cân vãng lai và cán cân thanh toán quốc tế nặng nề. Dự trữ ngoại tệ trong giai
đoạn này hầu nh không có.
Ngoài ra, Việt nam còn phải đứng trớc những thách thức lớn. Khủng hoảng chính
trị ở Đông Âu đã tác động dữ dội vào chính sách kinh tế xã hội đất nớc; nguy cơ mất
ổn định xã hội xuất hiện; niềm tin vào uy tín của Nhà nớc bị suy giảm, thậm chí ngời ta
còn nghi ngờ vào đờng lối đổi mới của Đảng; tiến trình đổi mới của Việt nam bị bao vây

toán nội bộ. Chính vì vậy mà tỷ giá này là một thành phần quan trọng gắn với giá cả,
thu nhập của các đơn vị sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.
3. ảnh hởng của chính sách tỷ giá đến hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô và
hoạt động ngoại thơng
3.1 Đối với hoạt động quản lý vĩ mô
Hoạt động quản lý của Nhà nớc trên thị trờng ngoại hối bị mất dần tác dụng. Tỷ
giá hối đoái giữ vai trò thụ động, là phơng tiện để ngân hàng theo dõi tình hình xuất
nhập khẩu hàng hoá. Do vậy sự chênh lệch giữa tỷ giá thị trờng và tỷ giá chính thức là
rất lớn. Chính vì tỷ giá của nhà nớc quy định ở mức thấp nên các tổ chức và cá nhân có
ngoại tệ sẽ sử dụng ngoại tệ trực tiếp trên thị trờng. Ngoại tệ hầu nh bị thả nổi, tự do
mua bán trên thị trờng. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho các khoản thu của Nhà n-
ớc mà còn làm phát sinh nhiều tiêu cực trong xã hội. Nó sẽ có tác động trở lại tỷ giá kết
toán nội bộ làm cho diễn biến tỷ giá trên thị trờng càng thêm phức tạp.
12
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Nhà nớc đã không phát huy đợc vai trò điều tiết giá cả trên thị trờng ngoại hối.
Kết quả là hoạt động mua bán trao đổi ngoại tệ trên thị trờng chợ đen càng tăng, vợt
khả năng kiểm soát của Chính phủ. Điều này cũng ảnh hởng tiêu cực đến tình hình thu
chi và hạch toán ngân sách. Cùng với việc bù lỗ cho các doanh nghiệp do trợt giá, việc
bù lỗ qua thanh toán bằng tỷ giá kết toán nội bộ đã làm cho NSNN bị ảnh hởng nghiêm
trọng.
3.2 Đối với hoạt động ngoại thơng
Vì nhà nớc can thiệp trực tiếp vào việc xác định tỷ giá mà không xét tới quan hệ
cung cầu ngoại hối trên thị trờng nên đã gây rất nhiều ảnh hởng tiêu cực tới hoạt động
ngoại thơng. Tỷ giá hoạt động cố định với thời gian tơng đối dài trong bối cảnh lạm
phát ở mức cao là một trở ngại lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Trong khi đó, chi phí
sản xuất trong nớc tăng nhanh. Hàng hoá xuất khẩu của ta vốn ít lợi thế cạnh tranh lại
càng khó đứng vững trên thị trờng thế giới.
Trong một chế độ điều hành tỷ giá nh vậy, VND đã đợc đánh giá cao so với đồng
USD và một số ngoại tệ khác do TGHĐ chính thức do NHNN công bố không phản ánh

sách; tăng cờng các khâu tài chính. Những biện pháp này có tác dụng làm giảm cầu
hàng hoá và tiền mặt.
- Bắt đầu từ năm 1990, chính phủ chuyển dần cơ chế bù đắp thâm hụt NSNN bằng
vay dân, vay nớc ngoài thay vì phát hành tiền để trang trải nh trớc đây. Điều này đã
làm tăng khả năng kiểm soát lạm phát của chính phủ, hỗ trợ quá trình thống nhất tỷ giá
trên thị trờng tự do.
- Để phù hợp với tình hình mới, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và hoạt
động đầu t nớc ngoài, chính phủ đã có những cải cách về chế độ quản lý ngoại hối theo
hớng: giảm các thủ tục hành chính, nới dần các hạn chế, tăng cờng quản lý bằng các
công cụ kinh tế.
- Để hạn chế tác động của yếu tố tâm lý, đầu cơ, đặc biệt là sau sự kiện Liên xô
sụp đổ năm 1991, khủng hoảng tín dụng 1990-1991, Chính phủ Việt nam đã kịp thời
công khai hoá các chỉ số kinh tế quan trọng nh tỷ giá chính thức, tỷ giá thị trờng tốc độ
lạm phát, chỉ số biến động của vàng.
Để thuận lợi cho việc đánh giá, phân tích cơ chế điều hành tỷ giá của Chính phủ,
chia giai đoạn 1989 - 1996 làm hai thời kỳ:
14
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
1 - Thời kỳ 1989-1992
1.1 Cơ sở của việc lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái
Mục tiêu quan trọng nhất của thời kỳ này là: Đẩy lùi, kiềm chế lạm phát; ổn
định kinh tế vĩ mô; tìm lối thoát ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái bởi khủng hoảng
kéo dài cho nền kinh tế
Các quan điểm chủ đạo:
Thứ nhất: Chúng ta không thể duy trì chế độ tỷ giá cũ vì nó quá phức tạp lại không
có khả năng quản lý ngoại hối, cản trở hoạt động xuất khẩu, và đặc biệt nó không còn
ý nghĩa thực tế khi tình trạng đối nội và đối ngoại có nhiều thay đổi.
Thứ hai: Để thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, nâng cao dự trữ ngoại tệ của
Chính phủ và ổn định tiền tệ thì trong tình hình lúc đó không có cách nào khác hơn là
phải phá giá đồng nội tệ.

giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi, mua bán ngoại tệ
với nhau theo giá thoả thuận.
- Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thơng giữa
ngân sách và các tổ chức tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Thay vào đó, trên cơ sở
tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ, NHNN công bố tỷ giá chính thức.
- Chính phủ đã sử dụng những biện pháp để thắt chặt tiền tệ nh khống chế mức
cung tiền, hạn chế tối đa việc cấp phát cho chi tiêu NSNN. NHNN đã thành lập các
trung tâm giao dịch ngoại tệ và việc điều hành tỷ giá của NHNN đợc thông qua các
trung tâm giao dịch ngoại tệ đó, gồm trung tâm giao dịch ngoại tệ ở thành phố Hồ Chí
Minh và một trung tâm giao dịch ở Hà Nội. NHNN không can thiệp trực tiếp vào tỷ giá
nh trớc nữa mà chỉ điều hành thông qua công cụ gián tiếp là quỹ điều hòa ngoại tệ. Khi
cần thiết, quỹ này đợc dùng để mua ngoại tệ hay bán ngoại tệ tại các phiên đấu giá.
Trên cơ sở tỷ giá chính thức do NHNN công bố, NHTM quy định tỷ giá ngoại tệ bán ra
trong phạm vi biên độ 1%: chênh lệch giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua ngoại tệ của các
NHTM tối đa là 0,5%.
NHNN đã tiến hành điều chỉnh thành công trớc cơn sốt ngoại tệ 1991 (giá USD
tăng cao). Nội dung điều chỉnh:
- NHNN và NHTM đồng loạt bán USD ra thị trờng chính thức.
- NHNN thông báo và bán vàng không hạn chế để thu tiền nội tệ.
16
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Các biện pháp trên đã hạn chế lợng cung tiền VND và làm giảm cầu ngoại tệ. Do đó tỷ
giá đã dần đợc ổn định, tạo tâm lý yên tâm trong dân chúng.
1.3 Diễn biến tỷ giá
Tỷ giá USD/ VND bình quân hàng năm (1989-1992):
17

Trích đoạn Lựa chọn chế độ tỷ giá phù hợp cho trớc mắt và trong dài hạn Thực hiện chính sách đa ngoại tệ Chính sách kết hố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status