Những giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta. Một nền
kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội
chủ nghĩa đã được thay thế cho nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vốn đã
không còn phù hợp với tình hình mới, mà còn kìm nén sự phát triển kinh tế của
nước ta trong nhiều năm. Để thích ứng với yêu cầu, điều kiện kinh doanh trong
môi trường mới đó, hệ thống ngân hàng cũng có những chuyển biến mạnh mẽ.
Từ hệ thống ngân hàng một cấp vừa quản lý, vừa kinh doanh, hệ thống ngân
hàng Việt Nam được tổ chức lại trở thành hệ thống ngân hàng hai cấp theo nghị
định 53/HĐBT, trong đó NHNN với chức năng quản lý Nhà Nước về mặt tiền tệ
và là ngân hàng của các ngân hàng, còn NHTM với tư cách là đơn vị kinh doanh
có chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với mục tiêu chủ yếu là
tối đa hoá lợi nhuận. Cùng với sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, hệ thống
NHTM Việt Nam đang bước những bước hội nhập và phát triển trong môi
trường mới.
Cũng như bất kỳ doanh nghiệp nào, Ngân hàng cũng tiến hành hoạt động
kinh doanh với mục tiêu hiệu quả kinh tế cao nhất với mức rủi ro thấp nhất. Tuy
nhiên, là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng
cũng có những hoạt động kinh doanh khác với các doanh nghiệp đơn thuần
khác. Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản và cũng là đặc
thù của NHTM bởi tín dụng ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền
kinh tế, là một trong những hoạt động chủ yếu nhất quyết định sự tồn tại và phát
triển của mỗi ngân hàng. Có thể nói mọi hoạt động kinh doanh đều có thể gặp
rủi ro, nhưng rủi ro phát sinh trong hoạt động ngân hàng nói chung hay trong
hoạt động tín dụng nói riêng còn nguy hiểm hơn nhiều lần các rủi ro khác. Hậu
quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống ngân hàng, làm khủng hoảng nền
kinh tế và nguy hiểm hơn, nó làm suy giảm lòng tin của người dân. Trên thực tế,
vụ đổ vỡ hàng loạt gần 500 quỹ tín dụng đô thị và hàng nghìn hợp tác xã tín
Website: Email : Tel : 0918.775.368

hành được trên thị trường, đồng thời thực hiện nghiệp vụ thanh toán hộ cho
người gửi tiền. Nghiệp vụ cho vay nảy sinh khi họ nhận thấy rất nhiều người có
nhu cầu về vốn để kinh doanh, do đó họ sử dụng chính số tiền này để cho vay
lấy lãi. Lợi nhuận cao đã kích thích những người thợ kim hoàn thay vì việc thu
phí giữ hộ tiền bằng việc trả lãi nhằm thu hút thêm nhiều tiền gửi. Sản xuất phát
triển, hàng hoá được tạo ra nhiều làm nảy sinh quan hệ trao đổi hàng hoá giữa
các vùng khác nhau nhưng lại bị cản trở bởi sự không đồng nhất giữa các đồng
tiền, những người thợ kim hoàn, hay những thương nhân làm nghề kinh doanh
tiền tệ mà C.Mác đã gọi là “ nhà tư bản thương nghiệp tiền tệ ” nắm bắt cơ hội
này, họ kiêm luôn cả việc đổi tiền. Khi tồn tại nghiệp vụ nhận tiền gửi, cho vay
và thanh toán hộ có thể nói ngân hàng thương mại đã ra đời.
2. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Khi nghiên cứu về ngân hàng thương mại các nhà kinh tế học có rất nhiều
quan điểm khác nhau, người thì cho rằng “ ngân hàng thương mại là tổ chức
nhận tiền gửi và cho vay tiền ”. Người khác lại nhận định ngân hàng thương mại
là một trung gian tài chính có giấy phép của chính phủ để vay tiền và mở tài
khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng thương mại được thành lập đầu tiên ở Việt Nam đó là ngân
hàng Đông Dương của Pháp vào giữa thế kỷ XIX để phục vụ cho giới thương
gia Pháp trên thị trường Việt Nam. Sau đó có thêm các ngân hàng bản xứ và các
ngân hàng nước ngoài của Trung Quốc , Anh....
Phải đến năm 1990 pháp lệnh ngân hàng nhà nước ra đời mới chính thức
phân chia hệ thống ngân hàng thành hai cấp là NHTW và NHTM. Từ đó khái
niệm ngân hàng thương mại hoạt động đa năng trên nhiều lĩnh vực đã ra đời.
Theo luật các tổ chức tín dụng được Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12- 12-1997 thì “ Tổ chức tín dụng là một tổ
chức hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cho vay cung ứng các dịch vụ thanh toán chi trả
hộ...”. Ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động

hàng và ngân hàng. Về nguyên tắc người gửi không được rút tiền trước thời hạn
( trừ trường hợp đặc biệt).
Nếu phân chia theo mục đích thì bao gồm tiền gửi phi giao dịch và tiền
gửi giao dịch.
- Tiền gửi giao dịch: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng
phục vụ mục tiêu thanh toán, họ có thể yêu cầu ngân hàng thanh toán và chi trả
cho họ bất cứ lúc nào. Khoản này có thể được trả lãi hay không tuỳ thuộc vào
quy định của ngân hàng.
- Tiền gửi phi giao dịch: bao gồm tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức kinh
tế, tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Mục tiêu chính của khách hàng là lợi nhuận nên
ngân hàng phải trả một khoản phí khá cao khi huy động loại này.
Trái phiếu cũng là một công cụ quan trọng trong huy động vốn của ngân
hàng. Chúng có thể là trái phiếu ngắn hạn hoặc dài hạn với tên gọi khác nhau
như tín phiếu ngân hàng, kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng.
Vay mượn từ NHTW hoặc từ các ngân hàng thương mại khác ( trong và
ngoài nước ) cũng là một cách thức quan trọng để huy động vốn hoặc trong các
trường hợp cần thiết.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Hoạt động sử dụng vốn
Huy động được vốn rồi, các NHTM cần phải sử dụng chúng một cách thật
hiệu quả sao cho có thể bù đắp những chi phí mà ngân hàng bỏ ra đồng thời tạo
ra được lợi nhuận.
- Một trong các hoạt động sử dụng vốn cơ bản của ngân hàng là hoạt
động ngân quỹ, để duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để đáp ứng nhu
cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Nguồn đảm bảo cho
hoạt động này là các khoản tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW ( đây là khoản
dự trữ bắt buộc do NHTW quy định dựa trên tỷ lệ % vốn huy
động ), tiền gửi ở ngân hàng khác và tiền mặt trong quá trình thu.
- Hướng cơ bản trong sử dụng vốn của ngân hàng là cho vay và đầu tư,
trong đó cho vay là quan trọng nhất. Có thể phân chia cho vay theo nhiều tiêu

nay hoạt động này càng ngày càng phát triển vì qua đó ngân hàng có thể nâng
cao thêm thu nhập, đồng thời củng cố thêm uy tín của mình với khách hàng.
- Dịch vụ thanh toán hộ:
Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng các
phương tiện thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụngnhằm
thực hiện thanh toán cho khách hàng.
- Dịch vụ mua bán hộ chứng khoán:
Do có uy tín nên ngân hàng thường tham gia bảo lãnh phát hành chứng
khoán cho các công ty cổ phần muốn huy động vốn, tư vấn đầu tư chứng khoán
cho khách hàng.
- Dịch vụ mua bán ngoại tệ.
- Dịch vụ uỷ thác, đại lý tài sản vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân
theo hợp đồng.
- Ngoài ra ngân hàng còn có các dịch vụ khác như bảo quản tài sản quý,
cho thuê két sắt, ở nước ta hiện nay hoạt động trung gian vẫn còn chưa phát triển
vì nền kinh tế còn phát triển chậm.
Tóm lại: Các hoạt động của một ngân hàng rất phong phú. Cùng với thời
gian, những hoạt động này càng ngày càng đa dạng để đáp ứng nhu cầu ngày
Website: Email : Tel : 0918.775.368
càng cao của khách hàng. Tuy vậy, trong các hoạt động của NHTM thì hoạt
động tín dụng vẫn là hoạt động quan trọng nhất, là hoạt động sinh lời chủ yếu,
quyết định kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tăng cường hoạt động tín dụng
cũng là phải đối phó với rủi ro nhiều hơn, bởi vậy các NHTM phải đề ra các
biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động của mình.
2.Vai trò của ngân hàng thương mại
Trải qua một thời gian dài tồn tại, ngân hàng thương mại đã ngày càng
chứng tỏ vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân. Cụ thể là ở
các mặt sau đây:
Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy
sản xuất và lưu thông hàng hoá

3.Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
3.1 Khái niệm về rủi ro
Khi tiến hành bất cứ một công việc gì thì con người đều chịu ảnh hưởng của
rất nhiều yếu tố từ môi trường xung quanh, do đó kết quả công việc không phải
chỉ phụ thuộc vào bản thân người đó. Những tác động này có thể là tác động tích
cực hoặc tiêu cực, nếu là tích cực, nó sẽ giúp đẩy nhanh tiến trình công việc, nếu
là tiêu cực, nó sẽ cản trở thậm chí phá hoại công việc. Trong trường hợp đó,
những yếu tố tiêu cực này được gọi là những rủi ro.
Có rất nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau, có nhiều định nghĩa về rủi ro của
các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh, tuy nhiên để thâu tóm một định nghĩa
chuẩn xác thế nào là rủi ro cho mọi môi trường kinh doanh cũng như mọi giai
đoạn phát triển lại là một việc khó. Nhưng nói chung, rủi ro là những biến cố
xảy ra ngoài ý muốn không dự tính trước gây ra những thiệt hại cho một công
việc cụ thể nào đó.
Rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ lĩnh vực nào, hoàn cảnh nào và cũng có
thể đến với bất kỳ ai. Tuy nhiên trong kinh doanh, có thể nói rủi ro là người bạn
đồng hành. Khi rủi ro xảy ra, hoạt động kinh doanh sẽ gặp những thiệt hại nhất
định, đôi khi là vô cùng lớn. Rủi ro phát sinh muôn mầu muôn vẻ, là hậu quả
của những nhân tố chủ quan và khách quan nhưng chủ yếu là rủi ro khách quan
ngoài dự đoán của doanh nghiệp. Rủi ro có thể phát sinh từ các nguyên nhân
Website: Email : Tel : 0918.775.368
như thiên tai, chiến tranh, năng lực sản xuất yếu kém, do sự thay đổi trong chính
sách nhà nước...Chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro ra khỏi môi trường
kinh doanh mà chỉ có thể nghiên cứu nó, nhận biết nó và phòng ngừa hạn chế nó
đến mức thấp nhất.
Chính bởi vì rủi ro là người bạn đồng hành của kinh doanh, bởi vậy mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc sẽ gặp
nhiều rủi ro hơn.Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro là một phạm trù tiềm ẩn có thể
xảy ra bất cứ lúc nào làm sai lệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trong
đó rủi ro tín dụng là đặc trưng tiêu biểu nhất, dễ xảy ra nhất trong hoạt động của

giảm trong khi lãi suất huy động vẵn giữ nguyên làm giảm thu nhập cho ngân
hàng. Hay nói cách khác, những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm chi phí cho
nguồn vốn cao hơn thu nhập từ sử dụng vốn khiến ngân hàng bị thiệt hại.
3.2.3 Rủi ro hối đoái
Các rủi ro trong giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại
tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Hiện nay ở
Việt Nam chưa có hình thức mua bán ngoại tệ theo tỷ giá hối đoái kỳ hạn nhưng
hình thức sơ khai của nó hiện nay là các khoản vay có kỳ hạn bằng ngoại tệ.
Ngân hàng quy định rằng: vay bằng ngoại tệ trả bằng ngoại tệ ( trừ trường hợp
được sự dồng ý của ngân hàng). Nếu nhu cầu vốn của nền kinh tế là ngoại tệ,
ngân hàng khi tiến hành cho vay phải thực hiện chuyển đổi từ nội tệ sang ngoại
tệ và khi khoản vay đến hạn, nếu do yêu cầu về việc bảo toàn vốn, ngân hàng
phải sử dụng mức tỷ giá hối đoái hiện thời, sự chênh lệch hoặc biến đổi giữa hai
tỷ giá này có thể gây ra những khoản thặng dư hoặc chênh lệch trong khối lượng
tiền ban đầu. Nếu đó là thâm hụt đó chính là rủi ro đối với ngân hàng.
3.2.4 Rủi ro mất khả năng thanh toán
Rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được
các nhu cầu thanh toán của mình và của khách hàng. Một số nguyên nhân dẫn
đến tình trạng này có thể là do ngân hàng không đủ số vốn cần thiết để đáp ứng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhu cầu chi trả và thanh toán như không đáp ứng đủ dự trữ bắt buộc, không đủ
ngân quỹ...Mặt khác, cũng có thể vì một lý do nào đó, khách hàng đến rút tiền ồ
ạt làm cho ngân hàng không đủ thanh toán ngay cho khách hàng.
Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trường vốn và thị
trường tiền tệ, bởi vậy nếu ngân hàng nào kém thì ngân hàng ấy càng khó huy
động được nguồn vốn dồi dào, phạm vi ngày càng thu hẹp. Bởi vậy, đứng trước
nguy cơ xảy ra rủi ro này, ngân hàng sẽ tiến hành nhiều biện pháp để có thể
ngăn chặn được nó.
3.2.5 Rủi ro về nguồn vốn
Không phải lúc nào việc huy động vốn cũng được tăng cường, trái lại nó có

tín dụng cũng phát sinh nhiều hơn. Vấn đề là ngân hàng chỉ được mở rộng hoạt
động tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng, có như vậy mới có thể
phòng ngừa rủi ro tín dụng và hạn chế hậu quả của nó đến mức thấp nhất.
1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau mà ta có các cách phân loại rủi ro tín dụng
khác nhau :
Phân loại rủi ro tín dụng theo thời gian của khoản cho vay:
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay ngắn hạn : là rủi ro đối với các
khoản tín dụng có thời gian dưới 12 tháng.
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn : thông thường
mức độ rủi ro tín dụng ở các khoản cho vay trung và dài hạn thường cao hơn
nguy cơ rủi ro tín dụng ở các khoản cho vay ngắn hạn. Bởi vậy, cho dù lãi suất
cho vay có hấp dẫn hơn nhưng các NHTM ở Việt nam hiện nay vẫn hạn chế mở
rộng hoạt động tín dụng với loại cho vay này.
Phân loại rủi ro tín dụng theo đối tượng cho vay:
- Rủi ro tín dụng đỗi với các khoản cho vay tài trợ tài sản lưu động : do vốn
lưu động có thời gian luân chuyển nhanh nên thường thường thời gian hoàn trả
khoản vay cũng nhanh, mức độ rủi ro tín dụng cũng thấp hơn.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay tài trợ tài sản cố định : mức độ
rủi ro tín dụng thường cao vì thời gian cho vay vốn dài, hao mòn hữu hình và
đặc biệt trong thời đại khoa học phát triển thì hao mòn vô hình của tài sản cố
định rất cao.
- Rủi ro tín dụng đỗi với tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu : mức độ rủi ro ít
khá cao trong trường hợp có chiến tranh, thiên tai xảy ra ảnh hưởng đến thời hạn
giao hàng, dẫn đến khách hàng không trả nợ ngân hàng đúng hạn. Ngoài ra,có
thể do thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch về bạn hàng dẫn đến tình trạng cố
tình lừa đảo.
Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân gây ra rủi ro
Thông thường các ngân hàng phân chia rủi ro tín dụng theo tiêu thức

tín dụng và hàng ngàn họp tác xã tín dụng nông thôn ở nước ta những năm
1989-1990, hay mới đây nhất là sự sụp đổ của hệ thống quỹ tín dụng ở Anbani.
Chính vì rủi ro tín dụng có thể gây hậu quả nghiêm trọng như vậy nên việc
phòng ngừa là một việc vô cùng cần thiết. Phòng ngừa rủi ro tín dụng không
những là vấn đề sống còn đối với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền
kinh tế, góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.
III. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và một số chỉ tiêu đo lường
rủi ro tín dụng.
1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.1 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
1.1.1 Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
Thực tế về hoạt động kinh doanh trong thời gian qua cho thấy rất nhiều
trường hợp rủi ro tín dụng xaỷ ra là do nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng.
Nó gây ra những hậu quả khôn lường cho các ngân hàng.
- Trước tiên phải xét tới nguyên nhân là do ngân hàng không tôn trọng đầy
đủ quy trình cho vay.
- Việc điều tra kiểm soát đối tượng vay vốn về phương án kinh doanh lúc
đầu không bảo đảm, thiếu cân nhắc dẫn đến sơ hở thiếu bảo đảm cho sự đầu tư
vốn có hiệu quả.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Việc cho vay tiến hành trong khi thông tin cần thiết không thu thập đầy
đủ, thiếu chính xác về hoạt động, mục đích vay của người vay dẫn tới việc đánh
giá sai năng lực hành tài chính và khả năng SXKD cuả người vay.
- Ngân hàng buông lỏng trong việc kiểm tra đôn đốc quá trình sử dụng vốn
vay và thu hồi vốn nên dẫn đến có nhiều khách hàng sử dụng vốn sai mục đích.
- Do trình độ của đội ngũ ngân hàng còn yếu kém và hơn thế nữa là do cán
bộ NH cố tình vi phạm quy định hoặc có hành vi lừa đảo gây thất thoát vốn
nghiêm trọng...
1.1.2 Nguyên nhân khách quan
Có rất nhiều nguyên nhân khách quan dẫn tới rủi ro tín dụng của NHTM,

công cụ điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong khi các DN đang vào thời kỳ
sản xuất, buộc các doanh nghiệp phải tính toán lại giá cả, chi phí đầu vào...gây
thiệt hại cho doanh nghiệp và gián tiếp gây thiệt hại cho ngân hàng.
- Do các hành vi gian lận trên thị trường, hàng giả tràn lan làm tổn hại tới
doanh thu của doanh nghiệp.
- Do rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn,cháy rừng...
1.3Các nguyên nhân khác
- Do sự biến động của nền kinh tế như : suy thoái kinh tế, sự không ổn định
của nền kinh tế, lạm phát gia tăng , biến động tỷ giá ảnh hưởng đến doanh
nghiệp cũng như ngân hàng.
- Do hành lang pháp lý chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, còn nhiều sơ hở dẫn tới
không kiểm soát hết được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của
khách hàng.
- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập
trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ ngân hàng.
- Sự điều khiển “ bàn tay vô hình ” của cơ chế thị trường. Ví dụ cạnh tranh
độc quyền.
- Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà Nước dành cho các NHTM khác
nhau.
- Chính sách Nhà Nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình
phát triển đất nước...
2.Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
RRTD là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng ta có thể nghiên cứu
để nhận biết nó, từ đó có thể đưa ra những biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn
chế rủi ro, giảm thiểu mức độ thiệt hại đến mức thấp. Muốn dự đoán rủi ro một
cách chính xác nhất thì ngân hàng cần phải đo lường được rủi ro. Đây là một
trong những phương pháp nghiên cứu mà ngân hàng nào cũng áp dụng vì nó có
ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh doanh. Đo lường rủi ro là cơ sở để

ngân hàng.
- Lãi treo
IV. Một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
1.Đánh giá và nhận định khách hàng
Mục đích của đánh giá và nhận định khách hàng để xác định và hiểu rõ
người vay trên nhiều mặt. Một số ngân hàng xếp loại khách hàng căn cứ theo
quan hệ tín dụng trước đây: người vay có trả đúng hạn gốc và lãi các lần vay
trước hay không, ngoài ra còn nhìn nhận và đánh giá qua phẩm chất đạo đức
trong kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túc trong
việc chấp hành các luật lệ của nhà nước. Thứ hai, đảm bảo nguyên tắc người vay
vốn phải có đủ năng lực pháp lý và năng lực tài chính để sử dụng tiền vay và
thực hiện các nghĩa vụ cam kết đối với các khoản vay. Ngoài ra , phải đảm bảo
nguyên tắc xây dựng được các phương án dự phòng trả nợ vay ngân hàng của
người vay.
2.Xem xét tính khả thi của phương án kinh doanh trước khi quyết
định cho vay.
Đây là một trong các quy tắc tín dụng mà ngân hàng nào cũng phải đảm bảo
thực hiện trước khi quyết định cho vay. Phương án khả thi là một trong những
yếu tố đảm bảo rằng khách hàng sản xuất kinh doanh có thể có hiệu quả hay
không, từ đó có khả năng hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng theo đúng thời hạn.
Hạn chế rủi ro tín dụng cũng đồng nghĩa với hạn chế, giảm thiểu rủi ro tổn thất
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Một khi người sản xuất kinh doanh không
có hiệu quả, sản phẩm sản xuất ra không ai tiêu thụ được, kinh doanh không có
lãi dẫn tới tình trạng mất vốn do thua lỗ sẽ là những nguyên nhân trực tiếp làm
cho các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn. Đó là lý do vì sao ngân
hàng phải xem xét kỹ lưỡng phương án sản xuất của người vay có hiệu quả hay
không, mục đích là để giảm thiểu rủi ro tín dụng.
3.Thực hiện phân tán rủi ro
Trong một số trường hợp, ngân hàng cần chủ động phân tán và hạn chế rủi

quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọn vẹn, người vay thực hiện đúng
cam kết vay tiền, ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn. Nâng cao chất lượng
tín dụng được thực hiện thông qua phân tích và đánh giá năng lực tài chính, khả
năng sản xuất kinh doanh của người vay để xem xét hiệu quả vốn tín dụng là đặc
biệt quan trọng để quyết định chất lượng vốn tín dụng.
CHƯƠNG II
Thực trạng rủi ro tín dụng tại Sở Giao Dịch Ngân Hàng Nông
Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn VN Từ Năm 1999-2001
I. Vài nét về Sở Giao Dịch Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam.
1. Sự hình thành và phát triển của Sở Giao Dịch NHNN&PTNT Việt
Nam
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (tên giao dịch
Bank For Agricultural and Rural Development in Viêt Nam) được thành lập vào
đầu năm 1988 trên cơ sở tách từ NHNN theo nghị quyết 3 – khoá VI của Ban
chấp hành TW, và nghị định ngày 26/3/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng về việc
chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán kinh doanh và hình thành ngân
hàng hai cấp. Sự ra đời của NH NN&PTNT Việt Nam đã đóng góp những thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quả nhất định đối với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và nền
kinh tế nói riêng.
Nhìn lại trong vòng 10 năm xây dựng và trưởng thành, có thể thấy những
thành tựu đáng tự hào trong hoạt động của NHN0 Việt Nam. Ban đầu, NHN0
vốn thuần tuý là hoạt động trong nước, chủ yếu là tín dụng truyền thống, tuy
nhiên ngay từ những ngày đầu Ban lãnh đạo đã nhận thức được rằng để tồn tại
và phát triển, phải mở rộng hoạt động ngân hàng đa năng, đồng thời không
ngừng đổi mới bộ máy tổ chức và mạng lưới kinh doanh. Bởi vậy, cùng với quá
trình đổi mới của đất nước, của toàn ngành ngân hàng, NHN0 đã góp phần đắc
lực thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của Đảng và Nhà Nước, thực thi chính
sách tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đát nước.

chuyển vốn nội, ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi trong toàn bộ hệ thống NH
NN&PTNT Việt Nam.
Kể từ ngày thành lập cho tới nay, Sở Giao Dịch luôn thực hiện chức năng
nhiệm vụ của mình với tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện nghiêm túc các quy
định của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam cũng như chấp hành nội dung luật
ngân hàng Nhà Nước và các Nghị định của Chính Phủ, các chủ trương, chế độ,
chính sách của toàn ngành ngân hàng. Để có thể tồn tại và phát triển trong môi
trường cạnh tranh hiện nay cũng như hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, Sở Giao
Dịch luôn tìm mọi cách để nâng cao chất lượng kinh doanh của mình cũng như
luôn củng cố đổi mới đội ngũ cán bộ, xây dựng chiến lược kinh doanh thích hợp.
Có thể nói những thành công đạt được của NH NN&PTNT Việt Nam có sự
đóng góp không nhỏ của Sở Giao Dịch.
2. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch
Khi mới hình thành, đội ngũ cán bộ nhân viên của Sở Giao Dịch gồm 35
người, tính đến 1/9/2001, số cán bộ nhân viên là 70 người , trong đó có 7 thạc
sỹ, 54 cử nhân và 9 người đã qua đào tạo hệ cao đẳng, trung học chuyên ngành
ngân hàng. Sở giao dịch có 6 phòng ban dưới sự chỉ đạo, điều hành của Ban
Giám Đốc gồm Giám đốc và 2 phó Giám đốc.
* Phòng kinh doanh.
Là nơi tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn thác tín dụng của Chính phủ cũng
như của các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư qua NH
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NN& PTNT, đồng thời thực hiện các dự án theo chỉ thị của Tổng giám đốc
NHNN. Ngoài ra, phòng còn tiến hành thẩm định các dự án tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu, bảo lãnh L/C trả chậm và tổ chức thực hiện thông tin, phòng ngừa và
xử lý rủi ro để tiến hành cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn bằng nội tệ và
ngoại tệ.
* Phòng kế hoạch – tổng hợp
Phòng tín dụng – tổng hợp có nhiệm vụ điều hoà vốn ngoại tệ trong toàn bộ
hệ thống NH NN&PTNT Việt Nam, đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện kế

cho kinh doanh đa năng bấy nhiêu.
3. Một số kết quả hoạt động kinh doanh của Sở Giao Dịch trong thời gian
vừa qua.
Mặc dù quy mô không lớn, thời gian thành lập chưa lâu lại phải đối
mặt với nhiều khó khăn như ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
Đông Nam á và thiên tai dồn dập trong năm 2000 ngay trong thời gian đầu mới
thành lập, Sở Giao Dịch đã cố gắng khắc phục để từng bước phát triển, khẳng
định vị trí quan trọng của mình trong đối với hệ thống Ngân hàng nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam.
2.1 Tình hình huy động vốn
Trong kết cấu nguồn vốn, vốn huy động được kết cấu từ nhiều khoản mục khác
nhau và được biểu diễn qua biểu đồ sau:
Biểu 1: Tình hình huy động vốn của Sở Giao Dịch
Đơn vị : tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 31/3/2002
Tổng nguồn vốn huy động 1.623 2.207 2.159
1. Phân theo nguồn vốn
- Tiền gửi dân cư 645 838 885
Tỷ trọng 39,72% 38% 41%
- Tiền gửi TCKT 978 1.369 1.274
Tỷ trọng 60,28% 62% 59%
2. Phân theo thời hạn
- Không kỳ hạn 372 1.018 976
Tỷ trọng 23% 46% 45,2%
- Kỳ hạn < 12 tháng 664 618 593
Tỷ trọng 41% 28% 27,5%
- Kỳ hạn > 12 tháng 578 572 590
Tỷ trọng 36% 26% 27,3%

Trích đoạn Đào tạo và bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, nâng cao phẩm chất của cán bộ tín dụng. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status