Tuyển chọn những bài văn nghị luận hay lớp 9 - Pdf 28

Suy nghĩ của bản thân khi nhìn những em bé
không nơi nương tựa
Thật tội nghiệp những đứa trẻ còn đang ở tuổi đến trường lại phải
nai lưng ra kiếm sống. Các em đã phải hứng lấy tất cả những bụi
bặm của cuộc đời. Hàng ngày phải đương đầu với biết bao khó
khăn của cuộc sống, phải đối diện với hầu hết những cặn bã của xã
hội, làm thế nào để các em có thể giữ gìn được sự trong sáng cho
tâm hồn mình.
Mỗi em đều có những hoàn cảnh sống riêng, có những con đường
riêng để rồi các em sớm gặp nhau trên đường đời. Khi những bạn
nhỏ như các em được cha mẹ nâng niu, chăm bẵm, lo lắng cho
từng bữa ăn giấc ngủ, được đến trường với những bộ quần áo mới
đắt tiền và được đưa đón thương yêu thì các em với đầu trần chấn
bươn bải trên khắp các con đường ngõ phố để kiếm sống. Để rồi
khi thì bị hắt hủi, khi bị đáng đuổi và cả những khi nhịn đói chịu
rét trên hè phố hay ghế đá công viên. Trước khi đến với đám bạn
nơi đường phố, chắc rằng nhiều em cũng có gia đình. Nhưng rồi
hoàn cảnh xô đẩy đã cướp đi của các em cha mẹ và gia đình. Có
em mất cha mất mẹ vì thiên tai lũ lụt, có em thì bỏ quê ra đi vì
nghèo quá. Nhưng cũng có em thì bỏ nhà đi bụi, nhưng số đáng
trách này không nhiều. Thương tâm nhất là những đứa trẻ vô thừa
nhận. Mẹ các em sinh ra các em rồi đang tâm vứt bỏ. Các em lớn
lên trong những trại trẻ mồ côi rồi phải tự ra đường kiếm sống.
Những đứa trẻ ấy ngay từ nhỏ đã phải chịu bao nhiêu thiệt thòi,
khổ cực. Các em không được vui chơi, không được đến trường. Đã
có lúc tôi vô tình được chứng kiến cảnh các em cùng nhau nô đùa
trong công viên. Bên cạnh đó la liệt những nón áo, hòm đánh giày,
báo, những túi đựng ni lông đồng nát. Các em vui đùa thật vô tư.
Nhưng nếu có khách gọi là chúng lại lao ra tranh nhau khách.
Nhũng nụ cười hồn nhiên vô tư lại được thay thế bằng vẻ mặt thật
khắc nghiệt. Tôi thương chúng vô cùng nhưng tôi chẳng có nhiều

đáng thương hơn mình. Khi trái tim con người còn biết rung động
với niềm vui và nỗi buồn của đồng loại, khi ấy cuộc sống vẫn thật
tuyệt vời. Những em nhỏ mồ côi kia rồi sẽ được cộng đồng yêu
thương, sẻ chia bất hạnh và cuộc sống của các em sẽ bớt nhọc nhằn
hơn.
Cảm xúc khi đứng trước cánh đồng lúa chín
Vừa bước xuống xe, tôi đã choáng ngợp trước cánh đồng. Nơi tôi
đứng nhìn thẳng ra cánh đồng lúa đang độ chín. Có lẽ đã bắt đầu
vào mùa thu hoạch. Cánh đồng lúa trải một màu vàng óng, trông
như một tấm thảm khổng lồ. Xa xa có mấy bác nông dân đang hối
hả gặt lúa, người bó, người gánh, người ôm. Có lẽ họ đều rất mệt
nhưng niềm vui vì có một vụ mùa thắng lợi đã biểu hiện rất rõ trên
những gương mặt hân hoan.
Cánh đồng lúa trải rộng trước măt mang đến cho tôi bao nhiêu cảm
xúc. Trong lúc chờ cậu tôi ra đón, tôi vào ngồi nghỉ ở một hàng
nước ven đường, dưới một gốc cây sĩ già rất lớn. Tôi thả hồn mình
cùng những làn gió nhẹ đưa trên tấm thảm vàng. Bông lúa trĩu
nặng se sẽ rung rinh nô đùa cùng gió. Năm nay được mùa lớn.
Nhìn những hạt lúa mẩy vàng tôi thầm nghĩ: không biết có bao
nhiêu giọt mồ hội rơi xuống thước đất kia, bao nhiêu trí tuệ của
con người dồn vào để rồi đất mẹ rút ruột mình ra tạo nên những hạt
thóc mẩy vàng. Tôi chợt nhớ đến câu ca dao:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Rẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
Ngày nay, khoa học kĩ thuật phát triển, người nông dân phần nào
đã được giải phóng sức lao động, nhưng những giọt mồ hôi ấy vẫn
rơi bởi thiếu bàn tay con người thì không thể có được bất cứ thứ gì
trên trái đất này. Cánh đồng lúa chín ấy là sự trả công xứng đáng

Thông tấn xã Việt Nam tại Hà Tĩnh nãm 1968. Con sông La trong
bài thơ - theo tác giả - được bắt nguồn từ hai con sông Ngàn Trươi
và Ngàn Phố chảy từ Trường. Sơn qua hai huyện Hương Khê vã
Hương Sơn gặp nhau tại cuối huyện Hương Sơn, trở thành ranh
giới tự nhiên của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Cuối dòng, sông
La hòa với sông Lam đổ ra biển.
Sông La nước trong xanh, hiền hòa quanh năm, hai bên sông là
xóm làng trù phú, yên bình đó cũng là khung cảnh chất chứa
nhiều sức gợi để khi viết, tác giả trào dâng cảm xúc:
Bè ta xuôi sông La
Dẻ cau cùng táu mật
Muồng đen và trai đất
Lứt chun rồi lút hoa
Không biết có phải vì tác giả đã cùng những bè gỗ ấy xuôi dòng
trong tâm trạng dạt dào cảm xúc mà lời thơ ở đây được cất lên như
lời hát với âm vực rộng mở, phóng túng, mênh mang đến thế! Câu
thơ đầu có hình thức như là một câu thông báo, nhưng lại được sắp
xếp bằng một chuỗi ngôn ngữ mang tính biểu cảm: Bè ta xuôi sông
La. Bắt đầu từ một điểm xuất phát: "Bè" rồi ý thơ như cũng "dời
chỗ" trôi theo, cùng những lâm sản quí. Có cảm giác các loại gỗ
được ken lại với nhau qua các từ nối "cùng", "vù", "rồi" kết thành
bè - để bắt đầu một hành trình hối hả về xuôi. Hãy cùng hành trình
với dòng sông:
Sông La ơi sông La trong veo như ánh mắt Bờ tre xanh im mát
mươn mướt đôi hàng mi Câu mở đầu khổ thơ thứ hai có dáng dấp
một tiếng gọi thiết tha, đồng thời cũng có dáng dấp một lời hát trữ
tình trước dòng sông thật dẹp: "Sông La ơi sông La". Đây là câu
thơ có tính chất "bắc cầu" cho việc chuyển giọng của bài thơ. Đang
giọng kể ở khổ thơ trước, đến đây lời thơ bỗng chuyển sang giọng
miêu tả một cách trìu mến. Nhìn ra dòng sông "trong veo như ánh

Trong đạn bom đổ nát Bừng tươi nụ ngói hồng Đồng vàng hoa lúa
trổ Khói nở xòa như bông.
Đó là những hình ảnh tươi tắn, rực rỡ sắc màu của một niềm mơ
ước, hình ảnh giàu chất suy tưởng về sức sống mãnh liệt của con
người và dân tộc Việt Nam.
Ta nằm nghe, nằm nghe Giữa bốn bề ngây ngất
Hai chữ "nằm nghe" được điệp lại diễn tả niềm hào sảng, say mê
chừng không dứt. Người đọc như cũng được cái cảm giác lâng
lâng xúc động tỏa sáng, như cũng được bay cùng những hình dung
về phía miền quê "bừng tươi nụ ngói hồng" thấm đẫm niềm tin và
hy vọng giữa những năm tháng oanh liệt khi xưa.
Đọc Bè xuôi sông La, còn có cảm giác được tắm mình trong tưởng
tượng trữ tình mươn mướt của cảnh sắc sông La, được khỏe khoắn
và lớn dậy trong hồn một tình yêu quê hương đất nước.
Nghị luận xã hội về mái ấm tình thương của trẻ em mồ côi
Tuy nhà nước ta đã rất cố gắng hết mình, nhưng không dễ gì có thể
xóa đi vấn nạn này một cách nhanh chóng được do nhà nước ta
không có đủ điều kiện. Vì thế trong xã hội đã xuất hiện một lực
lượng mới, một lực lượng cảm thông với tình trạng hiện nay của
các em, một lực lượng giàu tâm huyết và đầy tình thương,đó chính
là nhiều cá nhân, gia đình & tổ chức có lòng hảo tâm đã thu nhận
trẻ em cơ nhỡ, lang thang, kiếm sống trong thành phố, thị trấn về
những mái ấm tình thương để nuôi dạy,giúp các em học tập, rèn
luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
Số phận của những đứa trẻ lang thang, khác với các bạn bè cùng
trang lứa, lẽ ra giờ này chúng phải đang được yêu thương, được
nâng niu chăm sóc bởi gia đình, cha mẹ; thì giờ đây những đứa trẻ
ấy phải lang thang kiếm sống dưới những tiêu cực của xã hội,
những lừa lọc, áp bức, xâm hại tới bạn thân, mà quan trọng nhất là
xâm hại tới tinh thần, tới tư tưởng.Vì thế các mạnh thường quân,

Trong cuộc sống có kẻ xấu, người tốt, cũng như có những nhà hảo
tâm thì song song đó
cũng có những kẻ gian, lừa đảo, chăn dắt các em gọi là “mẹ
mìn”.Những người “mẹ” này đã lợi dụng các em, bóc lột sức lao
động của các em, bắt các em làm việc quá sức: xin ăn,bán vé số,
thậm chí là ăn cắp để kiếm tiền nuôi chúng.Nếu các em không
kiếm đủ tiền, thì bị “mẹ” đánh đập dã man, bắt các em nhịn đói.
Những kẻ nhẫn tâm hơn nữa thì đánh gãy tay, gãy chân, thậm chí
là chặt ngón tay, ngón chân của các em để việc ăn xin đạt “hiệu
quả” cao hơn. Những đứa trẻ bị lợi dụng chăn dắt thường xuất thân
ở các gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa, bị những kẻ chăn dắt
lường gạt đư vào TP.HCM làm việc kiếm tiền.Một thực trạng đau
lòng khác là nhiềuu vụ việc khi phát hiện, lại do chính cha, mẹ ruột
đẩy các em theo những kẻ chăn dắt để kiếm tiền. Như trường hợp
em Hoa (khỏang 6 tuổi) trên báo Phụ nữ,quê ở Nghệ An, mẹ bệnh
mất sớm từ lúc hai tuổi.Nhà có bốn chị em, thu nhập hàng ngày
trông vào hai công đất trồng sắn và công việc phụ hồ hàng ngày
của ba. “Khỏang giữa năm 2008, bác Năm ở TP.HCM ra quê đưa
nhà em ba triệu đồng bảo ba cho con vào TP.HCM phụ bác Năm
bán hàng.Bác sẽ cho ăn học đến nơi đến chốn. Khi vào TP.HCM,
bác Năm Bắt con gọi bằng “mẹ”.Khi đi bán phải mặc đồng phục
học sinh để người ta thấy tội nghiệp, mới bán được nhiều. Mỗi
ngày làm việc, “mẹ” sẽ giữ dùm 10.000đ, cuối năm sẽ đưa con gửi
về quê” – Hoa nói.Thật đáng xấu hổ khi một người lớn khỏe mạnh
lại sống bằng số tiền ít ỏi kiếm được của một đứa trẻ, mà không
biết tự lao động để nuôi sống bản thân, chỉ biết bóc lột sức lao
dộng của các em. Những kẻ có hành vi này cần phải bị xử phạt thật
nghiêm minh,để làm gương cho bọn xấu còn lại.
Việc làm của những nhà hảo tâm đối với các em lang thang thật là
tuyệt vời.Đó là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp mà xã hội đang rất

truyền thống của những phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.
4. Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là người phụ nữ nhan sắc,
đức hạnh. Chồng nàng là Trương Sinh phải đi lính sau khi cưới ít
lâu. Nàng ở nhà, một mình vừa nuôi con nhỏ vừa chăm sóc mẹ
chồng đau ốm rồi làm ma chu đáo khi bà mất. Trương Sinh trở về,
nghe lời con, nghi vợ thất tiết nên đánh đuổi đi. Vũ Nương uất ức
gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn, được thần Rùa Linh
Phi và các tiên nữ cứu. Sau đó Trương Sinh mới biết vợ bị oan. Ít
lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang, người cùng làng chết đuối
được Linh Phi cứu. Khi Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc hoa
vàng nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh
nghe theo, Vũ Nương ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ lời tạ từ
rồi biến mất.
5. Bố cục: 3 đoạn
- Đoạn 1:… của mình: Cuộc hôn nhân giữa Trương Sinh và Vũ
Nương, sự xa cách vì chiến tranh và phẩm hạnh của nàng trong
thời gian xa cách.
- Đoạn 2: … qua rồi: Nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ
Nương.
- Đoạn 3: Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa Vũ Nương và Phan
Lang trong đội Linh Phi. Vũ Nương được giải oan.
III. Giá trị nội dung của tác phẩm: (Giá trị hiện thực và giá trị
nhân đạo sâu sắc)
1. Giá trị hiện thực:
- Chuyện phản ánh hiện thực xã hội phong kiến bất công với chế
độ nam quyền, chà đạp số phận người phụ nữ (Đại diện là nhân vật
Trương Sinh).
- Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận phụ nữ: chịu
nhiều oan khuất và bế tắc.
- Phản ánh xã hội phong kiến với những cuộc chiến tranh phi nghĩa

phần sau câu chuyện mà nàng vẫn bảo đó là cha Đản. Cuối cùng,
Vũ Nương còn bộc lộ đức tính hiếu thảo của người con dâu, tận
tình chăm sóc mẹ chồng già yếu, ốm đau. Nàng lo chạy chữa thuốc
thangcho mẹ qua khỏi, thành tâm lễ bái thần phật, bởi yếu tố tâm
linh đối với người xưa là rất quan trọng. Nàng lúc nào cũng dịu
dàng, “lấy lời ngọt ngào khôn khéo, khuyên lơn”. Lời trăng trối
cuối cùng của bà mẹ chồng đã đánh giá cao công lao của Vũ
Nương đối với gia đình: “Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như
con đã chẳng phụ mẹ”. Thông thường, nhất là trong xã hội cũ, mối
quan hệ mẹ chồng – con dâu là mối quan hệ căng thẳng, phức tạp.
Nhưng trước người con dâu hết mực hiền thảo như Vũ Nương thì
bà mẹ Trương Sinh không thể không yêu mến. Khi bà mất, Vũ
Nương đã “hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như
đối với cha mẹ đẻ mình”. Có thể nói, cuộc đời Vũ Nương tuy ngắn
ngủi nhưng nàng đã làm tròn bổn phận của người phụ nữ: một
người vợ thuỷ chung, một người mẹ thương con, một người dâu
hiếu thảo. Ở bất kỳ một cương vị nào, nàng cũng làm rất hoàn hảo.
Cảnh 4: Khi bị chồng nghi oan, nàng đã tìm mọi cách để xoá bỏ
ngờ vực trong lòng Trương Sinh.

Trích đoạn nghĩa của chi tiết kỳ ảo
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status