báo cáo tài chính , báo cáo kết quả kinh doanh - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Báo cáo tài chính doanh nghiệp luôn giữ một vai trò rất quan trọng trong
doanh nghiệp. Mọi thực trạng tài chính, kết quả kinh doanh, hoạt động của doanh
nghiệp đều được phản ánh trên hệ thống báo cáo tài chính, hay nói cách khác nó là
đại diện cho hiện thực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy mọi đối tượng
quan tâm tới doanh nghiệp đều tìm hiểu doanh nghiệp trước hết qua hệ thống báo cáo
tài chính. Nó có ý nghĩa to lớn không chỉ với cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài
doanh nghiệp mà nó còn có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bằng việc xem xét, phân tích báo cáo tài
chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả
năng sinh lãi và triển vọng của đơn vị. Do vậy báo cáo tài chính là mối quan tâm của
rất nhiều đối tượng khác nhau như Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà đầu tư,
các cổ đông, ngân hàng, các nhà bảo hiểm, các chủ nợ…kể cả các cơ quan chính phủ
và bản thân người lao động. Việt Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế của nước ta
đang hòa mình vào với sự phát triển chung của thế giới, đồng thời với đó là thị
trường chứng khoán đang phát triển rất nhanh và rất nóng, các công ty đều có xu
hướng cổ phần hóa và niêm yết trên thị trường chứng khoán, số lượng các cổ đông
cũng ngày một đông đảo. Việc minh bạch và công khai các báo cáo tài chính là một
yêu cầu bắt buộc với các doanh nghiệp. Vì vậy các báo cáo tài chính của doanh
nghiệp càng được nhiều đối tượng trong xã hội lưu tâm, để ý hơn. Mặt khác, báo cáo
tài chính chính là sản phẩm cuối cùng của bộ phận kế toán trong doanh nghiệp, đối
với mỗi người kế toán viên việc am hiểu và trình bày các báo cáo tài chính là vô cùng
quan trọng.
Trong mọi hệ thống báo cáo tài chính của các nước trên thế giới thì báo cáo
kết quả kinh doanh là một bộ phận không thể thiếu được, nó phản ánh kết quả hoạt
động trong kì của doanh nghiệp. Trong đề án này em xin được làm rõ một số vấn đề
về báo cáo kết quả kinh doanh và việc phân tích tình hình tài chính trong doanh
nghiệp .
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên bài viết sẽ không tránh khỏi những
sai sót. Em kính mong cô sẽ thông cảm và cho ý kiến để bài viết được hoàn thiện

động và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là tài liệu hữu ích đối với việc quản trị
doanh nghiệp và đồng thời cũng là nguồn thông tin tài chính chủ yếu cho các đối
tượng quan tâm ở bên ngoài doanh nghiệp .Bằng việc xem xét, phân tích báo cáo tài
chính , người sử dụng thông tin có thể đánh giá được sức mạng tài chính, khả năng
sinh lãi, triển vọng phát triển của doanh nghiệp . Cụ thể về một số vai trò cơ bản của
báo cáo tài chính như sau:
- Báo cáo tài chính cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết giúp cho
việc kiểm tra một cách toàn diện và có hệ thống tình hình sản xuất kinh doanh, tình
hình thực hiện các mục tiêu kinh tế tài chính chủ yếu của doanh nghiệp , tình hình
chấp hành các chế độ kinh tế tài chính của doanh nghiệp .
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho các chủ doanh nghiệp , Hội đồng
quản trị, Ban giám đốc…. về tiềm lực của doanh nghiệp , tình hình công nợ, tình hình
thu chi tài chính, khả năng tài chính, khả năng thanh toán, kết quả kinh doanh…để đề
ra các kế hoạch chiến lược trong kinh doanh, quyết định về những công việc phải
làm, phương pháp tiến hành, kế hoạch đầu tư mở rộng hay thu hẹp quy mô của một
bộ phận hoặc của toàn doanh nghiệp …
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, chủ nợ, các ngân
hàng, đại lí, các đối tác kinh doanh về thực trạng tài chính, sản xuất, kinh doanh, triển
vọng tăng trưởng, thu nhập, khả năng thanh toán, nhu cầu về vốn của doanh
nghiệp….để quyết định hướng đầu tư, quy mô đầu tư, quyết định có cho vay hay thu
hồi lại vốn, quyết định có liên doanh hay không…
- Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng, cơ quan quản
lí Nhà nước đế kiểm soát tình hình kinh doanh của đơn vị có đúng chính sách, đúng
chế độ luật pháp hay không, để ra những quyết định cho những vấn đề xã hội…..và
đặc biệt đó là cơ sở để xác định các khoản thuế phải nộp, nghĩa vụ của doanh nghiệp.
- Báo cáo tài chính cung cấp các chỉ tiêu, các số liệu làm tiền đề để tính ra các
chỉ tiêu kinh tế khác nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả của các quá trình
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp .

Website: Email : Tel : 0918.775.368
giống nhau. Vì vậy chuẩn mực này không đưa ra các mẫu chuẩn tuyệt đối mà chỉ đưa
ra các quy định chung, thiết lập khuôn khổ và trách nhiệm của việc trình bày các báo
cáo tài chính, hướng dẫn cấu trúc và yêu cầu nội dung tối thiểu trên các báo cáo tài
chính và được áp dụng cho tất cả các báo cáo tài chính trên cơ sở chuẩn mực kế toán
quốc tế.
Theo IAS I thì một hệ thống báo cáo tài chính đầy đủ gồm có:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo khác phản ánh tình hình thay đổi vốn chủ sở hữu, cụ thể là:
* Những thay đổi về vốn chủ sở hữu
* Những thay đổi của vốn chủ sở hữu ngoài các nghiệp vụ góp vốn và
phân chia cho chủ sở hữu.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Các chính sách kế toán và các thuyết minh khác.
Ngoài ra các đơn vị được khuyến khích trình bày thêm vào trong báo cáo tài
chính các thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan.
Các báo cáo tài chính được yêu cầu đầu tiên là trình bày trung thực tình trạng tài
chính, hoạt động tài chính và dòng tiền của một doanh nghiệp. Ngoài ra, một số yêu
cầu chủ yếu cần được bảo đảm tuân thủ khi trình bày báo cáo tài chính là :
- Tính kịp thời
- Tính khả dụng của các phương pháp được áp dụng.
- Nêu các chuẩn mực áp dụng trước kia
- Cơ sở cho việc lựa chọn một chính sách kế toán và cách thức trình bày các cơ
sở này.
- Quy tắc cho việc bù trừ tài sản và công nợ, bù trừ chi phí và doanh thu.
- Các chỉ tiêu mang tính so sánh.
Các nguyên tắc cơ bản phải tuân theo khi lập báo cáo tài chính là:
- Nguyên tắc hoạt động liên tục.
- Nguyên tắc nhất quán với năm trước

-Chi phí khấu hao tài sản hữu hình
-Chi phí hao mòn tài sản vô hình
-Chi phí cho nhân viên
 Cổ tức trả cho từng cổ phiếu được công bố hoặc dự tính
Bên cạnh hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp độc lập, hệ thống
chuẩn mực kế toán quốc tế còn có các chuẩn mực khác cũng đề cập đến hệ thống
báo cáo tài chính hoặc các yếu tố trong hệ thống báo cáo tài chính như IAS 27 : báo
cáo tài chính hợp nhất và kế toán hoạt động đầu tư vào công ty con, IAS 18 : doanh
thu, IAS 29 : báo cáo tài chính trong các nền kinh tế siêu lạm phát, IAS 27 : báo cáo
tài chính hợp nhất và thanh toán các khoản đầu tư vào công ty con, IAS 30 : nội dung
công bố trong báo cáo tài chính của các ngân hàng và tổ chức tín dụng tương tự, IAS
31 : báo cáo tài chính cho các khoản góp vốn trong liên doanh, IAS 34 : báo cáo tài
chính giữa kì.
III)Kinh nghiệm lập và sử dụng báo cáo tài chính nói chung và báo cáo kết
quả kinh doanh nói riêng của một số nước trên thế giới:
1) Mỹ:
Hệ thống báo cáo tài chính tại Mỹ bao gồm có:
 Báo cáo của quản lí
 Báo cáo của kiểm toán viên độc lập
 Các báo cáo cơ bản ( Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh,
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Báo cáo về sự thay đổi của vốn chủ sở hữu)
 Sự thảo luận của đội ngũ quản lí và phân tích tình hình kinh doanh, tình
hình tài chính.
 Thuyết minh báo cáo tài chính
 Báo cáo so sánh về tình hình kinh doanh trong 5 hoặc 10 năm
 Các dữ liệu theo quý khác.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khác với rất nhiều nước khác, kế toán của Mỹ không được quy định bởi luật
pháp mà được quy định bởi một số tổ chức kinh tế là “Hội đồng chuẩn mực kế toán

chỉ có tại Pháp. Và để có được các báo cáo tài chính đảm bảo yêu cầu trung thực thì
các báo cáo tài chính phải tuân thủ theo luật.
(Với báo cáo kết quả kinh doanh xem bảng phụ lục)
Khác với Việt Nam, các báo cáo tài chính của đa số các nước đặc biệt là các
nước phát triển đều yêu cầu bắt buộc phải có sự kiểm toán của các kiểm toán viên.
Việt Nam hiện nay đã gia nhập WTO , việc tuân theo các chuẩn mực kế toán quốc tế
và tiến gần hơn với hệ thống kế toán của các nước đang phát triển là một điều rất cần
thiết, chúng ta nên bổ sung báo cáo này trong hệ thống báo cáo tài chính trở thành
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
một báo cáo bắt buộc chứ không chỉ là báo cáo đính kèm của các công ty đã thực
hiện kiểm toán.
IV) Thực trạng báo cáo kết quả kinh doanh tại Việt Nam
1) Sự biến đổi của báo cáo kết quả kinh doanh theo các thời kì lịch sử:
Đất nước ta sau bao năm phải chiến tranh và chịu đô hộ nên nền kinh tế còn
nhiều lạc hậu so với các nước trên thế giới. Tuy nhiên trong từng giai đoạn phát triển
của nền kinh tế, hệ thống kế toán cũng đã phát triển từng bước và là công cụ phục vụ
đắc lực cho việc quản lí kinh tế, đáp ứng nhu cầu về thông tin cho các đối tượng sử
dụng. Đánh dấu cho sự ra đời của hệ thống báo cáo kế toán đó là Quyết định 223/CP
ban hành ngày 1/12/1970 của Hội đồng Chính phủ. Kể từ đó đến nay, hệ thống báo
cáo kế toán đã có nhiều những biến đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất
nước. Chỉ xét riêng trong giai đoạn từ sau đổi mới (từ sau năm 1986) đã có rất nhiều
các quyết định, các thông tư hướng dẫn về việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Cụ
thể như sau:
@Trong giai đoạn 10 năm sau đổi mới (từ năm 1987 đến năm 1996):
Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình đổi mới, cùng với việc xác định lại chức
năng của quản lí kinh tế của Nhà nước, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , Nhà nước đã ban hành đồng bộ
các chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng đổi mới, xóa bỏ bao cấp.
+Trên tinh thần chung đó, Bộ tài chính đã ban hành Chế độ báo cáo kế toán

toán doanh nghiệp cải cách theo cơ chế thị trường theo quyết định số 1206
QĐ/CĐKT ngày 14/12/1994 và thực hiện thí điểm ở một số đơn vị rồi tổng kết và
ban hành chính thức theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995, áp
dụng cho các doanh nghiệp (trong đó có chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp ).
Đây có thể được coi là một trong những cơ sở, nền tảng để xây dựng và hoàn thiện hệ
thống báo cáo tài chính sau này.
Theo quyết định này thì hệ thống báo cáo tài chính cũng bao gồm 4 biểu mẫu
là : Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B-01 DN), Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
(Mẫu B-02 DN), Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu B-03 DN) và Thuyết minh báo cáo tài
chính (Mẫu B-09 DN). Ngoài ra để phục vụ cho yêu cầu quản lí kinh tế, chỉ đạo điều
hành… các ngành, các công ty liên doanh, tập đoàn sản xuất… có thể quy định thêm
các báo cáo chi tiết khác. Trong quá trình áp dụng, nếu thấy cần thiết thì có thể sửa
đổi bổ sung hoặc chi tiết các chỉ tiêu cho phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh
của đơn vị nhưng phải được Bộ Tài chính chấp nhận. Báo cáo tài chính được lập và
gửi vào cuối mỗi quý và cuối mỗi niên độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính của
quý đó, niên độ đó. Các doanh nghiệp có thể lập báo cáo tài chính hàng tháng phục
vụ cho việc quản lí và điều hành.
Kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo quyết định 1141
TC/QĐ/CĐKT gồm có 2 phần:
*Phần I: phản ánh tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm hoạt
động kinh doanh và hoạt động khác. Tất cả các chỉ tiêu này đều trình bày kèm theo cả
số liệu ở kì trước, tổng số phát sinh trong kì báo cáo và số lũy kế từ đầu năm đến cuối
kì báo cáo, rất tiện lợi cho việc so sánh và phân tích số liệu của năm nay với các năm
trước. Phần này gồm các chỉ tiêu :
• Tổng doanh thu
• Các khoản giảm trừ
• Doanh thu thuần
• Giá vốn hàng bán
• Lợi tức gộp
• Chi phí bán hàng

còn đối với các loại hình doanh nghiệp khác (như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, công ty cổ phần, công ty TNHH….) báo cáo tài chính phải được lập và nộp
hàng năm. Số lượng các báo cáo tài chính bắt buộc phải lập và nộp cũng giống như
trong quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT.
Về báo cáo kết quả kinh doanh đã có sự thay đổi rõ rệt so với trước. Đó là việc
tách riêng phần thuế GTGT thành một phần mới. Cụ thể báo cáo kết quả kinh doanh
gồm 3 phần :
+Phần I: “Lãi, lỗ” : phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp,
bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác. Tất cả các chỉ tiêu đều được
trình bày : tổng số phát sinh trong kì báo cáo; số liệu của kì trước ( để so sánh) ; số
lũy kế từ đầu năm đến cuối kì báo cáo. Nhìn chung các chỉ tiêu trong phần này đều
tương tự như báo cáo kết quả kinh doanh ban hành theo quyết định
1141/TC/QĐ/CĐKT trước đây cả về nội dung, thứ tự sắp xếp.
+Phần II: “Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước” : phản ánh tình hình
thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế , phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác. Các
chỉ tiêu được trình bày: số còn phải nộp đầu kì, số đã nộp trong kì báo cáo, số phải
nộp lũy kế từ đầu năm và số lũy kế đã nộp từ đầu năm đến cuối kì báo cáo, số còn
phải nộp đến cuối kì báo cáo.
+Phần III: “Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT
hàng bán nội địa” : phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ, còn được
khấu trừ cuối kì; thuế GTGT được hoàn lại, đã hoàn lại, còn được hoàn lại cuối kì;
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thuế GTGT được giảm, đã giảm và còn được giảm cuối kì; thuế GTGT hàng bán nội
địa còn phải nộp đầu kì, thuế GTGT đầu ra phát sinh, thuế GTGT hàng bán nội địa đã
nộp vào Ngân sách nhà nước và còn phải nộp cuối kì. Phần này được chi tiết theo 4
mục:
• Thuế GTGT được khấu trừ
• Thuế GTGT được hoàn lại
• Thuế GTGT được giảm

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3)Yêu cầu và nguyên tắc lập và trình bày báo cáo kết quả kinh doanh theo quy
định hiện hành:
Báo cáo kết quả kinh doanh là một bộ phận quan trọng của hệ thống báo cáo tài
chính , khi lập báo cáo kết quả kinh doanh cần phải tuân thủ các yêu cầu và nguyên
tắc lập và trình bày báo cáo tài chính .
Theo chuẩn mực kế toán số 21 : “Trình bày báo cáo tài chính” thì việc lập và
trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các yêu cầu sau:
+ Trung thực và hợp lý; phản ánh chính xác tình hình tài chính và kết quả kinh
doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lí
thì hệ thống báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên nguyên tắc tuân thủ các
chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, các văn bản, quy định pháp luật hiện hành.
+ Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với qui định của từng
chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các
quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông tin đáng tin cậy,
khi:
- Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp;
- Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn
thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
- Trình bày khách quan, không thiên vị;
- Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
- Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
+ Mặt khác, báo cáo tài chính phải trình bày đầy đủ các thông tin kể cả các
chính sách kế toán nhằm cung cấp thông tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và
dễ hiểu kể cả các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ
để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của các giao dịch hoặc những sự kiện
cụ thể đến tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp .
Về nguyên tắc thì khi lập và trình bày báo cáo tài chính doanh nghiệp cần phải

việc trình bày báo cáo tài chính cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày
một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc một chuẩn mực kế toán khác
yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày.
Nguyên tắc này cũng cho phép doanh nghiệp có thể trình bày báo cáo tài chính
theo một cách khác khi mua sắm hoặc thanh lý lớn các tài sản, hoặc khi xem xét lại
cách trình bày báo cáo tài chính. Việc thay đổi cách trình bày báo cáo tài chính chỉ
được thực hiện khi cấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trong tương lai hoặc
nếu lợi ích của cách trình bày mới được xác định rõ ràng. Khi có thay đổi, thì doanh
nghiệp phải phân loại lại các thông tin mang tính so sánh sao cho bảo đảm tính so
sánh được, ngoài ra phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần
thuyết minh báo cáo tài chính.
 Nguyên tắc “trọng yếu và tập hợp” :
Khi trình bày báo cáo tài chính, một thông tin được coi là trọng yếu nếu không
trình bày hoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể
báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo
tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục được
đánh giá trong các tình huống cụ thể nếu các khoản mục này không được trình bày
riêng biệt. Tuỳ theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản
mục có thể là nhân tố quyết định tính trọng yếu. Ví dụ, các tài sản riêng lẻ có cùng
tính chất và chức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trị của khoản
mục là rất lớn hoặc có thể tài sản này là có giá trị lớn so với công ty này và là khoản
mục trọng yếu nhưng với công ty khác là có giá trị nhỏ thì không được coi là khoản
mục trọng yếu.
Nguyên tắc “trọng yếu và tập hợp” chỉ rõ từng khoản mục trọng yếu phải được
trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính. Các khoản mục không trọng yếu thì
không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính
chất hoặc chức năng trong báo cáo tài chính hoặc thuyết minh báo cáo tài chính. Tuy
nhiên, có những khoản mục không được coi là trọng yếu để có thể được trình bày
riêng biệt trên báo cáo tài chính, nhưng lại được coi là trọng yếu để phải trình bày
Website: Email : Tel : 0918.775.368

ngoại tệ
Các khoản mục được bù trừ được trình bày: Số lãi (hoặc lỗ thuần).
 Nguyên tắc “so sánh”:
Yêu cầu của nguyên tắc này đó là các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài
chính kì này phải đảm bảo so sánh được với các thông tin bằng số liệu trong báo cáo
tài chính của kỳ trước. Các thông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tin diễn
giải bằng lời nếu điều này là cần thiết giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được
báo cáo tài chính của kỳ hiện tại.
Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáo
tài chính, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực
hiện được) nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại, và phải trình bày tính
chất, số liệu và lý do việc phân loại lại. Nếu không thể thực hiện được việc phân loại
lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanh nghiệp cần phải nêu rõ lý do và
tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện.
Trường hợp không thể phân loại lại các thông tin mang tính so sánh để so sánh với kỳ
hiện tại, như trường hợp mà cách thức thu thập các số liệu trong các kỳ trước đây
không cho phép thực hiện việc phân loại lại để tạo ra những thông tin so sánh, thì
doanh nghiệp cần phải trình bày tính chất của các điều chỉnh lẽ ra cần phải thực hiện
đối với các thông tin số liệu mang tính so sánh.
Cụ thể đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm phải trình bày số liệu so sánh theo
từng chỉ tiêu tương ứng được lập cho kỳ kế toán năm trước gần nhất (Năm trước);
Website: Email : Tel : 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status