MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CÔNG TY CỔ PHẦN MEINFA SÔNG CÔNG
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong
quá trình phát triển kinh tế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới như
ASEAN, WTO,…nó mở ra cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp Việt
Nam nói riêng những cơ hội và thách thức. Thách thức lớn nhất đó chính là sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt hơn từ những đối thủ lớn mạnh khác trong cùng một sân
chơi kinh tế này. Khi một doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất hay kinh
doanh trong cơ chế thị trường như hiện nay đều phải chịu sự tác động của những
quy luật kinh tế khách quan trong đó có quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh có vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh giúp các ngành, các
doanh nghiệp tự đào thải những cá thể doanh nghiệp yếu kém, không đủ sức tồn
tại. Vì cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà trong đó các doanh nghiệp ganh đua nhau
bằng mọi biện pháp cả nghệ thuật lẫn những thủ đoạn để đạt được mục tiêu của
mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường giành lấy khách hàng cũng như những
điều kiện sản xuất hay thị trường sản xuất có lợi nhất. Vậy để tồn tại và phát triển,
để có sức cạnh tranh các doanh nghiệp phải biết tự hoàn thiện mình bằng cách áp
dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công nghệ, phương thức quản lý, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực,…
Trong thời gian thực tập tại Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công, em nhận
thấy công ty mới được thành lập từ năm 2008 đến nay tuy còn non trẻ nhưng đã có
những thành công nhất định. Hình ảnh cũng như sản phẩm của công ty đã dần được
khách hàng quan tâm và biết đến vì tính chất sản phẩm cơ khí của công ty sử dụng
rộng rãi trong các ngành công nghiệp Việt Nam . Thị trường và thị phần của công
ty ngày càng được mở rộng, lợi nhuận của công ty tăng lên hàng năm. Bên cạnh
những thành công hay những lợi thế thì công ty còn gặp phải những khó khăn như
quy mô công ty còn nhỏ, giá của sản phẩm còn cao nên sức tiêu thụ sản phẩm hạn
xây dựng dựa trên tính chất công việc và tình hình kinh doanh công ty trong những
2
năm gần đây. Đặc biệt với những câu hỏi về năng lực cạnh tranh của công ty. Các
câu hỏi được sử dụng có câu hỏi đóng , và câu hỏi mở được đặt ra nhằm thu thập ý
kiến qua đó đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty. Đối tượng được điều tra lựa
chọn để thu thập thông tin gồm hai nhóm: Nhóm một là cán bộ nhân viên trong
công ty , nhóm hai là khách hàng của công ty. Các câu hỏi điều tra được thiết kế để
thu thập thông tin về những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của công ty.
+ Thu thập dữ liệu qua câu hỏi phỏng vấn.
Bên cạnh phiếu điều tra, phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng nữa là
qua câu hỏi phỏng vấn ban lãnh đạo của công ty. Những người được phỏng vấn đó
là ông Vũ Mạnh Bun (Giám đốc), ông Nguyễn Đức Trọng (Trưởng Bộ phận đại
lý). Qua những cuộc phỏng vấn thì ban lãnh đạo cũng cho em hiểu được những cơ
hội và thách thức, những điểm mạnh và tồn tại công ty đang từng bước cần khắc
phục. Từ đó có thể đưa ra một số những đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công.
1.4.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
Trong thời gian thực tập tại Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công để có
những thông tin, số liệu cụ thể cho việc làm chuyên đề này thì phương pháp nghiên
cứu còn được sử dụng đó là phương pháp thu thập thông tin thứ cấp. Những tài liệu
được sử dụng như: Tài liệu giới thiệu về công ty, kết cấu nhân sự, kết quả hoạt
động kinh doanh, kế hoạc chính sách trong 3 năm 2008 - 2010, chiến lược công ty
trong những năm tới.
Bên cạnh những tài liệu thu thập thực tế tại công ty, em còn sử dụng những
tài liệu tham khảo, các Website, các công trình nghiên cứu năm trước để tham khảo
phục vụ cho việc nghiên đề tài.
1.4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu.
1.4.2.1. Phương pháp định tính.
Đây là phương pháp tổng hợp các ý kiến của mọi người tham gia trong
phiếu điều tra trắc nghiệm và câu hỏi phỏng vấn. Từ đó đánh giá được năng lực
được nhiều lợi ích nhất cho mình.
1.5.1.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh như sau:
4
Theo định nghĩa của Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức
hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là sức sản
xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất các hiệu quả
làm cho các doanh nghiệp các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát
triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Theo quan điểm của Kinh tế chính trị học thì cho rằng: năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì một vị trí của nó một
cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ
đòi hỏi cho việc tài trợ các mục tiêu của doanh nghiệp.
Từ những quan điểm khác nhau trên, ta có thể đưa ra một khái niệm chung
nhất về năng lực cạnh tranh như sau:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi
của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực
lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn
người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải
tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
1.5.2. Phân định nội dung nghiên cứu đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh
1.5.2.1. Vai trò cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất
hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung. Nó là động lực thúc đẩy
sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế. Sự cạnh tranh buộc
người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu
dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những
tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách
thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng suất, chất
trước đến giờ thị trường vẫn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, vai trò của việc
nghiên cứu marketing, thiết kế hàng hóa, chính sách giá cả, quảng cáo và kích thích
tiêu thụ và những biện pháp khác đều ở mức tối thiểu.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trên thi trường mà ơ
đó một số nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản
phẩm của mình hay tác động đến giá cả thị trường.
b. Căn cứ vào chủ thể tham gia cạnh tranh gồm :
6
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo
quy luật mua rẻ bán đắt trên thị trường hàng hóa. Người bán thì luôn muốn bán sản
phẩm hàng hóa của mình với giả cao nhất có thể còn ngược lại người mua thì lại
muốn mua sản phẩm mình cần với giá thấp nhất. Và chấp nhận cuối cùng được hai
bên mua và bán thỏa thuận.
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: là cuộc cạnh tranh xảy ra khi cung
nhỏ hơn cầu trong trường hợp hàng hóa trên thị trường khan hiếm nên người mua
chấp nhận mua với giá cao để được sản phẩm mà họ cần. Và cuối cùng thì người
bán thu được nhiều lợi nhuận hơn.
- Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay go và
quyết liệt nhất trên thị trường để giành giật lợi thế về phía mình như khách hàng,
thị phần, doanh thu và cuối cùng là lợi nhuận. Thị phần, doanh thu và lợi nhuận
càng tăng càng chứng tỏ sức cạnh tranh của họ càng lớn. Làm được điều ấy đòi hỏi
các doanh nghiệp phải có sự nhạy bén, linh hoạt trong quản lý, thường xuyên đổi
mới trong công nghệ…
c. Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh gồm:
- Cạnh tranh quốc gia: Là loại cạnh tranh diễn ra trên quy mô rộng lớn nhất
giữa quốc gia này với quốc gia khác nhằm tìm kiếm thị trường đầu tư, xuất khẩu
thu lợi nhuận nhiều hơn.
+ Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh giữa các ngành trong nền
kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận lớn nhất. Sự cạnh tranh giữa các
ngành dẫn tới việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất
b.Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của
doanh nghiệp. Kinh doanh là hoạt động của con người, kết quả kinh doanh sẽ phục
vụ lại lợi ích của con người. Vì vậy, con người vừa là công cụ vừa là mục đích của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc sử dụng nguồn nhân lực như thế nào để có
hiệu quả luôn là cơ hội cũng như thách thức cho hoạt động quản trị có hiệu quả. Từ
đó doanh nghiệp luôn phải xác định được điểm mạnh điểm yếu của nguồn nhân lực
8
để có những chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả tạo ra năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
c. Nguồn lực tài chính.
Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất và là chỉ tiêu hàng
đầu để đánh giá quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn lực tài chính ở đây bao gồm: quy mô tài chính của doanh nghiệp, tình
hình nguồn vốn, đầu tư,…Tình hình tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng
được quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới máy móc, trang thiết bị, đầu tư
vào các chương trình PR, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm…từ đó nâng cao được
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nguồn vốn lớn sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ
về tài chính, giảm bớt được các khoản nợ vay giảm bớt được các rủi ro xảy ra tạo
cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh hơn từ đó có nhiều cơ hiệu kinh doanh
hơn.
d. Nguồn lực vật chất và bí quyết công nghệ.
Nguồn lực vật chất của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản cố định mà doanh
nghiệp đang có như máy móc, thiết bị, nhà xưởng… Nó phản ánh quy mô và trình
độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bí quyết công nghệ là những công nghệ riêng của doanh nghiệp, nó phản
ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó được biểu hiện bằng
những chỉ tiêu hữu hình và vô hình như năng suất lao động bình quân, trình độ
quản lý của nhà quản trị, văn hóa doanh nghiệp…
Cơ sở vật chất và bí quyết công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực
đó làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, kéo dài tuổi
thọ của sản phẩm. Đồng thời làm tăng uy tín và thị trường, tăng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp và mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
f. Hệ thống kênh phân phối.
Hệ thống kênh phân phối là các cách thức mà doanh nghiệp cung ứng sản
phẩm của mình cho khách hàng. Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những
công cụ cạnh tranh đắc lực bởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hóa hoặc
thiếu hàng. Để hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt doanh
nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối thích hợp tùy theo đặc điểm của mặt
10
hàng kinh doanh, theo quy mô của doanh nghiệp, tùy theo vị trí địa lý và theo nhu
cầu của thị trường.
Các loại kênh phân phối trong doanh nghiệp bao gồm:
- Kênh phân phối trực tiếp: Đây là loại kênh phân phối mà qua đó người sản xuất
bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không qua bất kỳ một trung gian nào.
- Kênh phân phối gián tiếp: Là loại kênh giữa người sản xuất và người tiêu dùng
xuất hiện nhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hóa từ người sản xuất
đến người tiêu dùng.
- Kênh phân phối hỗn hợp: Thực chất đây là loại kênh được tạo nên khi doanh
nghiệp sử dụng cùng một lúc để phân phối một hay nhiều sản phẩm trên một khu
vực thị trường hoặc nhiều khu vực thị trường khác nhau.
g. Các dịch vụ đi kèm
Các dịch vụ trước, trong và sau bán cũng là công cụ hiệu quả giúp doanh
nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Nó giúp doanh nghiệp giữ được khách hàng,
nâng cao được doanh số, biến khách hàng tiềm năng thành khách hàng hiện thực.
h. Các hoạt động nghiên cứu và phát triển.
Thông qua các hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường thì doanh
nghiệp sẽ biết được những thông tin thị trường, từ đó đưa ra những hoạt động
marketing phù hợp và hiệu quả góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
của doanh nghiệp =
Doanh thu của doanh nghiệp trên thị
trường
x
100
Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh
nhất
b.Doanh thu.
Doanh thu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Doanh thu để đảm bảo cho việc trang trải các chi phí bỏ ra, mặt khác thu
được một phần lợi nhuận và có tích lũy để tái mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh. Doanh thu càng lớn thì tốc độ chu chuyển hàng hóa và vốn càng nhanh, đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời nó phản ánh quy mô sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng hay thu hẹp lại.
12
c. Chi phí và tỷ suất chi phí.
Chi phí là tất cả các khoản tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra để phục vụ cho
việc sản xuất kinh doanh của mình như chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí mua, chi phí quản lý, chi phí phân phối,
chi phí bán hàng,… Nếu doanh nghiệp tối ưu hóa được các khoản chi phí này sẽ
tạo được lợi thế là việc có chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn so
với đối thủ cạnh tranh.
Tỷ suất chi phí sẽ cho biết một đồng doanh thu sẽ tạo ra sẽ tiêu phí bao nhiêu
đồng chi phí. Đây là chỉ tiêu tương đối nói lên trình độ quản lý, hoạt động sản xuất
kinh doanh, hiệu quả quản lý chi phí. Tỷ suất chi phí thấp sẽ đưa lại tỷ suất lợi
nhuận cao và từ đó lợi nhuận ngày càng nhiều. Vì vậy doanh nghiệp nào cũng tìm
mọi biện pháp để hạ thấp tỷ suất chi phí của doanh nghiệp mình.
Tỷ suất chi phí của
doanh nghiệp
=
doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Bởi vì con người tạo ra hoạt
động sản xuất kinh doanh, chỉ có con người mới biết khơi dậy được nhu cầu của
con người và chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp
mà tất cả những yếu tố này đều tạo thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
+ Nguồn lực về cơ sở vật chất và bí quyết công nghệ.
Nguồn vật chất và bí quyết công nghệ tốt sẽ tạo ra những sản phẩm tốt, năng
suất ca, sử dụng ít năng lượng, không gây ô nhiễm môi trường, sử dụng ít nhân
lực… Điều đó giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và
giảm giá thành sản phẩm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
14
+ Năng lực lãnh đạo, quản lý và văn hóa trong doanh nghiệp.
Năng lực lãnh đạo và quản lý được hiểu là khả năng tổ chức, quản lý và sử
dụng các nguồn lực của doanh nghiệp. Nó là một yếu tố quan trọng quyết định đến
sự thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Năng lực quản lý, lãnh đạo của doanh nghiệp thể hiện qua việc thực hiện quản trị
các hoạt động tác nghiệp như quản trị chiến lược, quản trị bán hàng, quản trị mua
hàng và dự trữ hàng hóa, quản trị nhân sự, quản trị tài chính… Văn hóa doanh
nghiệp là yếu tố tác động trực tiếp tới nguồn nhân lực. Nó là yếu tố động lực nhưng
cũng là những tác nhân kìm hãm tới chất lượng nhân lực. Văn hóa doanh nghiệp tốt
sẽ tạo động lực tinh thần làm việc tốt hơn cho người lao động, làm cho họ trung
thành và cống hiến hết mình cho doanh nghiệp.
b. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
* Nhân tố môi trường vĩ mô.
+ Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế bao gồm các vấn đề như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ
giá hối đoái, thu nhập quốc, lạm phát, thất nghiệp…có ảnh hưởng một cách gián
tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ làm
cho thu nhập của dân cư tăng lên, mức sống của họ dần được nâng cao thì nhu cầu
của họ cũng tăng lên đối với chất lượng sản phẩm hay dịch vụ, các doanh nghiệp
cần phải nắm bắt sự thay đổi đó. Môi trường kinh tế ổn định hay bất ổn có ảnh
+ Nhà cung ứng.
Nhà cung ứng có vai trò quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp, vì
họ đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra theo hướng
đã định sẵn. Bất kì sự biến đổi nào từ phía nhà cung ứng cũng sẽ ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh đó từ đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
+ Đối thủ hiện tại.
Đối thủ cạnh tranh hiện tại là nhân tố đầu tiên và trực tiếp tác động tới sức ép
cạnh tranh của doah nghiệp. Vì vậy cần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp mình so với đổi thủ hiện tại.
+Đối thủ mới tiềm ẩn.
16
Đối thủ mới tiềm ẩn là nguy cơ cho sự cạnh tranh trong tương lai. Nó là
nguy cơ có thể tạo ra sức ép cạnh tranh trong kinh doanh vì thế doanh nghiệp cũng
cần phải chú ý tới tác nhân này.
+ Các sản phẩm thay thế.
Sản phẩm thay thế đề cập đến các sản phẩm thuộc các ngành sản xuất khác.
Nó cũng là một trong những nhân tố tạo nên sức ép cạnh tranh của các doanh
nghiệp cùng ngành.
+ Các bên liên quan khác.
Bao gồm các cổ đông, công đoàn, chính phủ, các tổ chức tín dụng, hiệp hội
thương mại, dân chúng, các nhóm quan tâm đặc biệt.
17
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MEINFA SÔNG CÔNG
2.1 Khái quát về Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công
2.1.1. Giới thiệu về Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công.
Tên công ty: Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công.
Địa chỉ công ty: Số 7 - Tổ 18 - P. Thượng Thanh - Long Biên - Hà Nội
Ban Tổng giám đốc có nhiệm vụ và chức năng:
- Tổ chức thực hiện các quyết định của HĐQT.
- Điều hành và chịu trách nhiệm mọi hoạt động của Công ty trước HĐQT.
- Quyết định mọi hoạt động hàng ngày của Công ty.
- Tổ chức thực hiện các phương án KD, đầu tư dự án của Công ty.
- Đề nghị HĐQT bổ nhiệm, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật các chức danh
quan trọng trong Công ty.
Phòng kĩ thuật thi công:
-Lập dự toán, triển khai các hợp đồng, lập dự trù vật tư, cung cấp toàn bộ
thông số kỹ thuật, bản vẽ chế tạo cho xưởng.
-Lập kế hoạch thuê thầu phụ, cung cấp thông số kỹ thuật các yêu cầu nhập
khẩu để phòng kinh doanh tiến hành nhập khẩu.
19
-Lập các quy trình thiết kế, chế tạo và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
-Thiết kế sản phẩm, dự tính định mức vật tư, dự toán giá thành, lập quy
trình chế tạo và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
-Trưởng phòng kỹ thuật chịu trách nhiệm phân công kĩ sư thi công công
trình theo đúng chuyên môn và năng lực của họ.
Tiến hành thực hiện các hợp đồng thầu phụ theo chỉ đạo của P.Giám đốc
điều hành. Chịu trách nhiệm quản lý và điều hành nhân sự phòng kỹ thuật, xây
dựng môi trường làm việc lành mạnh và phát huy được năng lực chuyên môn
của từng người.Ngoài ra thực hiện các công việc khác của Giám đốc.
Phòng kinh doanh:
-Lập các kế hoạch Kinh doanh và triển khai thực hiện.
-Thiết lập, giao dich trực tiếp với hệ thống Khách hàng, hệ thống nhà phân
phối.
-Thực hiện hoạt động bán hàng tới các Khách hàng nhằm mang lại Doanh
thu cho Doanh nghiệp.
-Phối hợp với các bộ phận liên quan như Kế toán, Sản xuất, Phân
phối, nhằm mang đến các dịch vụ đầy đủ nhất cho Khách hàng
130,39% so với năm 2009. Tốc độ phát triển bình quân đạt 117,01%.
+ Lãi gộp năm 2008 đạt 1.055.340.943 đồng. So với năm 2008, năm 2009
tăng 108,00 % đạt mức 1.139.786.372 đông, năm 2010 đạt mức giá trị
1.598.532.725 đồng, tăng 140,25% so với năm 2009. Qua 3 năm hoạt động tốc độ
phát triển bình quân đạt 123,07%.
+ Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế tăng năm 2009 so với năm 2008 là
112,72%, năm 2010 đạt mức 147,74% so với năm 2009 và mức phát triển bình
quân đạt 129,05% .
+ Chi phí thuế thu nhập hiện hành năm 2008 là 68.646.584 đồng, năm 2009
tăng 112,72% so với năm 2008 đạt giá trị là 77.379.835 đồng. Năm 2010 có giá trị
là 114.319.051 đồng tăng 147,74% so với năm 2010 cũng đạt tốc độ phát triển
bình quân là 129,05%
Qua những chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận đều tăng lên qua các năm điều
đó thể hiện hoạt động kinh doanh của công ty tốt và có khả quan, công ty có năng
lực cạnh tranh trên thị trường.
2.2. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công Ty Cổ
Phần Meinfa Sông Công
21
2.2.1. Kết quả phân tích các dữ liệu sơ cấp về năng lực cạnh tranh của Công Ty
Cổ Phần Meinfa Sông Công.
2.2.1.1. Kết quả điều tra về năng lực cạnh tranh của Công Ty Cổ Phần Meinfa
Sông Công.
a. Kết quả điều tra các câu cán bộ công nhân viên Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông
Công
Thông qua kết quả tổng hợp điều tra thì 100% ý kiến cho rằng sản phẩm đóng vai
trò quan trọng trong việc thể hiện năng lực cạnh tranh của công ty.
Khi sản phẩm được tung ra thị trường, 60% cán bộ nhân viên trong công ty
cho rằng khách hàng rất quan tâm tới sản phẩm của công ty, 20% ý kiến cho rằng
khách hàng quan tâm và 20% ý kiến còn lại cho rằng khách hàng quan tâm bình
thường chứng tỏ rằng sản phẩm của công ty khi được giới thiệu cũng đã được sự
đa số phiếu khách hàng khi được hỏi lý do mua hàng đều chọn là do chất lượng
sản phẩm và cũng chính là điều ấn tượng nhất khi khách đến và lựa chọn mua sản
phẩm của công ty.
Tuy giá cả sản phẩm được khách hàng đánh giá là đắt nhưng thời hạn giao
hàng, chất lượng của đội ngũ nhân viên, và các dịch vụ hỗ trợ khách hàng thì được
khá nhiều ý kiến trong phiếu điều tra cho là tốt.
Những ưu đãi của công ty với khách hàng là do khách hàng được chiết khấu
thương mại, mua chịu, các dịch vụ trong và sau bán đó chính là lý do mà họ đến
mua hàng tại công ty.
Cũng theo kết quả cho thấy 60% ý kiến khách hàng cho rằng công ty có
năng lực cạnh tranh tốt, 40% cho rằng công ty có khả năng cạnh tranh trung bình.
Khách hàng có những ý kiến góp ý với công ty khi họ được hỏi là giá của
sản phẩm công ty còn cao, mẫu mã sản phẩm chưa phong phú.
2.2.1.2. Kết quả tổng hợp đánh giá của các chuyên gia về năng lực cạnh tranh của
Công Ty Cổ Phần Meinfa Sông Công.
Theo ý kiến của Ông Vũ Mạnh Bun - Giám đốc cho rằng tình hình kinh
doanh của công ty đang phát triển nó thể hiện qua doanh thu hàng năm của công ty.
Công ty đang rất chú trọng tới việc nâng cao năng lực cạnh tranh vì đó là nhân tố
rất lớn để giúp công ty có chỗ đứng vững hơn trên thị trường hiện tại cũng như
23