luận văn quản trị kinh doanh Một số giải pháp tăng doanh thu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty Bảo hiểm phi nhân thọ TháI Bình - Pdf 28

Mục lục
M c l cụ ụ 1
M c l c ph n b ngụ ụ ầ ả 3
M uởđầ 4
Ch ng Iươ 5
Nh ng lý lu n chung v doanh thu kinh doanh B o hi mữ ậ ề ả ể 5
1.1. Nguyên t c c a ho t ng kinh doanh B o hi mắ ủ ạ độ ả ể 5
1.2 n i dung doanh thu kinh doanh B o hi mộ ả ể 9
1.3 t ng doanh thu kinh doanh B o hi m v nâng cao hi u qu kinh doanh.ă ả ể à ệ ả .11
Ch ng IIươ 15
Th c tr ng doanh thu kinh doanh B o hi m t I B o hi m phi nhân th tháiự ạ ả ể ạ ả ể ọ
bình 15
2.1 c i m tình hình chung công ty B o hi m phi nhân th Thái Bình Đặ để ả ể ọ
(B o Vi t phi nhân th Thái Bình)ả ệ ọ 15
2.1.1 S l c quá trình hình th nh v s phát tri n c a Công ty B o hi mơ ượ à à ự ể ủ ả ể
phi nhân th Thái Bìnhọ 15
2.2 Tình hình kinh doanh c a công ty B o hi m phi nhân th Thái Bình t ủ ả ể ọ ừ
n m 1999 n 2001ă đế 18
2.2.1.Th c tr ng doanh thu t ho t ng kinh doanh b o hi m c a công tyự ạ ừ ạ độ ả ể ủ
B o hi m phi nhân th Thái Bìnhả ể ọ 19
2.2.2. Doanh thu t ho t ng khác.ừ ạ độ 26
2.3 nh ng nhân t nh h ng n tình hình doanh thu kinh doanh B o hi m ư ốả ưở đế ả ể
t i công ty B o hi m phi nhân th Thái Bìnhạ ả ể ọ 27
2.3.1 Các nhân t khách quan:ố 27
2.3.2 Các nhân t ch quan:ố ủ 27
2.4. ánh giá t ng quát doanh thu c a B o hi m phi nhân th Thái BìnhĐ ổ ủ ả ể ọ 28
Ch ng IIIươ 30
M t s gi i pháp t ng doanh thu nh m nâng cao hi u qu kinh doanh t i ộ ố ả ă ằ ệ ả ạ
công ty B o hi m phi nhân th TháI Bìnhả ể ọ 30
3.1 Ph ng h ng, nhi m v , k ho ch c a công ty n n m 2005ươ ướ ệ ụ ế ạ ủ đế ă 30
3.1.1. Ho n th nh các nhi m v c giao, c th là à ệ ụđượ ụ ể à 30

nhập vào các thị trường để tối đa hoá lợi nhuận. Lợi nhuận là động lực mạnh mẽ
nhất thúc đẩy cho các nền kinh tế phát triển. Quá trình toàn cầu hoá, nhất thể
hoá kinh tế thế giới cũng là để cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế tìm
kiếm lợi nhuận trên những thị trường mới.
Trong điều kiện cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp có một chiến lược riêng để
tìm kiếm lợi nhuận, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng tìm cách quản lý và đẩy mạnh
doanh thu, nhằm đạt mức lợi nhuận tối đa. Giải pháp tăng doanh thu luôn là một
yếu tố quan trọng để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Song, giải pháp tăng
doanh thu như thế nào để có hiệu quả còn phụ thuộc vào mỗi nhà kinh doanh,
mỗi doanh nghiệp trên thị trường.
Cùng với nhịp độ phát triển kinh tế, nhu cầu bảo hiểm trong nước ngày
càng tăng cao công ty Bảo hiểm Thái Bình đã xây dùng cho mình một chiến
lược kinh doanh đúng đắn, đưa công ty ngày càng phát triển và khẳng định vị trí
của mình trên thị trường.
Bằng những kiến thức đã học, kết hợp với những kinh nghiệm thực tế thu
được trong thời gian thực tập tại công ty Bảo hiểm Thái Bình, đặc biệt được sự
tận tình chỉ bảo của thầy giáo Hoàng Trần Hậu tôi đã mạnh dạn chọn đề tài:
“Một số giải pháp tăng doanh thu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại
công ty Bảo Hiểm Thái Bình”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Những lý luận chung về kinh doanh bảo hiểm
Chương II: Thực trạng kinh doanh tại công ty Bảo Hiểm phi nhân thọ
Thài Bình
Chương III: Một số giải pháp tăng doanh thu nh»mn©ng cao hiệu quả
kinh doanh bảo hiểm tại công ty Bảo Hiểm phi nhân thọ Thài Bình.
4
Chương I
Những lý luận chung về doanh thu kinh doanh Bảo
hiểm
1.1. Nguyên tắc của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm

- Nguyên tắc lựa chọn rủi ro: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm cung cấp các
dịch vụ bảo hiểm cho những cá nhân và tổ chức có yêu cầu. Tuy nhiên không
phải trong mọi trường hợp, người bảo hiểm đều chấp nhận các yÒu cầu bảo
đảm. Nguyên tắc lựa chọn rủi ro là một nguyên tắc không thể thiếu được trong
hoạt động kinh doanh bảo hiểm của nhà bảo hiểm. Theo nguyên tắc này, các rủi
ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối bảo
hiểm: Hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạm
nghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử … Nói cách khác, những rủi ro có thể
được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được. Để bảo
đảm nguyên tắc này, trong đơn bảo hiểm luôn có các rủi ro loại trừ tuỳ thuộc
vào từng nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau; còn với các rủi ro được nhận bảo hiểm
lại được xem xét để phân loại, sắp xếp theo từng mức độ khác nhau(nếu cần
thiết) và áp dôg các mức phí thích hợp. Đối với các rủi ro có xác suất xảy ra lớn
hơn thì mức phí phải nộp cao hơn. Nguyên tắc lựa chọn rủi ro nhằm tránh cho
người bảo hiểm phải bồi thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiều
trường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản, đồng thời cũng giúp cho các
công ty bảo hiểm có thể tính được các mức phí chính xác, lập nên được một quỹ
bảo hiểm đầy đủ để bảo đảm cho công tác bồi thường. Không chỉ bảo đảm
quyền lợi cho phía bên bảo hiểm mà ngay chính những người tham gia bảo hiểm
cũng thấy công bằng hơn trong trường hợp có những rủi ro không thuần nhất
(xác suất không bằng nhau) khi nguyên tắc này được áp dụng.
6
- Nguyên tắc phân tán rủi ro (không để trứng vào một giá): Là người nhân
các rủi ro được chuyển giao từ người tham gia bảo hiểm, nhà bảo hiểm lúc này
sẽ là người phải đối mặt với những tổn thất có thể rất lớn nếu rủi ro xảy ra. Mặc
dù quỹ bảo hiểm là một quỹ tài chính lớn, được lập ra bởi sự đóng góp của
nhiều người theo nguyên tắc số đông bù số ít và như vậy, với tư cách là người
tập trung và quản lý quỹ, các công ty bảo hiểm có khả năng thực hiện nhiệm vụ
chi trả bảo hiểm. Nhưng trên thực tế, không phải lúc nào người bảo hiểm cũng
luôn đảm bảo được khả năng này, nhất là trong những trường hợp quỹ bảo hiểm

pháp luật.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi một loại hình bảo hiểm sẽ có
thêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại:nguyên tắc bồi
thường, nguyên tắc khoán, …
Trên thị trường bảo hiểm thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay hoạt động
kinh doanh bảo hiểm rất phong phú và đa dạng (nhiều nghiệp vụ – sản phẩm –
bảo hiểm khác nhau): bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm thân tầu;
bảo hiểm trách nhiªm dân sự chủ tầu; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm tai nạn con
ngêi… các sản phẩm trên đều được phân loại theo từng đặc trưng riêng tuỳ
thuộc vào mục đích nghiên cứu và quản lý nghiệp vụ, sẽ có các tiêu thức khác
nhau được lấy làm căn cứ phân loại. Chẳng hạn, theo đối tượng được bảo hiểm,
các nghiệp vụ được bảo hiểm có thể xếp vào: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách
nhiệm dân sự hay bảo hiểm con người.
Phạm vi hoạt động của bảo hiểm rất rộng (kinh doanh trên địa bàn rộng,
vói nhiều dịch vụ khác nhau cho nhiều đối tượng) nên hoạt động kinh doanh bảo
hiểm thường gắn liền với các nguồn thu từ bảo hiểm gốc. Từ đó xác định nên
một khoản bồi thường đền bù khách hàng khi xảy ra rủi ro, đó là nguồn thu
chính của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Do chu trình sản xuất kinh doanh bảo
hiểm là chu trình sản xuất ngược doanh thu được hình thành trước, chi phí xác
định sau, cho nên doanh nghiệp bảo hiểm phải hết sức thận trọng trong việc xác
định phí bảo hiểm cho các hoạt động. Vì mức phí bảo hiểm bao giờ cũng là yếu
tố quan trọng quyết định sự thành công của sản phẩm và thành công của doanh
8
nghiệp. Vì vậy, giá cả(mức phí bảo hiểm) cũng là yếu tố cần thiết cho sự thắng
lợi của các công ty trong lĩnh vực kinh doanh. Nếu để mức phí quá thấp thì sẽ
dẫn tới nguy cơ thu không đủ chi, dẫn tới nguy cơ phá sản, còn nếu đặt mức phí
cao thì khó thu được khách hàng. Trong xu thế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay
thì việc đặt ra mức phí phù hợp với nhu cầu khách hàng là điều vô cùng khó và
quan trọng. Vì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm như: xác suất rủi
ro, chi phí trung bình cho một vụ tai nạn, chi phí quản lý, chi phí hoa hồng và cả

đơn vị thành viên hạch toán nội bộ trong cùng một doanh nghiệp bảo hiểm, hạch
toán độc lập trừ đi các khoản chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm, giảm phí
bảo hiểm, phí nhượng tái bảo hiểm, hoàn phí nhận tái bảo hiểm, hoàn hoa hồng
nhượng tái bảo hiểm, giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm (áp dụng điều 19
nghị định số 43/2001/N§-CP ngày 1/8/2001 của Chính phủ quy định chế độ tài
chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm).
Thu kinh doanh Bảo hiểm bao gồm:
- Thu phí Bảo hiểm gốc: Là toàn bộ chi phí Bảo hiểm thu từ các hoạt động
Bảo hiểm đã ký kết trong kỳ kế toán.
- Thu nhận tái Bảo hiểm: Là toàn bộ tiền phí nhận tái Bảo hiểm thu từ các
hoạt động tái Bảo hiểm trong kỳ kế toán.
- Thu nhượng tái Bảo hiểm: Là toàn bộ các khoản tiền thu về hoa hồng
nhượng tái và các khoản thu khác từ các hoạt động tái Bảo hiểm trong kỳ kế
toán.
- Thu từ hoạt động cung cấp các dịch vụ khác: Là các khoản tiền thu về
dịch vụ đại lý giám định, tư vấn, đại lý xem xét bồi thường và đối với người thứ
3 xử lý hàng đã bồi thường tổn thất toàn bộ trong kỳ kế toán.
10
1.3 tăng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp đánh giá hiệu quả hoạt động
kinh doanh, phản ánh chất lượng kinh doanh, trình độ quản lý và khả năng của
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, bất kì doanh nghiệp nào muốn tồn
tại và phát triển luôn phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả kinh doanh, tối đa hoá
lợi nhuận. Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung
thêm nguồn vốn kinh doanh trích lập các quỹ trong doanh nghiệp, từ đó có thể
mở rộng tái sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là đối với doanh nghiệp bảo hiểm, lợi
nhuận còn giúp doanh nghiệp củng cố khả năng tài chính là nguồn đảm bảo khả
năng thanh toán các trách nhiệm của doanh nghiệp đối với quyền lợi của khách
hàng (lợi nhuận các năm chưa sử dụng)
Lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm được xác định bằng chênh lªch giữa tổng

- Số trích dự phòng dao động lớn trong năm: là số tiền dự phòng cho những
dao động lớn về tổn thất thuộc trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp.
- Chi khác hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
+ Chi hoa hồng bảo hiểm gốc
+ Chi hoa hồng nhận tái bảo hiểm
+ Chi nhượng tái bảo hiểm: chi khác về hoạt động nhượng tái bảo hiểm
12
+ Chi khác (giám định, đại lý …)
- Chi phí bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu và chi phí.
Muốn tăng lợi nhuận cần phải tăng doanh thu và tiết kiệm chi phí. Lợi nhuận là
chỉ tiêu tổng hợp để đánh gÝa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhưng
không phải là chỉ tiêu duy nhất. Để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác hiệu
quả kinh doanh bảo hiểm ngoài chỉ tiêu tuyệt đối là lợi nhuận, còn phải sử dụng
đến các chỉ tiêu: tû lệ chi phí / doanh thu, …
Nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm là rất cần thiết
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, khối lượng sản phẩm dịch vụ
của xã hội sau bao giờ cũng lớn hơn xã hội trước. Điều này đã hình thành quy
luật khách quan. Tuy nhiên, khả năng sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ
của mỗi nền sản xuất là có hạn, nhưng nhu cầu của con người là vô hạn và
không ngừng biến đổi. Chính vì vậy, vấn đề tăng số lượng sản phẩm địch vụ đã
không còn là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất sản phẩm
kinh doanh dịch vụ nữa. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để sản xuất đúng sản
phẩm dịch vụ mà khách hàng mong muốn, cung ứng với số lượng là bao nhiêu
thì vừa đủ với yêu cầu của thị trường. Có như vậy thì tránh được tình trạng lãng
phí mà vẫn đáp ứng đúng và đủ yêu cầu của thị trường, đồng thời mang lại kết
quả cao trong kinh doanh. Vì thực tế thì khi giảm được một đồng chi phí là tăng
thêm một đồng lợi nhuận hay doanh thu. Như vậy, hiệu quả kinh doanh cao
được đánh giá dựa trên cơ sở so sánh giữa thu về với chi phí bỏ ra: nếu tû số

Chương II
Thực trạng doanh thu kinh doanh Bảo hiểm tạI Bảo
hiểm phi nhân thọ thái bình
2.1 Đặc điểm tình hình chung công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình (Bảo Việt phi
nhân thọ Thái Bình)
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và sự phát triển của Công ty Bảo hiểm
phi nhân thọ Thái Bình
Trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, những năm vừa qua,
ngành Bảo hiểm là một trong những ngành mũi nhọn đã và đang góp phần vào
việc tăng trưởng kinh tế của đất nước. Công ty Bảo hiểm Thái Bình là một công
ty thành viên trực thuộc tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo
quyết định ngày 14/02/1981 Bộ tài chính. Hơn 20 năm xây dựng và phát triển,
công ty bảo hiểm Thái Bình đã trưởng thành nhanh chóng, lớn mạnh trên tất cả
các mặt hoạt động.
Là một ngành kinh tế đặc biệt, 1 loại hình dịch vụ tài chính bổ xung cho
ngân sách xã hội, với nhiệm vụ lập quỹ Bảo hiểm từ nguồn đóng góp qua các tổ
chức và cá nhân, giải quyết bồi thường để giúp dân nhanh chóng ổn định sản
xuất-đời sống là 1 trong những biện pháp quan trọng tăng cường tích kiệm trong
nhân dân, tăng cường đề phòng và hạn chế tổn thất đối với con người và tài
sản ý thức sâu sắc vai trò là lá chắn của sự phát triển kinh tế x¨ hội của địa
phương và với phương châm: “Con người là vốn quý nhất, tất cả vì con người,
cho con người”, hoạt động Bảo hiểm Thái Bình đã vươn ra khắp các địa
phương, địa bàn trong toàn tỉnh. Từ hai nghiệp vụ ban đầu: Bảo hiểm trách
nhiệm dân sự chủ xe cơ giới và Bảo hiểm tai nạn hành khách. Đến nay, Bảo
hiểm Thái Bình đã đa dạng hoá các loại hình Bảo hiểm, cung cấp gần 40 sản
15
phẩm dịch vụ Bảo hiểm trên hai lĩnh vực: Bảo hiểm phi nhân thọ và phi nhân
thọ.
Tháng 2/2001 theo quyết định của Bộ tài chính số 197/2000/Q§-BTC ngày
8/12/2000 về việc thành lập 27 công ty Bảo hiểm nhân thọ, trong đó có công ty

chức năng, cơ cấu này có ưu điểm thực hiện chế độ một thủ trưởng, sử dụng
được các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực Bảo hiểm, tăng cường tính dân chủ
trong quản lý, tạo khung thành hành chính vững chắc cho tổ chức quản lý doanh
nghiệp, có hiệu lực đảm bảo thể chế quản lý phù hợp với môi trường hoạt động
kinh doanh ổn định, các ngành đòi hỏi có chuyên môn hoá phù hợp trên địa bàn
hoạt động hẹp.
2.1.3 Chức năng của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình
BAN giám đốc
Phßng
TH-TCKT
Phßng
BH
phương
tiện tài sản
Phòng bảo
hiểm con
người
Phòng Bảo
hiểm khu
vực
Các đại lý
c¬ sở
Các đại lý
C¬ sở
Các đại lý
C¬ sở
17
Chức năng cơ bản của công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Thái Bình là:
- Lập quỹ Bảo hiểm với nguồn đóng góp (phí Bảo hiểm) của các tổ chức
đơn vị sản xuất kinh doanh và cá nhân để bồi thường tổn thất cho người tham

Thái Bình từ năm 1999 đến 2001
Đơn vị: 1000
®
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
Tổng số
Tû lệ/
Tổng DT
Tổng số
Tû lệ /
Tổng DT
Tổng số
Tû lệ/
Tổng DT
Thu hoạt
động kinh
doanh
BH
6.250.000 0,993 7.780.684 0,991 9.219.927 0,996
Tû lệ thu hoạt động kinh doanh Bảo hiểm của 3 năm 1999, 2000, 2001 là
tương đối cao, trung bình là 0,993%. Chứng tỏ hoạt động kinh doanh của đơn vị
là có hiệu quả. Đây là một thành tích lớn của công ty trong việc nâng cao hoạt
động kinh doanh Bảo hiểm
Nhìn vào số tuyệt đối, thu kinh doanh Bảo hiểm đã tăng dần lên qua các
năm. Năm 1999 là 6.250.000 triệu đồng, năm 2000 là 7780.684 triệu đồng, tăng
so với năm 1999 là: 1530.684 triệu đồng. Việc tăng thu hoạt động kinh doanh
Bảo hiểm như vậy là do doanh nghiệp đã đa dạng hoá các loại hình sản phẩm
phù hợp với quyền lợi của khách hàng và phương hướng hoạt động kinh doanh
đúng đắn của công ty.

Bảng 2.3 Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm tầu
Đơn vị:1000®
Nghiệp vụ
1999 2000 2001
Thu Chi Thu Chi Thu Chi
BH thân tàu biển 12350 4965 16431 6940 118141
BH trách nhiệm tàu biển 870 360 2648 33406
BH thân tàu sông 5490 2972 73514 37693 124569 1940
BH trách nhiệm tàu sông 6200 8150 15151
BH thân tàu cá 200150 42341 200358 58959 203568 42687
BH trách nhiệm tàu 1900 286 2288 400
2.2.1.4 Nhóm nghiệp vụ Bảo hiểm hoả hoạn và rủi ro đặc biệt:
Qua số liệu thc tế cho ta thấy doanh thu về nghiệp vụ này đã tăng năm 2000
so với 1999 là: 6,745 triệu đồng, năm 2001 tăng so với năm 2000 là: 205.25
triệu đồng. Nhưng riêng năm 1999 công ty đã phải bồi thường 14,240 triệu
đồng. Do vậy càng thúc đẩy tăng doanh thu nghiệp vụ này và quản lý rủi ro một
cách hiệu lực hơn.
B ảng2.4 Nhóm nghiệp vụ hoả hoạn và rủi ro đặc biệt
Đơn vị:1000®
1999 2000 2001
Thu Chi Thu Chi Thu Chi
42.050 14.240 48.792 69.317
2.2.1.5 Nhóm nghiệp vụ Bảo hiểm xây dựng lắp đặt:
Trong 3 năm qua, công ty phải bồi thường số lượng tài chính rất lớn trong
lĩnh vực này. Mặc dù số công trình tham gia Bảo hiểm này nhiều vì đây là
nghiệp vụ Bảo hiểm Nhà nước quy định tham gia bắt buộc. Nên số Bảo hiểm thu
21
được năm 1999 là 346,090 triệu đồng, năm 2000 là 533,718 triệu đồng, năm
2001 là 477,208 triệu đồng. Đặc biệt năm 2000 có mức thu cao nhất trong 3
năm, đồng thời năm này công ty không phải bồi thường một vụ nào. Điều này

Nghiệp vụ
1999 2000 2001
Thu Chi Thu Chi Thu Chi
BH vật chất « tô
1150242 401120 117587 9 405674 1167562 281256
BTNDS chủ xe đối với
HK
8540 10396 27328
BHchủ xe đối h
2
vật
chất
3200 39970 4973 48835 32835 27328
BHTNDS chủ xe «t« đối
người thứ 3
244070 223056 297716 21767 318444 228378
BHTNDS chủ xe m«t«
đối ngời thứ 3
105000 64283 187489 24152 394870 10746
• Nghiệp vụ Bảo hiểm vật chất « tô:
Đây là nghiệp vụ có số doanh thu cao nhất trong nhóm này và đây cũng là
nghiệp vụ mà hiện tượng trục lợi là nhiều hơn cả. Doanh thu Bảo hiểm vật chất
« tô năm 1999 là: 1150,242 triệu đồng; năm 2000 mức thu là: 1175,879 triệu
đồng, tăng hơn năm1999 là 25,637 triệu đồng; năm 2001 mức thu là: 1167,562
triệu đồng, giảm hơn năm 2000 là 8,317 triệu đồng( Nhưng trong năm 2000
công ty chi trả Bảo hiểm thấp nhất). Nguyên nhân dẫn đến doanh thu giảm đi là
do: Công ty chưa giúp khách hàng của mình hiểu sâu sắc về sản phẩm này, để
khai thác triệt để tốt.
• Nghiệp vụ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe « tô đối với người thứ ba:
23

triệu đồng, giảm so với năm 2000 là 91,981 triệu đồng.
Nhìn chung, nghiệp vụ này có tû lệ doanh thu cao, nếu tû lệ còn tăng nữa sẽ
giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn.
• Bảo hiểm toàn diện học sinh:
Đây là nghiệp vụ có số doanh thu Bảo hiểm cao nhất trong tất cả các
nghiệp vụ đang triển khai và mức chi trả Bảo hiểm thấp.
Năm 1999, doanh thu Bảo hiểm là 1980,642 triệu đồng, năm 2000 doanh
thu Bảo hiểm là: 2.602,319 triệu đồng tăng là 621,677 triệu đồng so với năm
1999. Năm 2001 số doanh thu là: 2869,795 triệu đồng tăng so với năm 2000 là
267,476 triệu đồng.
Nhìn vào số liệu ta thấy nghiệp vụ này có tû lệ doanh thu Bảo hiểm cao
trong khi mức chi trả Bảo hiểm thấp. Vì vậy nếu doanh thu Bảo hiểm càng tăng
kết hợp với việc quản lý các rủi ro tốt thì lợi nhuận kinh doanh cao. Mặc dù đây
là nghiệp vụ thường hay bị khách hàng trục lợi bằng cách lập các hồ sơ giả, khai
tăng số ngày nằm viện điều trị, tai nạn nhẹ khai báo nặng, hoặc ốm đau, tai nạn
rồi mới mua Bảo hiểm Vì vậy công ty cần có biện pháp kiểm tra chặt chẽ hơn.
• Bảo hiểm sinh mạng cá nhân:
Loại nghiệp vu này có doanh thu Bảo hiểm lớn thứ hai trong nghiệp vụ Bảo
hiểm kinh doanh của công ty. Hai nghiệp vụ chỉ triển khai cho đối tượng hưu trí,
chính sách hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước. Đối tượng mua Bảo
hiểm này thường từ 55 tuổi trở lên cho nên xác suất ốm đau bệnh tật, tai nạn, tử
vong, là lớn do đó số người tham gia cao. Vì vậy mức doanh thu ở nghiệp vụ
này cũng tăng.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status