Các công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trường - Pdf 13

Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
Đặt vấn đề
Từ nhiều thập kỷ qua, con ngời đã nhận thức rằng môi trờng đóng vai
trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con ngời, sinh vật và sự phát triển
kinh tế, văn hoá- xã hội của đất nớc. Bởi vì môi trờng không chỉ cung cấp các
nguồn tài nguyên đầu vào cho sản xuất, tiện nghi sinh hoạt cho con ngời mà
còn là nơi chứa và hấp thụ chất thải do chính sản xuất và con ngời tạo ra.
Kinh nghiệm phát triển trên thế giới cho thấy rằng tăng trởng kinh tế
bao giờ cũng làm tăng sức ép và gây ra nguy cơ huỷ hoại môi trờng
(1)
. Vì
vậy mà môi trờng hiên nay đang là vấn đề nóng bỏng của mọi quốc gia dù đó
là quốc gia phát triển hay đang phát triển nh Việt Nam. Sự ô nhiễm môi tr-
ờng, suy thoái và những sự cố môi trờng diễn ra ngày càng ở mức độ cao,
đang đặt con ngời trớc sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên. Bảo vệ môi trờng
ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và
Nhà nớc ta. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nớc ta đang
can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức xã hội để bảo vệ
môi trờng, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trờng. Trong
những biện pháp, chính sách mà Nhà nớc ta sử dụng cũng nh nhiều nớc trên
thế giới, Nhà nớc ta đã áp dụng các công cụ hữu hiệu của mình trong đó công
cụ kinh tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá cũng nh hội nhập nền kinh tế
thế giới ở nớc ta diễn ra mạnh mẽ và kéo theo hàng loạt những thách thức về
môi trờng. Nh vậy các vấn đề về môi trờng sẽ ngày càng trở nên gay gắt và
phức tạp. Việc giải quyết, tổ chức sẽ không tránh khỏi những xung đột với
phát triển kinh tế- xã hội. áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ
môi trờng góp phần giải quyết những xung đột đó
(1)
Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ơng - Đổi mới quản lý kinh tế và môi trờng sinh thái - NXB
Chính Trị - Quốc Gia - Hà Nội 1997

Công cụ kinh tế là những phơng tiện chính sách nhằm thay đổi chi phí
và lợi ích của những hoạt động kinh tế thờng xuyên tác động đến môi trờng
(Tổ chức, cá nhân khai thác và sử dụng), tăng cờng ý thức trách nhiệm trớc
việc gây ra sự huỷ hoại môi trờng. Các doanh nghiệp (hoạt động sản xuất
kinh doanh) trong quá trình thờng phải chú ý tới hai vấn đề: Lợi ích kinh tế
và vấn đề bảo vệ môi trờng. Nh vậy thì ngoài phải chi phí cho những khoản
khác đơng nhiên họ phải mất một khoản tài chính nhất định chi phí cho bảo
vệ môi trờng. Điều này đã làm ảnh hởng đến lợi ích kinh tế của nhà doanh
nghiệp. Tại Điều 7- luật bảo vệ môi trờng đã quy định: Tổ chức cá nhân sử
dụng thành phần môi trờng vào mục đích sản xuất, kinh doanh trong trờng
hợp cần thiết phải đóng góp tài chính cho việc bảo vệ môi trờng, và cụ thể
tại Điều 8 Nghị định số 175- CP ngày 18/10/1994 quy định việc các tổ chức,
sản xuất kinh doanh có trách nhiệm đóng góp tài chính bảo vệ môi trờng và
bồi thờng thiệt hại do có hành vi gây tổn hại môi trờng.
Nh vậy việc áp dụng các công cụ kinh tế sẽ làm thay đổi chi phí và lợi
ích kinh tế và đơng nhiên điều đó đã tăng cờng ý thức trách nhiệm trong việc
bảo vệ môi trờng của doanh nghiệp.
Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trờng để đề ra các quyết định
nhằm đạt tới các mục tiêu môi trờng, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi
3
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
phí cho bảo vệ môi trờng. Do phải chi phí cho việc bảo vệ môi trờng nên đã
làm cho lợi ích kinh tế không cao. Vậy muốn đảm bảo đợc lợi ích kinh tế thì
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phải tăng giá thành sản phẩm và
chỉ có tăng giá thành sản phẩm thì mới đảm bảo đợc lợi ích kinh tế cũng nh
đáp ứng đợc vấn đề bảo vệ môi trờng.
Công cụ kinh tế đơn giản là con đờng mà chính phủ có thể thay đổi
hành vi ứng xử của mọi ngời thông qua việc lạ chọn những phơng thức kinh
tế khác nhau hoặc giảm thiểu chi phí trên thị trờng nhằm mục tiêu môi tr-
ờng

động bảo vệ môi trờng xuống. Nh trên đã phân tích các doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh thì để cấu thành sản phẩm- giá trị sản phẩm- thì ngoài tính
toán đến lợi ích kinh tế họ phải chú ý đến lợi ích môi trờng. Nghĩa là họ phải
có những chi phí nhất định trong việc bảo vệ môi trờng. Nh vậy để đảm bảo
đợc lợi ích kinh tế thì doanh nghiệp phải tăng giá thành tăng giá thành sản
phẩm. Nếu hành động tác động đến môi trờng của doanh nghiệp làm ô nhiễm
môi trờng càng nhiều thì chi phí cho bảo vệ môi trờng càng lớn, điều đó dẫn
đến giá thành sản phẩm cao. Ngợc lại hành động tác động tới môi trờng của
doanh nghiệp càng ít ảnh hởng tới môi trờng thì chi phí cho bảo vệ môi trờng
càng ít và giá thành sản phẩm không cao so với sản phẩm của doanh nghiệp
ảnh hởng xấu tới môi trờng.
Hai là: Công cụ kinh tế tạo khả năng lựa chọn cho các tổ chức và cá
nhân hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ. Nhà nớc sử dụng công
cụ kinh tế để áp dụng mức phí cần thiết tơng ứng với hành động cũng nh mức
độ tác động tới môi trờng của doanh nghiệp. Nghĩa là khi đảm bảo đủ điều
kiện về tiêu chuẩn môi trờng, đánh giá tác động của môi trờng thì doanh
nghiệp đợc phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nào và điều kiện kinh
doanh ra sao Phù hợp với lĩnh vực kinh doanh và điều kiện kinh doanh là
mức chi phí mà doanh nghiệp đó phải đóng góp cho việc bảo vệ môi trờng.
Rõ ràng sử dụng các cộng cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi trờng nhà
nớc ta đã tạo khả năng lựa chọn hành động kinh doanh khi mà doanh nghiệp
đó đảm bảo đợc tiêu chuẩn môi trờng và đánh giá tác động môi trờng.
Nh vậy cộng cụ kinh tế tơng phản với các quy định điều hành và kiểm
soát(CAC- a command- and- coutrol). Điều hành là việc đề ra các quy tắc
xử sự bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân theo. Kiểm soát là việc kiểm tra
5
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
những hành động phải tuân thủ và buộc phải chịu trách nhiệm về hành động
không đúng với những quy định đó. Đó là hai mặt của phơng tiện chính sách
điều hành và kiểm soát, đợc tiến hành thông qua những cơ chế ra lệnh cho

phí môi trờng. Chỉ có sức mạnh của pháp luật mới có thể yêu cầu và bắt buộc
họ trả tiền, nhng cho phép sự lựa chọn của họ chỉ dao động trong phạm vi
những giới hạn đã đợc xác lập.
1.2. Khái niệm về công cụ kinh tế.
"Công cụ kinh tế là một trong những phơng tiện chính sách đợc áp
dụng để đạt tới mục tiêu môi trờng thành công"
(1)

Công cụ kinh tế là việc Nhà nớc áp dụng các chính sách dựa trên cơ sở
lợi ích kinh tế của doanh nghiệp nhằm khuyến khích các hành vi thân thiện
với môi trờng.
2. Sự cần thiết của các công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ môi tr-
ờng.
Nền kinh tế phát triển ngày càng cao, điều đó dẫn tới sự ô nhiễm, suy
thoái và những sự cố môi trờng diễn ra ngày càng ở mức độ cao, đang đặt con
ngời trớc sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên. Đối với thế giới nói chung và
Việt nam nói riêng thì đây là vấn đề cấp bách cần giải quyết và có những
chính sách hữu hiệu cần thiết phải bảo vệ môi trờng cũng nh các nguồn tài
nguyên thiên nhiên.
Môi trờng có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con ngời, sinh
vật và sự phát triển kinh tế văn hoá, xã hội của đất nớc và của nhân loại. Bởi
vậy mà vấn đề bảo vệ môi trờng ngày nay đã trở thành một trong những
chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nớc ta. Bằng những biện pháp và
chính sách khác nhau Nhà nớc ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động
của cá nhân, tổ chức trong xã hội nhằm bảo vệ các yếu tố của môi trờng,
ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trờng. Trong những biện
pháp và chính sách đó, cũng nh nhiều nớc trên thế giới nhà nớc ta đã áp
(1)
Bộ Khoa học công nghệ và môi trờng - Cục Môi trờng - giới thiệu về các công cụ kinh tế và khả năng
áp dụng trong quản lý môi trờng ở Việt Nam

pháp luật hay cụ thể hơn đó là pháp luật về môi trờng. Với t cách là một hệ
thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con ngời, pháp luật môi tr-
8
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
ờng đóng vai trò to lớn trong việc quản lý và bảo vệ môi trờng. Pháp luật về
môi trờng đề ra các quy tắc xử sự mà mọi ngời phải tuân theo khi khai thác,
sử dụng các thành phần môi trờng. Ngoài ra pháp luật về môi trờng còn có
những quy định cấm tác động đến một số thành phần môi trờng Nó thể
hiện quan điểm của nhà nớc trong việc khuyến khích các chủ thể tham gia
quản lý và bảo vệ môi trờng. Pháp luật môi trờng cũng quy định chức năng
quyền hạn của các cơ quan quản lý và bảo vệ môi trờng. Pháp luật môi trờng
muốn thực thi và đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu các công cụ kinh tế tác
động đến. Bởi vì pháp luật môi trờng đơn thuần là các mệnh lệnh, kiểm tra
mà thôi. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự và buộc họ phải tuân theo,
đồng thời nếu đơn thuần chỉ dựa vào công cụ pháp luật thì cơ quan quản lý và
bảo vệ môi trờng cũng chỉ đến mức kiểm tra và khi các tổ chức cá nhân có
hành vi sai phạm thì cũng chỉ chịu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự hoặc
các hình thức khác. Nh vậy thì hậu quả môi trờng đã xảy ra rồi, công cụ kinh
tế chính là biện pháp phòng ngừa việc gây ô nhiễm môi trờng cũng nh suy
thoái môi trờng. Hơn nữa điều này nó bó buộc đối với các doanh nghiệp, các
doanh nghiệp buộc phải tuân theo các quy định đó. Nhng khi áp dụng các
công cụ kinh tế thì ngời gây ô nhiễm đợc lựa chọn mức độ tác động đến môi
trờng, tuy nhiên sự lựa chọn này phải nằm trong giới hạn mà các công cụ
kinh tế đã quy định. áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý và bảo vệ
môi trờng là tác động tới chi phí và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, đánh
vào kinh tế - tài chính thì các chủ thể mới tuân theo đúng tất cả các quy định
của pháp luật môi trờng. Rõ ràng để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình,
để đảm bảo tính khả thi của pháp luật môi trờng thì Nhà nớc ta không thể
không sử dụng các công cụ kinh tế.
ở Việt Nam, công cụ kinh tế nh một phơng tiện chính sách quản lý

hoạt, không tạo ra sự lựa chọn cho các chủ thể có hành động tác động tới môi
trờng, vì thế không tạo cơ hội cho các doanh nghiệp hoạt động. điều hành-
kiểm soát trở thành u tiên cao hơn phơng tiện chính sách thông qua giá cả.
Nh vậy một câu hỏi đặt ra là tại sao phơng tiện chính sách thông qua giá
cả lại có tính linh hoạt và mềm dẻo để cho mọi cá nhân, các doanh nghiệp có
10
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
thể hởng ứng giá mong muốn lại không đợc đa vào áp dụng, nh vậy công cụ
kinh tế đã đợc áp dụng chen lẫn công cụ pháp lý.
Khi nghiên cứu vấn đề là áp dụng các công cụ kinh tế trong những quy
định pháp lý (CAC) các nhà nghiên cứu đã rút ra đợc ba điều thuận lợi sau:
+ Tăng hiệu quả chi phí: Hệ thống công cụ kinh tế thờng đạt đợc với
thành công cùng với mục tiêu môi trờng nh là các quy định điều hành và
kiểm soát (CAC) nhng ở mức chi phí thấp hơn. áp dụng các công cụ kinh tế
sẽ chi phí thấp hơn trong công tác bảo vệ và quản lý môi trờng và đạt đợc
hiệu quả cao. Việc sử dụng giá cả và cung cấp tính linh hoạt trong việc ứng
phó với tín hiệu giá cả cho phép mọi ngời và các doanh nghiệp tìm kiếm chi
phí thấp nhất trong khả năng lựa chọn của họ, đảm bảo cho việc chi phí môi
trờng ở mức tối thiểu từ đó sẽ đảm bảo đợc lợi ích kinh tế của các doanh
nghiệp. Đây là điều thuận lợi đáng kể trong công tác quản lý và bảo vệ môi
trờng của các nhà quản lý cũng nh các chủ thể có hành động tác động đến
môi trờng.
+ Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới: áp dụng công cụ kinh tế
cơ quan quản lý không ra lệnh cho chiến lợc kiểm soát mà những ngời gây ô
nhiễm phải chịu trách nhiệm. Trớc khi có hành động tác động tới môi trờng
thì các chủ thể phải có trách nhiệm lập báo cáo đánh gía tác động môi trờng,
đặc biệt hơn là trong quá trình hoạt động sản xuất nếu cần đổi mới về một
lĩnh vực nào đó chẳng hạn nh thay đổi dây truyền công nghệ và có tác động
đến môi trờng cao hơn thì họ vẫn không phạm luật miễn là họ phải báo cáo
với cơ quan quản lý và bảo vệ môi trờng và đợc cơ quan này cho phép khi có

Các công cụ kinh tế tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với ngời gây ô nhiễm
vì rằng chúng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với những quy định có
tính pháp lý trong điều hành và kiểm soát
(1)
. Có thể ngời gây ô nhiễm phát
thải ở mức cao hơn nhng nằm trong khuôn khổ mà các công cụ
kinh tế cho phép, nh thế ngời gây ô nhiễm vẫn không vi phạm quy định điều
hành và kiểm soát. Đó là điều vô cùng thuận lợi đối với ngời gây ô nhiễm. Để
làm sáng tỏ hơn u điểm của các công cụ kinh tế ta hãy xem xét một số ví dụ
cụ thể:
(1)
Bộ khoc học công nghệ môi trờng - Cục Môi trờng giới thiệu về các công cụ kinh tế và khả năng áp
dụng trong quản lý môi trờng ở Việt Nam
(1)
PTS. Nguyễn Thế Chinh - AD các công cụ kinh tế để nâng cao năng lực quản lý môi trờng ở Hà Nội -
NXB Chính trị quốc gia - Hà Nội 1999
12
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
Giả sử có hai ngời làm phát thải một dạng làm ô nhiễm không khí. Một
ngời có thể giảm 10 tấn chất thải ở mức chi phí 2 triệu USD hoặc 20 tấn ở
mức chi phí 5 triệu USD. Nhng vì sự khác nhau của nhân tố công nghệ nên
ngời gây ô nhiễm thứ hai sẽ chi phí 5 triệu USD để giảm 10 tấn chất thải.
Nếu mục tiêu cần phải đạt là giảm 20 tấn chất thải thì mỗi ngời gây ô nhiễm
phải giảm 10 tấn. Tổng chi phí của cả hai ngời gây ô nhiễm là 7 triệu USD.
Cách tiếp cận này có tính phổ biến khi áp dụng cách điều hành và kiểm
soát theo quy định. Mục đích của việc giảm 20 tấn chất thải có thể đạt đợc
bằng việc chi phí 5 triệu USD nếu chỉ có ngời gây ô nhiễm thứ nhất giảm 20
tấn. Con đờng đạt tới chi phí thấp hơn này đối với 20 tấn chất thải chỉ có thể
có đợc nếu nh ta áp dụng công cụ kinh tế. Đây là một điều cực kỳ hợp lý bởi
khi có sự khác nhau về nhân tố công nghệ, điều đó cũng có nghĩa là lợng chất

nghiệp, chính phủ nớc ngoài đã ồ ạt đầu t vào Việt Nam với những hình thức
đầu t khác nhau, phơng thức sản xuất khác nhau. Điều đó đòi hỏi không thể
chỉ áp dụng một loại công cụ trong công tác quản lý và bảo vệ môi trờng mà
nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, chen lẫn nhau giữa các loại công cụ mà đặc
biệt là các công cụ kinh tế.
Các công cụ kinh tế bao gồm rất nhiều loại, kinh nghiệm của các nớc
đã chỉ ra rằng không thể chỉ áp dụng một loại biện pháp, một loại công cụ
giản đơn hoặc một vài biện pháp, một vài công cụ đơn lẻ nào đó là có thể
điều chỉnh đợc sự đa dạng về chủ thể cũng nh phơng thức sản xuất nhằm
quản lý và bảo vệ môi trờng. Rõ ràng phải có sự tiếp cận đợc chính sách đồng
bộ các loại công cụ kinh tế. ở đây do thời gian có hạn nên em chỉ nêu ra một
số loại công cụ cơ bản để phân biệt ranh giới giữa các loại công cụ kinh tế và
các phơng tiện khác của phơng tiện chính sách. Dựa vào sức mạnh thị trờng
hoặc đánh giá một số dạng đã áp dụng thành công trong quản lý và bảo vệ
môi trờng, các quốc gia đa ra 7 loại công cụ kinh tế cơ bản sau: Chính sách
tài trợ của nhà nớc; chính sách thuế; phí môi trờng; hệ thống đặt cọc- hoàn
trả; giấy phép chuyển nhợng; nhãn môi trờng; bảo hiểm môi giới, và ngoài ra
con có những cộng cụ khác cũng đã đợc nhà nớc ta áp dụng có hiệu quả.
2. Các loại công cụ kinh tế .
15
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
2.1. Chính sách tài trợ của Nhà nớc.
Tại Điều 3- Luật bảo vệ môi trờng (có hiệu lực ngày 10/1/1994) quy
định: Nhà n ớc có chính sách đầu t, khuyên khích và bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của tổ chức, cá nhân trong nớc, ngoài nớc, đầu t dới nhiều hình thức, áp
dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc bảo vệ môi trờng. Nh vậy, Nhà
nớc sẽ có chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân một khoản tiền dới
nhiều hình thức nh trợ giúp, cho vay với lãi suất u đãi, cấp không hoàn lại
nhằm khuyến khích giúp đỡ họ và làm thay đổi hành vi của họ, giúp họ hớng
tới hoặc lựa chọn những hành vi không có hoặc có hại ít hơn tới môi trờng.

hoạt động khai thác tài nguyên do ngời sử dụng tài nguyên đóng góp
(1)
. Từ
trớc đến nay, tình trạng khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên
nhiên ở nớc ta cũng nh ở các nớc khác trên thế giới rất phổ biến dẫn đến các
nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy thoái môi trờng. Trớc thực tế
trên, việc phát triển và cải tiến các loại thuế sử dụng, khai thác tài nguyên
thiên nhiên sẽ có vai trò cốt yếu nh một công cụ kinh tế hạn chế những nhu
cầu không quan trọng lắm và xác định mức tối đa khi sử dụng và khai thác tài
nguyên thiên nhiên, từ đó có cơ chế quản lý điều hành các hoạt động kỹ thuật
tài nguyên thiên nhiên trong khả năng tái tạo, đảm bảo và khuyến khích
những hoạt động hớng đến mục tiêu phát triển bền vững. Có nhiều cách tiếp
cận khác nhau để có thể phận định các loại thuế tài nguyên song áp dụng các
văn bản luật môi trờng thì cách tiếp cận theo đối tợng đánh thuế là thông
dụng. Theo cách tiếp cận này ta có một số loại thuế tài nguyên cơ bản sau:
+ Thuế sử dụng các nguồn nớc: Đây là loại thuế đánh vào các tổ chức,
cá nhân có hành động khai thác, sử dụng tài nguyên nớc. Tuy nhiên
tuỳ từng địa bàn với điều kiện kinh tế khác nhau mà mức thuế có thể khác
nhau, thậm chí đợc miễn giảm. Điều 7- Luật tài nguyên nớc (có hiệu lực từ
ngày 1/1/1999) quy định:
(1)
Ths. Nguyễn Văn Phơng - Trờng Đại học Luật Hà Nội - Tập tài liệu giảng dạy
17
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
1.Tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng tài nguyên nớc có nghĩa vụ tài
chính và đóng góp công sức kinh phí cho việc xây dựng các công trình bảo
vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nớc, phòng, chống và khắc phục hậu quả do
tài nguyên nớc gây ra.
2. Nhà nớc thực hiện chính sách miễn giảm thuế tài nguyên nớc, phí
tài nguyên nớc đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

trong trờng hợp cần thiết mà trờng hợp cần thiết là trờng hợp mà tổ chức, cá
nhân có hành động tác động đến môi trờng và gây ra ô nhiễm nhất định đã đ-
ợc dự liệu trong luật, và nh vậy nghĩa là tổ chức, cá nhân đó phải đóng thuế
môi trờng. Thuế môi trờng là khoản đóng góp của các thể nhân và pháp nhân
khi sử dụng thành phần môi trờng. Nh vậy trong trờng hợp này, thuế sử dụng
các thành phần môi trờng sẽ có xu hớng tăng thêm thu nhập cho ngân sách
quốc gia. Bên cạnh đó thuế sử dụng các thành phần môi trờng còn có mục
đích giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách tiết
kiêm và có hiệu quả, nhất là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo. Cũng nh
phí môi trờng, nếu dựa vào đối tợng đánh thuế thì thuế môi trờng bao gồm
các loại cơ bản sau:
+ Thuế ô nhiễm bầu không khí. Không khí là nguồn tài nguyên vô
cùng quan trọng và hết sức cần thiết, bởi vậy với bất cứ hành động nào tác
động làm ô nhiễm đến mức độ nhất định đối với môi trờng không khí thì có
trách nhiệm phải đóng góp thuế ô nhiễm bầu không khí. Kết quả khảo sát của
Bộ Khoa học Công nghệ Môi trờng cho thấy môi trờng không khí ở các khu
dân c trong cả nớc đang tiếp tục bị ô nhiễm, tuy nhiên với những mức độ
khác nhau, phổ biến là ô nhiễm do bụi. Do hoạt động của nhiều xí nghiệp
công nghiệp, tình trạng ô nhiễm không khí đặc biệt nghiêm trọng ở các khu
đô thị lớn và các khu công nghiệp tập trung, vợt nhiều lần so với tiêu chuẩn
cho phép. Do vấn đề phức tạp nh vậy nên Nhà nớc ta đã và đang xúc tiến
nhằm xây dựng những quy định về thuế bảo vệ môi trờng đối với những hành
động tác động làm ô nhiễm đến bầu không khí.
+ Thuế ô nhiễm nguồn nớc: Nớc là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là
thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trờng, quyết định sự tồn tại, phát
triển bền vững của đất nớc, mặt khác nó cũng có thể gây ra tai hoạ cho con
19
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
ngời và môi trờng. Bởi vậy mà nhà nớc ta có quy định chặt chẽ việc khai
thác, sử dụng và đặc biệt là những hành động tác động làm ô nhiễm nguồn

nhà sản xuất kinh doanh phải chi phí cho bảo vệ môi trờng trong đó có thuế
môi trờng bởi vì họ đã có hành vi gây ô nhiễm môi trờng (sử dụng thành
phần môi trờng). Nguyên tắc đánh thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết
chất phế thải và khắc phục ô nhiễm. Quy định việc đánh thuế nh thế đồng
nghĩa với việc Nhà nớc ta coi trọng tầm quan trọng của môi trờng, nhằm
giảm bớt những hành động tác động gây ô nhiễm môi trờng hoặc giảm mức
gây ô nhiễm môi trờng xuống. Nh vậy biện pháp đánh thuế môi trờng sẽ gây
sức ép buộc nhà sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu xuất sử dụng
nhiên liệu hoặc phải thay thế nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn, đặc biệt để giảm
mức gây ô nhiễm môi trờng nghĩa là chi phí cho môi trờng ít hơn thì các
doanh nghiệp phải áp dụng kỹ thuật chống ô nhiễm nh áp dụng kỹ thuật sử lý
chất thải ngay.
Do sử dụng thành phần môi trờng nên các tổ chức, cá nhân bắt buộc
phải nộp thuế, nó không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho ngời
sử dụng các thành phần môi trờng bởi vì mục đích của việc đánh thuế môi tr-
ờng là nhằm bảo vệ môi trờng, nhằm giữ cho môi trờng trong lành, phục vụ
sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nớc.
2.3. Phí môi trờng.
Từ kinh nghiệm của các nớc và thực tế ở Việt Nam trong những năm
qua thấy rằng muốn bảo vệ môi trờng một cách hiệu quả cần phải có
sự tiếp cận chính sách đồng bộ: Luật pháp, hành chính, giáo dục và đặc
biệt là kinh tế. Khía cạnh kinh tế của bảo vệ môi trờng- tức là áp dụng các
công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trờng đang đợc sử dụng rộng rãi ở nớc ta, và
đã có hiệu quả rõ rệt nhằm thay đổi hành vi môi trờng của các đối tợng gây ô
nhiễm. Ngoài ra phí bảo vệ môi trờng còn có mục đích khác là tạo thêm
nguồn thu cho ngân sách nhà nớc để đầu t, khắc phục cải thiện môi trờng.
Hiện nay nớc thải, khí thải và các loại chất thải rắn của các cơ sở sản xuất
kinh doanh, các nhà hàng dịch vụ, các hộ gia đình, các loại phơng tiện giao
thông đang là nguồn gây ô nhiễm chính môi trờng đất, nớc và không khí. Để
21

các tác nhân gây ô nhiễm giảm lợng chất gây ô nhiễm thải ra môi trờng, hớng
22
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
tới hành vi thân thiện, bảo vệ môi trờng của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn
tăng thêm nguồn thu nhập cho chính phủ để sử dụng vào việc cải thiện chất l-
ợng môi trờng.
Ví dụ: Có ba doanh nghiệp A, B, C đều xả khí thải vào môi trờng
không khí- phù hợp với năng lực sản xuất, phụ thuộc vào số lợng và chất lợng
khí thải mà các doanh nghiệp phải trả những khoản phí tơng ứng là 80 triệu
đồng/tháng; 50 triệu đồng/tháng và 30 triệu đồng/tháng. Từ đó chi phí cho
bảo vệ môi trờng của các doanh nghiệp là 2000 đồng/sản phẩm. Mức phí môi
trờng phải bảo đảm: Tổng chi phí cho đầu t và vận hành hệ thống xử lý khí
thải tính trên một sản phẩm thấp hơn chi phí cho một sản phẩm khi phải trả
phí môi trờng, cụ thể trong trờng hợp này là thấp hơn 2000 đồng/sản phẩm.
Để giảm chi phí, doanh nghiệp A đầu t hệ thống xử lý khí thải. Vì vậy doanh
nghiệp A sẽ lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh và các doanh nghiệp B và
C cũng sẽ tìm cách giảm lợng khí thải để không phải trả phí môi trờng. Từ
đó, lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và lợi ích
về môi trờng của cộng đồng cũng đợc đảm bảo. Do việc xác định một cách
đúng đắn mức phí môi trờng là rất quan trọng và khó khăn nên điều kiện để
áp dụng loại phí này là nguồn phát thải tĩnh tại, ít thay đổi và phải có hệ
thống kiểm tra hữu hiệu.
Tóm lại phí đánh vào nguồn ô nhiễm có thể đợc áp dụng đối với các tr-
ờng hợp sau:
- Nguồn thải ô nhiễm là tĩnh tại.
- Các tác nhân gây ô nhiễm có các chi phí giảm ô nhiễm cận biên khác.
- Có khả năng hình thành và duy trì hệ thống kiểm soát gây ô nhiễm.
- Có tác động làm các tác nhân gây ô nhiễm giảm mức ô nhiễm hoặc
thay đổi hành vi gây ô nhiễm của mình.
- Có tác động khuyến khích đổi mới công nghệ.

dụng có nguy cơ ảnh hởng lớn tới môi trờng
(1)
. Thông thờng với hàng hoá
nhập khẩu ngời ta sử dụng thuế môi trờng, với hàng sản xuất trong nớc, ngời
ta sử dụng hình thức phí đánh vào sản phẩm.
(1)
Tha. Nguyễn Vă Phơng - Trờng Đại học Luật Hà Nội - Tập bài giảng
24
Luận văn tốt nghiệp Hà Trọng Đại
Là loại phí đợc áp dụng đối với những loại sản phẩm gây tác hại tới
môi trờng một khi chúng đợc sử dụng trong quá trình sản xuất, tiều dùng hay
phế thải của chúng, cụ thể là những sản phẩm chứa chất độc hại mà với khối
lợng lớn nhất định, chúng sẽ gây tác hại tới môi trờng chẳng hạn nh các chất
kim loại nặng. Giống nh phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm vừa đề cập ở phần
trên, phí đánh vào sản phẩm nhằm hai mục đích là khuyến khích giảm ô
nhiễm bằng giảm việc sử dụng, tiêu dùng các sản phẩm bị đánh phí và mục
đích thứ hai là tăng nguồn thu cho Chính Phủ. Sở dĩ phải đánh phí đối với cc
sản phẩm gây tác hại đến môi trờng là để có nguồn tài chính xây dựng hệ
thống xử lý việc ô nhiễm của các sản phẩm gây tác hại tới môi trờng khi
chúng đợc sử dụng (trong sản xuất, tiêu dùng).
Mức thu phí do đó sẽ tuỳ thuộc vào mục tiêu đối với loại phí này là gì.
Đối với mục đích tăng nguồn thu cho Chính Phủ thì mức phí đợc xác định
da vào tổng mức thu dự định sẽ thu hàng năm và số sản phẩm sẽ đợc tiêu
thụ. Còn đối với mục đích khuyến khích giảm ô nhiễm thì mức thu phí đợc
xác định dựa vào các nhân tố nh: Độ co giãn về giá cả của đờng cầu sản
phẩm bị đánh phí, khả năng tồn tại sản phẩm thay thế ít gây ô nhiễm hơn và
mục tiêu muốn giảm lợng ô nhiễm.
Phí đánh vào sản phẩm có thể đợc sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm
môi trờng nếu vì lý do nào đó ngời ta không thể trực tiếp tính đợc phí đối với
các chất gây ô nhiễm, loại phí này có thể đánh vào sản phẩm nguyên liệu đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status