Quản lý và bảo vệ môi trường đô thị_Tài liệu ôn thi công chức ngành địa chính cấp xã - Pdf 28

187
Chuyên đề 5:
QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ
1. Khái quát chung về quản lý và bảo vệ môi trường đô thị
1.1. Đô thị và bảo vệ môi trường
1.1.1. Đô thị
Theo Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng
6 năm 2009. Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ
yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị,
hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao
gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.
Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương lai theo định hướng
quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, được đầu tư xây dựng từng bước
đạt các tiêu chí của đô thị theo quy định của pháp luật.
Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới
đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở.
Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ
thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập
môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông
qua đồ án quy hoạch đô thị.
1.1.2. Các vấn đề môi trường đô thị
Hệ thống đô thị Việt Nam thực sự là hạt nhân của quá trình phát triển kinh
tế - xã hội. Tuy nhiên, quá trình này cũng đã có tác động không nhỏ tới môi
trường. Tài nguyên đất đô thị đang bị khai thác triệt để để xây dựng các công
trình, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ra úng ngập. Nhu cầu nước
phục vụ sinh hoạt, dịch vụ, sản xuất ở đô thị ngày càng tăng làm suy giảm nguồn
tài nguyên nước. Các vấn đề về cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thống thoát
nước, thu gom và xử lý rác, xử lý nước thải, giảm ô nhiễm không khí và tiếng
ồn… chưa được chú ý đúng mức. Một số vấn đề môi trường bức xúc trong quá

Trong những năm gần đây, nhà nước đã rất quan tâm đến vấn đề nhà ở, đầu
tư nhiều tỷ đồng cho xây dựng nhà ở mới tại các đô thị và khu công nghiệp. Tuy
nhiên, tình hình nhà ở đô thị vẫn khó khăn đối với người dân có thu nhập thấp.
Nếu không có những giải pháp hiệu quả thì sự tác động của nhà ở sẽ ảnh hưởng
trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển đô thị nói
riêng. Một tồn tại khác trong vấn đề nhà ở đô thị là sự tồn tại của các khu nhà ở
không chính thức và một biến thái của nó là các “xóm liều”, “xóm bụi”. Điều
này dẫn đến môi trường trong các khu dân cư này bị ô nhiễm nghiêm trọng và
có thể coi đây là các khu nhà “ổ chuột” đô thị.
Hầu hết ở các đô thị hiện nay đều xảy ra tình trạng thiếu nhà ở. Đặc biệt là
dân nghèo đô thị và những người mới nhập cư vào thành phố. Thống kê của
UNFPA cho thấy, hiện 25% cư dân thành thị Việt Nam không đủ tiền để mua
nhà ở, 20% nhà ở thành thị bị xếp vào loại không đạt tiêu chuẩn, TP Hồ Chí
Minh còn có 300 ngàn người đang sống trong các nhà ổ chuột, 30% dân số Hà
Nội phải sống trong môi trường chật chội với diện tích ở không quá
3m2/người. (nguồn: Báo cáo tại hội thảo "Các vấn đề ven đô và đô thị hóa",
PGS-TS. Lưu Đức Hải, Viện trưởng Viện Quy hoạch đô thị nông thôn - 2011).
* Cây xanh đô thị
Cây xanh đang là vấn đề phải được quan tâm đúng mức trong quy hoạch đô
thị. Chỉ tiêu đất để trồng cây xanh trong các đô thị quá thấp, trung bình mới đạt
0,5m
2
/người. Một số di sản văn hóa, lịch sử và một số di tích, vùng cây xanh
bảo vệ môi trường đang bị vi phạm, tàn phá nặng nề. Hệ thống không gian xanh
189
hầu như chưa được chú ý và các cơ quan quản lý chưa hoạch định chính sách
đối với vấn đề này. Công viên để vui chơi, giải trí còn rất ít. Diện tích các công
viên chức năng cũng rất hạn hẹp, bị chiếm dụng cho những mục đích khác.
* Vấn đề nước sạch
Đối với các khu vực thành thị - nơi tập trung dân cư đông đúc và diễn ra

Theo kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2013), lấy mẫu nước sinh hoạt tại Hà
Nội, TPHCM và một số địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả đã
phát hiện 20 - 25% số nhà máy nước không đạt yêu cầu vệ sinh. 20% không đạt
chỉ tiêu lý hóa, 10 - 15% không đạt yêu cầu tiêu chuẩn vi sinh. Hàm lượng clo
dư không đảm bảo Trong khi đó, đã có 2 ổ dịch tiêu chảy cấp do E.Coli vừa
xuất hiện tại TPHCM và nguy cơ này đe dọa có thể bùng phát bất cứ lúc nào tại
các đô thị lớn
190
Vấn đề nước sạch và ô nhiễm nguồn nước đang thực sự trở nên nghiêm
trọng và đáng lo ngại, bởi hàng ngày chúng ta vẫn nhận được các thông tin từ
báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng về sự hình thành ngày càng
nhiều các “dòng sông đen”, “dòng sông chết”, các “làng ung thư”, về các dòng
sông biến thành các “cống nước thải khổng lồ” giữa lòng thành phố, một bộ
phận dân cư “sống giữa thành phố uống nước gần nghĩa địa” v.v
* Các vấn đề về chất thải rắn sinh hoạt
Một trong những vấn đề môi trường bức xúc nhất đang nổi lên ở khu vực
đô thị nước ta hiện nay là chất thải rắn sinh hoạt.
Vấn đề thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt là vấn đề môi trường đang
nổi lên, gây bức xúc cho các cộng đồng dân cả cư khu vực nông thôn và là vấn
đề gay gắt và nan giải đối với các cộng đồng dân cư khu vực đô thị. Do đặc
điểm khu vực đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, hoạt động sản xuất công
nghiệp và dịch vụ diễn ra mạnh mẽ với cường độ ngày càng tăng, đồng nghĩa
với việc nguồn rác thải sẽ lớn hơn, xử lý phức tạp hơn rất nhiều.
Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị lớn của Việt Nam hiện
nay chủ yếu do các công ty TNHH một thành viên hoặc do các công ty cổ phần
môi trường đảm nhiệm. Tỷ lệ thu gom trung bình

các đô thị
từ
72% năm 2004

cung cấp dịch vụ thu gom, xử lý chất thải rắn đô thị cũng ngày càng đa dạng.
1.1.3. Các tiêu chí đánh giá môi trường đô thị
191
Trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa hiện nay, việc bảo vệ môi trường là
trách nhiệm của toàn dân. Để bảo vệ môi trường cần đặt ra các quy định, tiêu chí
nhằm đạt được mục đích hướng đến chất lượng môi trường tốt hơn, trong sạch
hơn. Theo tác giả Đỗ Nam Thắng (Tổng cục Môi trường) các đô thị ở Việt Nam
hiện nay cần hướng đến các tiêu chí về: nước, chất lượng không khí xung quanh,
chất thải rắn,…
* Đối với tiêu chí về nước
Các chỉ tiêu trong nhóm tiêu chí về nước bao gồm:
- Tỷ lệ dân số được tiếp cận với nước sạch.
- Tỷ lệ thất thoát nước.
- Lượng nước cấp trên đầu người so với tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ Xây
dựng.
- Tỷ lệ lượng nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn hoặc
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
- Chính sách về bảo tồn, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước.
- Chính sách về cải thiện chất lượng môi trường nước.
* Đối với tiêu chí về không khí
Các chỉ tiêu trong nhóm tiêu chí về không khí bao gồm:
- Tần suất quan trắc ô nhiễm không khí mỗi năm.
- Số lượng các chất ô nhiễm được quan trắc.
- Nồng độ chất ô nhiễm PM10 trung bình đạt tiêu chuẩn.
- Chính sách về quản lý chất lượng môi trường không khí.
* Đối với tiêu chí về chất thải rắn
Các chỉ tiêu trong nhóm tiêu chí về chất thải rắn gồm:
- Tỷ lệ % chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý.
- Tỷ lệ % chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn
môi trường.

- Nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, phân bón, hóa chất bảo vệ
thực vật…
- Chất thải rắn không được thu gom, phát tán và gây ô nhiễm nguồn nước
- Nước mưa chảy tràn kéo theo các chất ô nhiễm hòa tan, các chất rắn…
* Tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước
Có rất nhiều tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước, tuy nhiên để tiện lợi
cho việc quan trắc và khống chế ô nhiễm nguồn nước, ta có thể phân chúng
thành các nhóm cơ bản:
- Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học hoặc các chất tiêu thụ oxy: thuộc
loại này có cacbohydrat, protein, chất béo, Đây là các chất gây ô nhiễm phổ
biến nhất.
- Các chất hữu cơ bền vững: polychlorophenol (PCP), polychlorobiphenyl
(PCB), các hydrocacbon đa vòng, Các chất này thường có trong nước thải
công nghiệp và các nguồn nước chảy tràn qua vùng nông nghiệp, lâm nghiệp có
sử dụng một lượng lớn thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật. Đây là các chất có
độc tính cao đối với con người và sinh vật.
193
- Các kim loại nặng: hầu hết các kim loại nặng đều có độc tính cao đối với
con người và các loài động vật. Các kim loại nặng thường có trong nước thải
công nghiệp là chì (Pb), thủy ngân (Hg), crôm (Cr), cadmi (Cd), asen (As),
mangan (Mn).
- Các chất vô cơ: nhiều ion vô cơ có nồng độ rất cao trong nước tự nhiên,
đặc biệt là nước biển.
- Dầu mỡ: là chất lỏng khó tan trong nước, gây tác động đến hầu hết các
loài thủy sinh do ngăn cản quá trình hô hấp, quang hợp và cung cấp chất dinh
dưỡng.
- Các chất phóng xạ: có khả năng gây tác hại nghiêm trọng đến con người
và sinh vật.
- Các sinh vật gây bệnh: bao gồm vi rút, vi khuẩn, giun sán. Nguồn nước ô
nhiễm do phân có thể có nhiều loại vi khuẩn, động vật đơn bào, và trứng giun

thông vận tải tăng nhanh. Khí thải từ giao thông vận tải là nguồn chủ yếu gây ô
nhiễm môi trường không khí ở đô thị, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,
Xây dựng đô thị, hạ tầng kỹ thuật: các hoạt động xây dựng đô thị như nhà
cửa, đường, cầu cống gây ô nhiễm bụi trầm trọng đối với môi trường không khí
xung quanh. Ngoài ra việc xây dựng các hạ tầng kỹ thuật như đường giao thông,
cầu cảng, sân bay cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường không khí.
Sinh hoạt của người dân: hoạt động của các hộ gia đình trong việc sử dụng
than, củi để đun nấu cũng góp phần làm ô nhiễm môi trường không khí.
Ngoài các nguyên nhân nêu trên, ô nhiễm môi trường không khí ở nước ta
còn do các nguyên nhân khác như cháy rừng, các nguồn ô nhiễm từ các quốc gia
khác,
* Quản lý và bảo vệ môi trường không khí
Các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường không khí tại các đô thị bao
gồm:
- Quản lý các nguồn thải tĩnh từ khu công nghiệp
- Tuyên truyền, giáo dục người dân về các tác hại của ô nhiễm môi trường
không khí để từ đó giảm lượng khí thải do quá trình đốt rác tự phát từ các hộ gia
đình.
- Kiểm soát các lò đốt rác thải, khí thải của các lò đốt rác cần được xử lý
trước khi thải ra môi trường xung quanh.
- Đối với phương tiện giao thông: ưu tiên phát triển giao thông công cộng,
hạn chế ô tô con cá nhân; quy định các khu vực hạn chế và cấm các ô tô hoạt
động; quản lý chất lượng nhiện liệu dùng cho phương tiện giao thông
- Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
1.2.3. Môi trường đất
* Nguyên nhân ô nhiễm môi trường đất
- Sử dụng phân bón hóa học: lượng phân bón trong nông nghiệp ngày càng
tăng cả về chủng loại và số lượng. Phân bón hoá học dùng trong nông nghiệp ở
Việt Nam gây sức ép tới môi trường nông nghiệp và nông thôn với ba lý do: sử

nông nghiệp.
* Các tác nhân gây ô nhiễm
- Ô nhiễm do tác nhân sinh học: sử dụng phân hữu cơ trong nông nghiệp
chưa qua xử lý chứa các mầm bệnh ký sinh trùng, vi khuẩn, gây ra các bệnh
truyền nhiễm từ đất cho cây trồng, sau đó sang người và động vật.
- Ô nhiễm do tác nhân hóa học: do chất thải từ các nguồn thải công nghiệp;
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật: phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,
- Ô nhiễm do tác nhân vật lý: chủ yếu là ô nhiễm nhiệt và phóng xạ.
* Quản lý và bảo vệ môi trường đất
Để phòng chống ô nhiễm đất trước hết cần phải đề ra các tiêu chuẩn chất
lượng môi trường đất, hạn chế tối đa việc sử dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu,
thuốc diệt cỏ. Sử dụng đất phải bảo vệ được đời sống vi sinh vật, thực vật và
động vật sống trong đất. Các bãi chôn lập chất thải rắn ở các đô thị và khu công
nghiệp cần phải được xem xét, lựa chọn, thiết kế và vận hành đúng theo tiêu
chuẩn, ngăn ngừa được sự rò rỉ chất thải, kiểm soát được các vấn đề gây ô
nhiễm môi trường.
1.2.4. Chất thải rắn
196
* Nguồn gốc phát sinh
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thị bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt);
- Từ các trung tâm thương mại;
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng;
- Từ các dịch vụ đô thị, sân bay;
- Từ các hoạt động công nghiệp;
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị;
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố.
Bảng 1: Nguồn phát sinh chất thải rắn đô thị
Nguồn phát
sinh

Khu nhà xây dựng mới,
sửa chữa nâng cấp mở
rộng đường phố, cao ốc,
san nền xây dựng.
Xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch
vỡ, bê tông, gỗ, ống dẫn…
Dịch vụ
công cộng
đô thị
Hoạt động dọn rác vệ
sinh đường phố, công
viên, khu vui chơi, giải
trí, bùn cống rãnh…
Rác, cành cây cắt tỉa, chất thải chung
tại các khu vui chơi, giải trí, bùn
cống rãnh…
Khu công
nghiệp
Công nghiệp xây dựng,
chế tạo, công nghiệp
nặng, nhẹ, lọc dầu, hoá
chất thải do quá trình chế biến công
nghiệp, phế liệu, và các rác thải sinh
hoạt.
197
Nguồn phát
sinh
Nơi phát sinh
Các dạng chất thải rắn
chất, nhiệt điện.

có thẩm quyền cấp phép. Nếu không có đủ năng lực, chủ nguồn thải chất thải
rắn nguy hại phải ký hợp đồng với tổ chức được cấp phép của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền về hoạt động thu gom, lưu giữ, vận chuyển chất thải rắn nguy hại.
Để xử lý chất thải rắn của đô thị, thông thường người ta thực hiện theo
trình tự như sau:
+ Thu gom, lưu trữ các chất thải đúng quy trình;
+ Phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn;
+ Các chất thải nguy hại phải có biện pháp kỹ thuật xử lý phù hợp, đúng
theo quy định hướng dẫn.
198
+ Sau cùng, những chất thải còn lại được mang đi chôn lấp tại các bãi chôn
lấp hợp vệ sinh.
2. Công tác quản lý và bảo vệ môi trường tại phường, thị trấn
2.1. Truyền thông môi trường
2.1.1. Phương pháp truyền thông môi trường
Truyền thông môi trường là một quá trình tương tác xã hội hai chiều nhằm
giúp những người có liên quan hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng và cách tác động vào các vấn đề có liên
quan một cách thích hợp để giải quyết các vấn đề về môi trường.
Trong việc bảo vệ môi trường ở cơ sở, công tác truyền thông môi trường
đóng vai trò quan trọng giúp người dân hiểu được tầm quan trọng của môi
trường đối với cuộc sống của cộng đồng dân cư.
- Các cách tiếp cận truyền thông môi trường
+ Tiếp cận cá nhân: là cách tiếp cận truyền thông dựa trên các quan hệ cá
nhân với nhau. Hình thức tiếp cận này bao gồm: đến nhà, đến cơ quan, gọi điện
thoại, gửi thư,…
+ Tiếp cận nhóm: cách tiếp cận dựa trên mối quan hệ đa dạng hơn giữa các cá
nhân với nhau trong một nhóm, giữa cá nhân với nhóm. Hình thức của cách tiếp
cận này gồm: tổ chức hội thảo, lớp học, học nhóm, tổ chức tham quan, khảo sát.
+ Tiếp cận truyền thông đại chúng: đây là cách tiếp cận được sử dụng phổ


Hnh 3: Truyền thông đa chiều
2.1.2. Mô hình truyền thông môi trường
2.1.2.1. Mô hình truyền thông
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các yếu tố thành công của các mô hình bảo
vệ môi trường có sự tham gia của cộng đồng đã nêu, có thể đề xuất những công
việc cần làm khi đã có quyết định xây dựng hoặc áp dụng mô hình:
* Xây dựng lực lượng nòng cốt
Mô hình bảo vệ môi trường của cộng đồng có thành công hay không phần
lớn được quyết định bởi khâu tổ chức con người. Cộng đồng không thể nói
chung chung mà phải có con người và do con người cụ thể tổ chức thực hiện.
Người đứng đầu các khu phố, cụm dân cư có uy tín trong cộng đồng, bỏi đó là
một người tích cực, hăng hái đi đầu trong mọi “việc làng, việc nước” nên được
dân tín nhiệm bầu lên. Khi dược dân giao việc, người này có thể huy động thêm
lực lượng nòng cốt là đại diện thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh
Người nhận
Thông điệp
Người gửi
Kênh truyền
Phản hồi
Người gửi
Kênh truyền
Người nhận
Nạp vào

đều nhằm xác định đúng vấn đề môi trường cần giải quyết tại cộng đồng.
Ở đô thị, các vấn đề môi trường bức xúc trong cộng đồng có thể là:
- Rác thải sinh hoạt, nước thải.
- Vệ sinh đường phố, khu dân cư, nơi công cộng.
- Cung cấp nước sạch.
- Quản lý cây xanh, vườn hoa, khu vui chơi giải trí v.v
Việc xác định tiêu chí của mô hình có ý nghĩa quan trọng. Tiêu chí là định
hướng cho việc tổ chức hoạt động và phát triển của mô hình, đồng thời là mục
tiêu về kết quả, hiệu quả mà mô hình phải đạt. Tiêu chí là cơ sở để đánh giá kết
quả cũng như hiệu quả hoạt động của mô hình trong từng thời kỳ nhất định.
Sau khi cộng đồng thống nhất vấn đề môi trường cấp bách, cần ưu tiên giải
quyết và tiêu chí thì tiến tới bước sau, là lựa chọn mô hình tổ chức thực hiện.
201
* Lựa chọn loại mô hình, dịch vụ
Việc lựa chọn mô hình phải căn cứ vào vấn đề môi trường đã được xác
định và đặc điểm riêng của cộng đồng về các mặt địa lý, sự phân bố các hộ dân
cư, mức sống, khả năng huy động nguồn lực tài chính, nhân lực v.v
Việc xác định những đặc điểm này có ý nghĩa quyết định đến việc lựa chọn
mô hình: Là tổ/đội hay hợp tác xã; hợp tác xã hay hợp tác xã cổ phần; công ty
TNHH hay công ty cổ phần v.v… Dịch vụ nào là hoạt động chính. Ví dụ, cung
cấp nước sạch; thu gom, vận chuyển rác thải; trồng, chăm sóc cây xanh …
* Xây dựng kế hoạch, quy chế hoạt động
Sau khi thống nhất được những nội dung cần thiết ở các bước 1, 3 và 4,
“Nhóm công tác” thay mặt cộng đồng xây dựng kế hoạch và quy chế hoạt động.
Trước hết phải soạn thảo văn bản mang tính “Pháp quy” quy định hoạt động của
mô hình. Văn bản này có thể là “Quy chế”, “Cam kết” hay “Quy định”. Trong
văn bản này phải nêu đầy đủ và cụ thể hình thức tổ chức mô hình, các nội dung
hoạt động (các vấn đề về môi trường), đảm bảo tài chính, nhân lực, hình thức
quản lý, chế độ tài chính, chế độ trách nhiệm của các bên liên quan, hình thức
khen thưởng, xử lý vi phạm, hiệu lực thi hành và các nội dung cần thiết khác,

chức, đảm bảo được các điều kiện về kinh phí, nhân lực, phương tiện, kế hoạch,
quy chế hoạt động v.v
* Kiểm tra, giám sát của cộng đồng, khen thưởng và xử lý các hành vi vi phạm
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch, chương trình đã được cộng
đồng thống nhất. Việc kiểm tra, giám sát không chỉ giới hạn trong hoạt động của
mô hình mà các cam kết từ phía các thành viên cộng đồng. Hình thức kiểm tra,
giám sát phải linh hoạt, tuỳ theo mức độ tổ chức của mô hình. Có thể tiến hành
việc kiểm tra, giám sát theo các hình thức như cộng đồng giám sát trên cơ sở các
cam kết thi hành của các thành viên; các nhóm tự quản giám sát hoạt động của
các thành viên trong nhóm và các nhóm khác. Kịp thời khen thưởng cá nhân,
nhóm có thành tích, nhưng phải cương quyết xử lý hành vi vi phạm, nhất là các
mô hình ở nông thôn, nơi tình nghĩa thường đặt lên hàng đầu.
* Đánh giá hoạt động của mô hình
Sau một thời gian hoạt động, có thể là 6 tháng, một năm, cộng đồng cần tổ
chức đánh giá hoạt động của mô hình theo các tiêu chí đã đề ra nhằm khắc phục
những khó khăn, tồn tại và quan trọng hơn là đề ra được hướng phát triển lâu dài
cho mô hình.
2.1.2.2. Các hoạt động truyền thông môi trường ở phường, thị trấn
- Tổ chức lễ lễ phát động:
+ Xác định nội dung Chương trình lễ phát động.
+ Xác định thành phần đại biểu
+ Xác định lực luợng tham gia lễ phát động.
+ Tổ chức rà soát, kiểm tra lần cuối toàn bộ phần chuẩn bị các nội dung của
chiến dịch:
Kiểm tra địa điểm tổ chức lễ phát động
Kiểm tra phương tiện, vật dụng: cuốc xẻng, găng tay, túi đựng rác,
Chuẩn bị phuơng án dự phòng trong tình huống trời mưa để chuyển địa
điểm vào hội trường nhà văn hoá, hoặc chuẩn bị ô dù, áo mưa );
Kiểm tra chuẩn bị phần trang trí lễ đài (banner, logo theo chủ đề, bục phát
biểu, thiết bị loa đài), treo biểu ngữ mang thông điệp theo chủ đề tại khu vực

địa phương cho cộng đồng gắn với việc nhắc nhở những hộ gia đình (sinh hoạt/
sản xuất) hay xả rác ra đường hay những hiện tuợng vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường trên địa bàn.
+ Lắng nghe, ghi chép phản ánh và giải đáp những vấn đề về môi trường
mà người dân quan tâm; đề xuất với lãnh đạo chính quyền, cơ quan có thẩm
quyền tìm biện pháp giải quyết.
+ Hướng dẫn, vận động người dân ở các khu phố, tuyến đường, xóm
hưởng ứng bảo vệ môi trường bằng những hoạt động đơn giản, giữ gìn vệ sinh,
bảo vệ môi trường trong nếp sống sinh hoạt và sản xuất.
+ Nêu quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ
môi trường (cụ thể mức xử phạt đối với mỗi hành vi) và biện pháp xử lý sau khi
đã nhắc nhở.
204
+ Khuyến khích cộng đồng góp ý, đưa ra các sáng kiến chăm sóc, bảo vệ
môi trường xung quanh nơi ở. Biểu dương, khen thưởng những cá nhân, hộ gia
đình khu dân cư gương mẫu và có thành tích bảo vệ môi trường.
Phát ấn phẩm tuyên truyền, tài liệu văn bản pháp luật về môi trường, về
nếp sống văn hoá - văn minh.
Tổ chức ký cam kết bảo vệ môi trường của các hộ gia đình, cơ sở sản xuất.
Lễ ký kết cần có đại diện lãnh đạo Đảng, chính quyền cơ sở và đại diện các cụm,
khu dân cư ký cam kết bảo vệ môi trường của từng hộ gia đình. Sau ký kết cần
phân công trách nhiệm giám sát tình hình thực hiện cam kết và báo cáo định kỳ
cho chính quyền cơ sở, tránh làm xong để đấy. Kết quả chiến dịch phải được
duy trì không chỉ trong chiến dịch mà phải trở thành việc thường xuyên đối với
mỗi cá nhân trong hộ gia đình.
- Câu lạc bộ môi trường là một trong những hình thức truyền thông môi
trường thu hút đối tượng là giới trẻ (cán bộ, học sinh, sinh viên) quan tâm các
vấn đề môi trường. Hoạt động của câu lạc bộ thường gồm:
+ Tổ chức thảo luận, toạ đàm, giao lưu với nội dung theo chủ đề.
+ Tổ chức văn nghệ, ca hát, trình diễn thời trang, kịch, tiểu phẩm môi

- Nội dung tranh chấp về môi trường gồm:
+ Tranh chấp về quyền, trách nhiệm bảo vệ môi trường trong khai thác, sử
dụng thành phần môi trường;
+ Tranh chấp về xác định nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi
trường;
+ Tranh chấp về trách nhiệm xử lý, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường.
- Các bên tranh chấp về môi trường gồm:
+ Tổ chức, cá nhân sử dụng thành phần môi trường có tranh chấp với nhau;
+ Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng các thành phần môi trường và tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm cải tạo, phục hồi khu vực môi trường bị ô nhiễm,
suy thoái, bồi thường thiệt hại về môi trường.
- Việc giải quyết tranh chấp về môi trường được thực hiện theo quy định
của pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự ngoài hợp đồng và quy định của
pháp luật có liên quan.
* Trách nhiệm của UBND phường, thị trấn trong việc giải quyết tranh
chấp môi trường.
- Hướng dẫn cho các tổ chức, cá nhân về quy trình và thẩm quyền tiếp nhận
đơn khiếu kiện về tranh chấp môi trường.
- Có trách nhiệm tiếp nhận đơn thư khiếu kiện kiên quan đến tranh chấp
bảo vệ môi trường trong phạm vi được phép giải quyết tranh chấp.
- Là cơ quan đại diện cho nhân dân khi giải quyết các tranh chấp, xung đột
về môi trường trong quá trình triển khai và thực hiện các dự án có sự tác động
đến môi trường. Nhằm đảm bảo quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của người
dân.
* Bất cập về mặt pháp lý trong giải quyết tranh chấp về bảo vệ môi trường
hiện nay tại phường thị trấn: Ủy ban nhân dân phường, thị trấn chỉ có thẩm
quyền hòa giải tranh chấp còn thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì tùy trường
hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân huyện hoặc cấp tỉnh. Tuy nhiên,
thành phần, thủ tục hòa giải và giá trị pháp lý của việc hòa giải chưa được pháp

bản và tự gọi đó là quy định, quy ước đều là không đúng, không phù hợp với
tính chất, đặc trưng và nguyên tắc xây dựng quy định, quy ước;
- Quy định, quy ước cũng là một loại văn bản quy phạm, có nghĩa là nó
cũng chứa đựng những nguyên tắc bắt buộc hoặc cho phép cá nhân, tổ chức
được làm hoặc không được làm một việc gì đó trong cuộc sống hàng ngày tại
địa phương, nhưng đấy là các quy phạm xã hội do cộng đồng dân cư thỏa thuận
đặt ra và cùng nhau thực hiện. Nghĩa là cộng đồng dân cư tự xây dựng các
nguyên tắc ứng xử trên cơ sở pháp luật và truyền thống, tập quán địa phương và
tự nguyện thực hiện các nguyên tắc đó. Đặc điểm này của quy phạm trong quy
định, quy ước khác hẳn với các quy phạm pháp luật trong các văn bản do Nhà
nước ban hành.
* Quy định về bảo vệ môi trường cần thể hiện được cụ thể các vấn đề sau:
+ Vệ sinh nơi ở và những khu vực chung: định kỳ vệ sinh chung, vệ sinh
đột xuất khi xuất hiện vấn đề ô nhiễm trên địa bàn
+ Phân loại rác thải tại nguồn
207
+ Thu gom rác thải
+ Quy định về xả nước thải
+ Vệ sinh môi trường trong hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng: vị trí được
phép đổ, xếp đặt vật liệu, cách thức bảo vệ môi trường khu vực sắp đặt vật liệu,
dọn dẹp vệ sinh môi trường sau xây dựng…
+ Sử dụng các sản phẩm dùng cho vật nuôi và cây trồng
+ Bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học
+ Khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên
+ Quy định về sản xuất và tiêu dùng bền vững
Quy định về bảo vệ môi trường cần được thảo luận thường xuyên. Trong
một số trường hợp, các địa phương sau khi phê duyệt quy định, trong quá trình
triển khai gặp phải một số vướng mắc nhất định nếu cần, phải thay đổi cho phù
hợp với những điều kiện cụ thể và phải được đưa ra cộng đồng dân cư thảo luận,
thống nhất và ban hành.

bộ, Trưởng Ban công tác mặt trận kèm theo biên bản thông qua tại Hội nghị.
Quy định, quy ước gửi lên Uỷ ban nhân dân huyện phê duyệt phải có Công
văn đề nghị của Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
huyện ra quyết định phê duyệt quy định ước, quy ước. Quy định ước, quy ước
đã được phê duyệt phải có dấu giáp lai.
Như vậy, về nguyên tắc, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện có thể ra quyết
định phê duyệt một hoặc nhiều quy định, quy ước.
Riêng đối với trường hợp sửa đổi, bổ sung từng quy định, quy ước cụ thể
thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện sẽ phải phê duyệt từng quy định, quy ước
sửa đổi, bổ sung đó.
* Thủ tục soạn thảo
Bước 1. Thành lập nhóm soạn thảo quy định về bảo vệ môi trường
Trưởng khu phố, cụm dân cư chủ trì cùng Bí thư Chi bộ, Trưởng Ban công
tác Mặt trận thống nhất các nội dung cơ bản cần soạn thảo, đồng thời chỉ định
các thành viên nhóm soạn thảo.
Thành viên nhóm soạn thảo là những người có uy tín và kinh nghiệm sống,
có trình độ văn hoá, hiểu biết về pháp luật và phong tục, tập quán ở địa phương,
có phẩm chất đạo đức tốt. Nhóm soạn thảo cần có sự tham gia của đại diện một
số cơ quan, tổ chức và đại diện của các thành phần trong cộng đồng dân cư như:
cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, các chức sắc tôn giáo, tổ trưởng tổ dân phố
những người khác có uy tín, trình độ trong cộng đồng. Ngoài ra, cần có sự tham
gia của chính quyền địa phương.
Trưởng khu phố chủ trì, phối hợp với Ban công tác Mặt trận, dưới sự lãnh
đạo của Chi bộ Đảng ở cơ sở chỉ đạo nhóm soạn thảo xây dựng quy định, quy
ước.
Tiến hành điều tra, nghiên cứu: Nhóm soạn thảo có trách nhiệm điều tra
nghiên cứu để nhìn nhận về hiện trạng môi trường trên địa bàn phường, thị trấn,
nắm bắt tình hình môi trường và những việc cần làm cũng như nguyện vọng của
cộng đồng trong hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương.
Bước 2: Họp với phường, thị trấn, tổ dân phố, cụm dân cư

+ Có những cản trở nào? Chi phí?
- Soạn thảo dự thảo quy định
Trên cơ sở ý kiến thu thập được, nhóm soạn thảo đưa ra bản dự thảo quy
định bảo vệ môi trường. Việc dự thảo quy định cần tập trung vào các vấn đề môi
trường của địa phương, xác định các ưu tiên và nguồn lực địa phương giải quyết
các vấn đề ở địa phương. Việc dự thảo cần tham khảo nội dung các quy định cũ
(nếu có) cũng như nội dung của các quy định của địa phương khác để lựa chọn,
kế thừa được những nội dung tích cực, phù hợp đã trở thành phong tục, tập quán
tốt đẹp.
Một bản quy định tốt cần phải đáp ứng các tiêu chí sau:
+ Mang tính hành động
+ Đề xuất được 1-2 hoạt động phong trào có tính định kỳ
+ Đơn giản, ngắn gọn, dễ nhớ.
210
Bước 4. Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư
vào dự thảo quy định
Dự thảo quy định được gửi đến cơ quan chính quyền, cấp uỷ, lãnh đạo các
tổ chức chính trị - xã hội ở phường, thị trấn; nếu điều kiện cho phép thì gửi đến
từng hộ gia đình để lấy ý kiến đóng góp.
Việc thảo luận đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện dự thảo quy định có thể
được tổ chức bằng các hình thức thích hợp như họp thảo luận ở tổ, đội sản xuất,
tổ dân phố, ngâ xóm, nhóm các hộ gia đình, họp thảo luận ở các tổ chức đoàn
thể ở thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư; niêm yết, phát trên đài truyền thanh, mở
hộp thư để thu thập ý kiến đóng góp.
Dự thảo quy định có thể được Hội đồng nhân dân hoặc Uỷ ban nhân dân
phường, thị trấn thảo luận, tham gia ý kiến nhưng không thông qua như một
nghị quyết của Hội đồng hoặc quyết định của Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn.
Bước 5. Thảo luận thông qua và phê duyệt quy định
- Thảo luận và thông qua quy định
Trên cơ sở những ý kiến đóng góp trên, Nhóm soạn thảo chỉnh lý, hoàn

Ngay khi quy định được chính thức thông qua, cần tổ chức một lễ ký cam
kết tại các tổ dân phố, cụm dân cư. Đây là một sự kiện quan trọng khi các hộ gia
đình chính thức cam kết thực hiện quy định về bảo vệ môi trường.
Mỗi hộ gia đình sẽ nhận và ký vào một bản sao của quy định như một sự
cam kết chính thức. Bản sao cần được treo trong từng gia đình.
Bước 7: Tổ chức thực hiện
Sau lễ ký kết, cần tiến hành ngay các nội dung theo quy định của bản quy
định. Các hoạt động này được triển khai từ các hộ gia đình đến các hội đoàn thể,
chính quyền địa phương.
Bước 8: Giám sát và đánh giá
Khu phố, tổ dân phố cần thành lập một ban giám sát việc thực hiện và tuân
thủ quy định. Ban này có thể đề xuất một số hoạt động cần thiết trong quá trình
triển khai. Ban giám sát gồm có lãnh đạo tổ dân phố và một số người dân đáng
tin cậy trong tổ. Đánh giá việc xây dựng và thực hiện quy định có thể sử dụng
những chỉ số sau:
+ Tỷ lệ % số người biết về quy định
+ Tỷ lệ % người có thể nêu ít nhất hai điều của quy định
+ Tỷ lệ % người cho rằng bảo vệ môi trường là quan trọng
+ Tỷ lệ % người nghĩ rằng quy định có thể góp phần bảo vệ môi trường và
cải thiện môi trường sống.
+ Tỷ lệ % người nghĩ rằng quy định đã có tác động tích cực đến bộ mặt của
thôn, bản, tổ dân phố
Hàng năm, cần tổ chức kiểm điểm việc thực hiện quy định. Trong trường
hợp cần sửa đổi, bổ sung thì do Hội nghị đại biểu hộ gia đình thảo luận. Việc
sửa đổi, bổ sung quy định cũng phải tuân theo trình tự, thủ tục như khi soạn thảo
quy định mới. Không được tuỳ tiện sửa đổi, bổ sung quy định sau khi đã được
phê duyệt.
* Trách nhiệm của UBND phường, thị trấn trong việc xây dựng và thực
hiện Quy định bảo vệ môi trường
- Trách nhiệm của UBND phường, thị trấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status