TRƯỜNG PHÁI QUẢN TRỊ TRUYỀN THỐNG
Các tư tưởng quản trị được hình thành trên nền tảng của những tiến bộ khoa học,
những giá trị văn hóa-tinh thần cùng với những kinh nghiệm thực tiễn của các nhà
quản lý.
Bởi vậy, tư tưởng quản lý trong mỗi giai đoạn lịch sử, trong mỗi khu vực đều có
những sắc thái riêng biệt. .
Lý thuyết quản trị truyền thống có lẽ lâu đời nhất và được thừa nhận rộng rãi ở
phương Tây. Lý thuyết nầy được phân chia thành các hướng chính:
- Thuyết quản lý một cách khoa học
- Thuyết quản lý hành chính
- Thuyết quản lý kiểu quan liêu
Tất cả các lý thuyết trên ra đời vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20- đó là thời điểm
thịnh vượng của nền công nghiệp đại cơ khí và các kỹ sư là những người điều hành
doanh nghiệp. Những nhà quản lý nầy quan tâm đặc biệt đến 2 vấn đề:
- Nâng cao năng suất của những người thực hiện công việc
- Nâng cao hiệu quả của các tổ chức mà tại đó công việc đã được thực hiện
Họ đã chú ý đến việc tìm cách quản trị công việc và tổ chức sao cho có thể làm ra
được nhiều sản phẩm hơn với chi phí thấp hơn. Họ đã viết được rất nhiều tài liệu
quản lý mà đến ngày nay đã trở thành quan điểm kinh điển.
1- Thuyết quản lý theo khoa học
Quản trị theo khoa học là một hệ thống lý thuyết tập trung nghiên cứu mối
quan hệ giữa người công nhân và máy móc trong quy trình sản xuất.
Mục tiêu của những nhà quản lý theo trường phái nầy là thông qua những quan sát,
thử nghiệm trực tiếp trên công việc của người công nhân nhằm nâng cao năng
suất , hiệu quả, giảm sự lãng phí. Đó là quản lý công việc, đơn giản hoá công việc,
lập lịch tiến độ công tác và hiệu năng.
Học thuyết quản lý một cách khoa học gắn liền với tên tuổi của Frederick
Winslow Taylor(1856-1915) với tác phẩm nổi tiếng "Những nguyên tắc quản trị
một cách khoa học" xuất bản năm 1911 tại Mỹ.
Là kỹ sư cơ khí và ở cương vị người giám sát tại công ty thép Midvale ở
Philadelphia vào cuối những năm 1800, Taylor đã quan tâm đến những phương
Pháp -HENRY FAYOL (1841-1925) đã xuất bản cuốn sách "Quản trị công nghiệp
tổng quát” đề cập đến các nguyên tắc quản trị
Fayol cho rằng một nhà quản trị thành công chủ yếu dựa vào những phương pháp
quản lý mà người đó vận dụng hơn là những phẩm chất riêng của ông ta.Ông nhấn
mạnh rằng, để thành công các nhà quản trị cần hiểu rõ các chức năng quản trị cơ
bản như : hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát và áp dụng những nguyên tắc
quản trị nào đó.
Đồng thời Fayol còn nhấn mạnh đến cơ cấu của tổ chức và cho rằng để đạt được
mục tiêu của tổ chức thì cần phải xác định rõ ràng những công việc mà mỗi thành
viên của nó phải cố gắng hoàn thành.
Ông ta đã đưa ra 14 nguyên tắc quản trị và chỉ rõ rằng các nhà quản trị cần
được huấn luyện thích hợp để áp dụng những nguyên tắc nầy. Đó Là
- Phân công lao động: Công việc phải được phân chia rồi lại chia nhỏ nữa thành
những yếu tố nhỏ nhất có thể thực hiện được để tận dụng những lợi thế của việc
chuyên môn hóa, giúp người công nhân đạt được hiệu quả cao trong công việc.
- Sự tương ứng của quyền hạn và trách nhiệm: mỗi người làm việc cần được trao
quyền hạn đủ để thực hiện được trách nhiệm được giao.
- Kỉ luật: Những người công nhân phải tuân thủ bất kỳ thỏa thuận nào đã được xác
định rõ ràng giữa họ và tổ chức đó, những nhà quản lý phải xử phạt công minh mọi
trường hợp vi phạm kỷ luật.
- Thống nhất chỉ huy : Mỗi công nhân chỉ nhận mệnh lệnh từ một cấp trên để tránh
sự trái ngược giữa các mệnh lệnh và sự rối loạn trong tổ chức.
- Thống nhất chỉ đạo : những hoạt động, những nổ lực của tất cả các thành viên đều
phải hướng đến mục tiêu chung của tổ chức và chỉ do một nhà quản trị phối hợp và
điều hành để tránh sự mâu thuẫn giữa các chính sách và các thủ tục.
- Quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung : những quyền lợi của tổ chức
phải được ưu tiên hơn những quyền lợi của cá nhân.
- Trả thù lao thỏa đáng : tiền công phải căn cứ vào công việc đạt được theo những
mục tiêu đã đề ra.
- Tập trung hóa : Phải có một mức độ tập trung hợp lý để nhà quản trị kiểm soát
nhân của cả nhà quản trị lẫn công nhân.
- Tính khách quan
Sự trung thành với các nguyên tắc của tổ chức sẽ mang lại tính khách quan. Nghĩa
là, tất cả thành viên sẽ được đánh giá theo những nguyên tắc giống nhau như các
chỉ tiêu như doanh số bán ra hay tỉ lệ hoàn vốn đầu tư. Mặc dù vấn đề nầy cũng có
mặt trái của nó, song Weber cho rằng đặc điểm nầy đem lại sự công bằng bởi nó
không cho phép bất cứ người cấp trên nào để những thiên kiến cá nhân ảnh hưởng
đến việc đánh giá cấp dưới
- Phân công lao động
Là quá trình phân chia các nhiệm vụ thành những công việc đơn giản, cụ thể hơn
cho phép tổ chức có thể sử dụng, huấn luyện công việc và giao cho nhân viên thực
hiện một cách hiệu quả hơn. Cả nhà quản trị lẫn nhân viên cũng phải được (phân
công) giao việc và thực thi nhiệm vụ dựa trên sự chuyên môn hóa và năng lực cá
nhân. Những nhân viên không có kỹ năng có thể được giao những nhiệm vụ đơn
giản, dễ học, dễ thực hiện.
Do được phân chia nhỏ nên hầu hết mọi công việc đều có thể học một cách nhanh
chóng và chỉ cần những người lao động không có kỹ năng, vì vậy việc huấn luyện
nhân viên không được coi trọng.
- Hệ thống thứ bậc (cấu trúc thứ bậc)
Hầu hết mọi tổ chức đều có cấu trúc thứ bậc hình kim tự tháp. Hệ thống thứ bậc
nầy sắp xếp công việc theo mức độ của quyền lực và quyền hạn (quyền ra quyết
định) của mỗi cấp, chúng tăng theo mỗi cấp cao hơn cho đến cấp cao nhất. Mỗi vị
trí cấp dưới chịu sự điều khiển và kiểm soát của cấp cao hơn. Theo Weber, việc
xác định rõ hệ thống thứ bậc sẽ cho phép kiểm soát hành vi của các thành viên do
xác định rõ ràng vị trí của họ đối với các thành viên khác trong tổ chức.
- Cấu trúc quyền hạn
Mỗi hệ thống đều dựa trên những nguyên tắc, tính khách quan, sự phân công lao
động, một cấu trúc thứ bậc bị cột chặt bởi một cấu trúc quyền hạn. Cơ cấu nầy xác
định ai là người có quyền đưa ra các quyết định có tầm quan trọng khác nhau ở các
cấp khác nhau trong một tổ chức.
trong dài hạn nó lại mang lại những hạn chế. Con người không chỉ là những cỗ
máy mà họ còn có nhu cầu về đời sống xã hội, tình cảm. Khi chỉ thực hiện một
công việc trong một quá trình dài có thể mang lại sự ức chế và chán nản ảnh hưởng
tiêu cực tới hiệu quả công việc. Mặt khác, nó khiến công nhân mất đi tính sáng tạo,
lòng yêu công việc để nâng cao hiệu quả kinh tế.