Nghiên cứu xây dựng quy trình phân tích và đánh giá mức độ ô nhiễm các hợp chất cơ clo mạch ngắn trong nước mặt trên địa bàn một số quận thuộc thành phố hà nội - Pdf 28

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
BYT Bộ Y tế.
CTPT Công thức phân tử.
ECD Detectơ cộng kết điện tử (Electron capture detector).
EPA Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ
FPD Detectơ quang hóa ngọn lửa (Flame photometric detector).
FID Detectơ ion hóa ngọn lửa (Flame ionization detector).
GC Sắc ký khí (Gas chromatography).
HPLC Sắc ký lỏng hiệu năng cao (High performance liquid
chromatography).
KIEST Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (Korea institute of
Environmental Science & Technology).
MS Khối phổ (Mass spectrometry).
OEHHA Cơ quan đánh giá nguy cơ sức khỏe Môi Trường (Office of
Environmental Health Harzar Assessment).
QCVN Quy chuẩn Việt Nam.
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam.
VOCs Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (Volatile organic compounds).
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization). DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ lưu chuyển các hợp chất cơ clo mạch ngắn trong môi trường 4

Hình 1.2. Cấu tạo dụng cụ kỹ thuật SMPE 14

Hình 1.3. Thiết bị sắc ký khí 17

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Một số tiêu chuẩn quy định về nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn
dễ bay hơi trong nước ăn uống 6

Bảng 1.2. Đề xuất tiêu chuẩn chất lượng nước mặt cho Moldova 7

Bảng 1.3. Tiêu chuẩn quy định về nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn dễ bay
hơi trong nước thải của KIEST 8

Bảng 1.4. Tiêu chuẩn quy định về nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn dễ bay
hơi trong nước xả thải ở Nhật Bản 9

Bảng 2.1. Phân mức rủi ro 31

Bảng 2.2. Nồng độ Diclometan trong các dung dịch chuẩn 33

Bảng 2.3. Nồng độ của chất chuẩn Triclometan trong các dung dịch chuẩn 34

Bảng 2.4. Nồng độ của chất chuẩn 1,2-Dicloetan trong các dung dịch chuẩn 34

Bảng 3.1. Đường ngoại chuẩn của Diclometan 37

Bảng 3.2. Đường ngoại chuẩn của Triclometan 37

Bảng 3.3. Đường ngoại chuẩn của 1,2-Dicloetan 38


Bảng 3.12. Rủi ro ung thư trong thời gian sống (10
-6
) gây ra bởi Diclometan,
Triclometan và 1,2-Dicloetan trong nước mặt sông Tô Lịch 51MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN 3

1.1.

Nguồn phát sinh của các hợp chất cơ clo mạch ngắn 3

1.2.

Ảnh hưởng của các hợp chất cơ clo mạch ngắn đến sức khỏe con
người 4

1.3.

Tiêu chuẩn, giới hạn cho phép của một số hợp chất cơ clo mạch ngắn
trong môi trường nước 6

1.4. Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm nước mặt do VOCs trên thế giới và ở
Việt Nam 10


2.2.1. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu 24

2.2.2. Phương pháp tách chất bằng kỹ thuật không gian hơi 25

2.2.3. Phương pháp sắc ký khí detectơ cộng kết điện tử 27

2.2.4. Phương pháp tính toán rủi ro và ngưỡng gây ung thư 30

2.3. Thực nghiệm 31

2.3.1. Dụng cụ và hóa chất 31

2.3.1.1. Dụng cụ 31

2.3.1.2. Hóa chất 32

2.3.2. Chuẩn bị các dung dịch hỗn hợp chuẩn và mẫu chuẩn 32

2.3.3. Phân tích mẫu thực tế 35

2.3.4. Tính rủi ro và ngưỡng gây ung thư 35

CHƯƠNG 3 36

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1. Xác định điều kiện phân tích các chất nghiên cứu bằng phương pháp
sắc ký khí 36

1

MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, ở Việt Nam hiện nay nước thải đô thị, bao gồm nước
thải từ các khu vực dân cư đô thị, từ các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công, nông
nghiệp và dịch vụ, từ các bệnh viện, trường học, các khu vui chơi giải trí, được
thải ra và đổ vào các ao, hồ, sông ngòi, Các thành phần chủ yếu trong trong nước
thải đô thị là các chất hữu cơ dễ phân hủy, các chất hữu cơ bền vững, các chất rắn,
các kim loại nặng, các chất vô cơ, dầu mỡ, các vi sinh vật,
Hà Nội, một thành phố có rất nhiều sông, hồ. Việc sử dụng các con sông
chảy trong thành phố để chứa và dẫn nước thải đã làm mất cảnh quan môi trường và
làm ô nhiễm nguồn nước. Việc phân tích xác định thành phần, hàm lượng các chất
gây ô nhiễm trong nước của các con sông này đã được thực hiện. Tuy nhiên, việc
phân tích xác định các dung môi hữu cơ chứa clo trong nước của các con sông này
chưa được quan tâm đúng mức. Trong đó có các chất cơ clo dễ bay hơi như:
Diclometan (CH
2
Cl
2
); Triclometan (CHCl
3
); Tricloetylen (C
2
HCl
3
); Tetracloetylen
(C
2

- Từ kết quả phân tích xác định mức độ ô nhiễm và tính toán đánh giá rủi ro
ung thư gây ra bởi các hợp chất cơ clo mạch ngắn đối với con người trong
vùng nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này gồm:
- Đưa ra được quy trình phân tích các hợp chất cơ clo mạch ngắn trong nước
mặt
- Xác định được nồng độ các chất nghiên cứu trong nước mặt tại các sông hồ
trên địa bàn một số quận thuộc thành phố Hà nội.
- Tính toán được rủi ro ung thư gây ra bởi các chất nghiên cứu từ kết quả phân
tích các mẫu nước mặt đã lấy được.
3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Nguồn phát sinh của các hợp chất cơ clo mạch ngắn
Sự có mặt của các chất cơ clo mạch ngắn trong môi trường không khí và
nước không chỉ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe con người theo cơ
chế đã nêu trên, mà còn có tác động trực tiếp tới hệ sinh thái trên trái đất. Sự có mặt
của các chất cơ clo như tetraclometan, tricloetan trong không khí là một trong
những nguyên nhân gây ra sự phá hủy tầng ozôn - một hiểm họa mang tính toàn cầu
hiện nay.
Cách đây khoảng hơn chục năm, một số nhà khoa học người Đức đã bỏ ra
nhiều công sức để nghiên cứu nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn, đặc biệt là
tetracloetylen và sự dịch chuyển, sự phân bố của chúng trong quyển đối lưu bằng

ồ l
Các ngu
ồn thải có chứ
sinh hoạt và nư
ớc thải công nghiệp nh
- Khu v
ực hoạt động th
- Ho
ạt động phân tích hóa học v
nghiệm của các c
ơ quan, trư
- Ho
ạt động của bệnh viện, c
- Cơ sở giặt khô, l
à hơi.
- Cơ sở sản xuất
sơn
1.2. Ảnh hư
ởng của các hợp chất c
Bên c
ạnh những ứng dụng to lớn của các hợp chất c
cũng đã ch
ỉ ra các mặt tác hại của các chất n
chúng ta ti
ếp xúc với những chất n
con người có thể sẽ b
ị mắc các chứng bệnh sau
4
ừ các khu công nghiệp hoặc do các kho hóa chất chôn cất d
ờng gặp

ởng của các hợp chất c
ơ clo m
ạch ngắn đến sức khỏe con ng
ạnh những ứng dụng to lớn của các hợp chất cơ clo các nhà khoa h
ỉ ra các mặt tác hại của các chất n
ày khi có m
ặt ở trong môi tr
ếp xúc với những chất n
ày
ở nồng độ cao hoặc tiếp xúc t
ị mắc các chứng bệnh sau
:
ừ các khu công nghiệp hoặc do các kho hóa chất chôn cất d
ưới đất không
ớc ngầm l
à tricloetylen,
ơ clo trong môi

ạch ngắn trong môi
ạch ngắn chủ yếu l
à từ nước thải

ệc sử dụng hóa chất trong ph
òng thí
ạch ngắn đến sức khỏe con ng
ười
ơ clo các nhà khoa h
ọc
ặt ở trong môi tr
ường. Khi

là nước dùng để nuôi thủy, hải sản thì thủy ngân và các hợp chất cơ clo mạch ngắn

6

dễ dàng phản ứng với nhau tạo thành metyl thủy ngân (CH
3
Hg
+
), metyl thủy ngân
có thể đi vào cơ thể thủy sinh vật, nó có thể được tích luỹ trong cơ thể chim, động
vật và các loài thuỷ sinh theo mức độ khác nhau. Theo chuỗi thức ăn con người có
thể bị nhiễm độc metyl thủy ngân dẫn đến quá trình phân lập thể nhiễm sắc, phá vỡ
thể nhiễm sắc và ngăn cản sự phân chia tế bào [8].
1.3. Tiêu chuẩn, giới hạn cho phép của một số hợp chất cơ clo mạch ngắn
trong môi trường nước
Hiện nay tồn tại một số tiêu chuẩn của các nước qui định về lượng chất cơ
clo mạch ngắn có mặt trong môi trường nước, trong đó có:
- Tiêu chuẩn về nồng độ các chất cơ clo dễ bay hơi trong nước ăn uống do Cơ
quan Bảo vệ Môi trường của Mỹ ban hành (USEPA)[15][16]
- Tiêu chuẩn về nồng độ các chất cơ clo dễ bay hơi trong nước ăn uống do Tổ
chức Y tế Thế giới ban hành (WHO)[1].
- Tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn, uống do Bộ Y tế Việt Nam ban hành (QCVN 01 :
2009/QCVN [9].
- Tiêu chuẩn chất lượng môi trường về nồng độ các chất cơ clo dễ bay hơi
trong nước ăn uống do Luật môi trường Nhật Bản ban hành (EQS)[12][13].
Trên cơ sở các tiêu chuẩn này nồng độ cho phép của Diclometan; 1, 2-
Dicloetan và Triclometan trong nước uống đã được đưa ra khá khác nhau, bảng 1.1.
Bảng 1.1. Một số tiêu chuẩn quy định về nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn dễ
bay hơi trong nước ăn uống
STT Tên chất CTPT

Cấp 1: Được coi là đạt tiêu chuẩn cao, không bị ảnh hưởng bởi hệ thống thủy
sản tự nhiên. Là vùng nước đạt tiêu chuẩn cho tất cả các mục đích sử dụng (cung
cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng các loài thủy sinh nhạy cảm, tắm…)
Cấp 2: Chất lượng nước đạt tiêu chuẩn hỗ trợ các mục đích sử dụng cấp 2
bao gồm các mục đích về thủy sản và hệ sinh thái. Và áp dụng phương pháp xử lý
đơn giản đủ để đạt tiêu chuẩn nước cấp sinh hoạt.
Cấp 3: Không đạt tiêu chuẩn để sử dụng với các mục đích như cấp nước sinh
hoạt, không nuôi được các sinh vật thủy sinh nhạy cảm như cá hồi và áp dụng
phương pháp xử lý chuyên sâu mới đủ đạt tiêu chuẩn thành nước cấp sinh hoạt. Đạt
yêu cầu cung cấp nước nuôi cá rô, lươn.
Cấp 4: Cần được xử lý nước bề mặt. Không đủ điều kiện để nuôi các loại cá
rô, lươn.
Cấp 5: Cần được xử lý. Không đạt yêu cầu sử dụng [13].
Bảng 1.2. Đề xuất tiêu chuẩn chất lượng nước mặt cho Moldova
Tên chất Nồng độ ở các cấp (mg/L)
Cấp 1 Cấp 2 Cấp 3 Cấp 4 Cấp 5
Diclometan 0,02 0,04 0,052 0,06 >0,06
1,2- Dicloetan 0,01 0,02 0,026 0,03 >0,03
Triclometan 0,0025 0,005 0,0065 0,0075 >0,0075
3 Triclometan CHCl
3
0,08 0,06 0,06 0,2

8

Tiêu chuẩn xả thải của nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn trong môi trường
nước ở một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản được xác định ở bảng 1.4 và bảng 1.4
[18].
Bảng 1.3. Tiêu chuẩn quy định về nồng độ các chất cơ clo mạch ngắn dễ bay hơi
trong nước thải của KIEST

Tên chất Giới hạn cho phép (ppb)
Diclometan 200
1,2 - Dicloetan 40

Theo như Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nước mặt của Nhật Bản thì nước
sông (hồ) được phân chia thành 6 cấp theo mục đích sử dụng và yêu cầu bảo tồn
môi trường nước sông, hồ. Đồng thời, tiêu chuẩn cũng quy định ngưỡng giới hạn
nồng độ hợp chất Triclometan trong môi trường nước mặt để bảo vệ các loài thủy
sinh vật.
Cấp AA: Nguồn nước cấp 1, nguồn nước tự nhiên cần được bảo tồn.
Cấp A: Nguồn nước cấp 2, phục vụ cho thủy sản loại 1(cá hồi, sinh vật thủy sinh
nhạy cảm) và tắm.
Cấp B: Nguồn nước cấp 3, phục vụ cho thủy sản loại 2 (cá rô, cá thịt trắng, lươn).
Cấp C: Nguồn nước phục vụ cho thủy sản cấp 3 và nguồn nước cấp 1 cho công
nghiệp.
Cấp D: Nguồn nước phục vụ cấp nước cho công nghiệp loại 2 và cung cấp cho
nông nghiệp.
Cấp E: Nguồn nước phục vụ cấp nước cho công nghiệp loại 3 và nguồn nước cần
phải xem xét định kỳ [12]. 10

1.4. Tổng quan về hiện trạng ô nhiễm nước mặt do VOCs trên thế giới và ở
Việt Nam
Dung môi được sử dụng ở khắp nơi trên Thế giới cũng như ở Việt Nam. Từ
thuốc đánh móng tay cho đến các ứng dụng trong ngành du hành vũ trụ và quân sự, từ
việc sản xuất các loại keo dính, chất nổ, mực in đến các ứng dụng trong nghề dệt thủ
công, trong việc sản xuất sơn, đĩa mềm dùng cho máy vi tính, băng hình, mạch in,…
đều thường xuyên sử dụng các loại dung môi. Trong phần lớn các trường hợp, dung

1.5. Các kỹ thuật thường được sử dụng tách chiết VOCs
Để phân tích các hợp chất này, trước hết phải tách chúng từ nước lên pha khí
hoặc vào dung môi hữu cơ, sau đó mới phân tích định tính và định lượng bằng sắc
ký sử dụng một số loại detectơ như ion hóa ngọn lửa, cộng kết điện tử hoặc khối
phổ.
Có nhiều kỹ thuật được sử dụng để tách chiết các VOCs khỏi mẫu nước như
kỹ thuật chiết lỏng - lỏng kỹ thuật dựa trên nguyên tắc phân bố VOCs giữa hai pha
lỏng – hơi, kỹ thuật chiết lỏng rắn, kỹ thuật sục khí và bẫy khí, kỹ thuật sục khí tuần
hoàn, kỹ thuật không gian hơi trực tiếp, kỹ thuật vi chiết pha rắn.
 Kỹ thuật chiết lỏng - lỏng
Với nguyên tắc chiết lỏng - lỏng cổ điển, các hợp chất VOC được chiết từ nước
lên dung môi hữu cơ sau đó được phân tích bằng phương pháp sắc ký khí. N – pentan
là dung môi thường dung nhất khi chiết các hợp chất VOC khỏi nước, ngoài ra người
ta còn sử dụng dietylete, hexan, diclometan hoặc hỗn hợp các dung môi.
Kỹ thuật chiết lỏng – lỏng đơn giản, không đòi hỏi các thiết bị đắt tiền, tuy vậy
tốn thời gian và cần dung lượng lớn dung môi có độ tinh khiết cao. Nền mẫu cũng ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả chiết. Đối với các hợp chất trihalogenmetan nếu sử dụng
kỹ thuật chiết lỏng – lỏng kết hợp với phân tích sắc kí khí, detectơ cộng kết điện tử
cho giới hạn phát hiện khoảng 0,5 – 2000 µg/L.
Tận dụng đặc điểm dễ bay hơi của VOC cần phân tích, các kỹ thuật xử lý mẫu
dựa trên phân bố của VOC giữa hai pha lỏng – hơi được sử dụng phổ biến nhất, đại

12

diện cho nhóm này là các kỹ thuật sục khí và bẫy lại, sục khí tuần hoàn và lấy mẫu
không gian hơi [6].
 Kỹ thuật sục và bẫy khí
Kỹ thuật sục khí và bẫy lại dựa trên nguyên tắc các chất hữu cơ dễ bay hơi hoặc
bay hơi bán phần được lôi cuốn theo dòng khí sục qua mẫu nước rồi bị giữ lại trên bẫy
chứa chất hấp phụ. Quá trình sục khí thường được thực hiện dưới áp suất khí quyển sử

khí tuần hoàn và hấp phụ hoàn thành (1 – 3 giờ), các chất hữu cơ hấp phụ trên than
được rửa giải bằng lượng nhỏ dung môi CS
2
(5 -20µL).
Ưu điểm chính của kỹ thuật này là độ nhạy cao, giảm được ảnh hưởng nhiễm
bẩn từ bên ngoài khi xử lý mẫu, nếu kết hợp với sắc ký khí khối phổ cho phép xác định
một số VOC với giới hạn phát hiện rất thấp cỡ 10 tới 0,1 ng/L. Kỹ thuật này cũng yêu
cầu một số thiết bị đặc dụng và gặp một số bất lợi như việc sục khí và tăng nhiệt độ
của mẫu sẽ kéo theo sự bay hơi nước, khi nước bị giữ lại trong bẫy than làm giảm hẳn
khả năng hấp phụ các chất hữu cơ và gây nhiễm bẩn bẫy do các thành phần hữu cơ
không bay hơi và các muối vô cơ [5].
 Kỹ thuật không gian hơi trực tiếp
Không gian hơi (headspase: HS) là một kỹ thuật chuẩn bị mẫu cho phân tích sắc
kí rất đơn giản và hiệu quả. Nguyên tắc của kỹ thuật này là dựa vào khả năng dễ bay
hơi của chất cần phân tích trong mẫu mẹ ban đầu. Hiệu quả của quá trình bay hơi được
tăng lên bằng việc gia nhiệt, thêm muối, thay đổi pH cho mẫu hoặc giảm áp trên phần
không gian hơi (KGH) mẫu.
Cách thức tiến hành: Một lượng mẫu vừa đủ (có thể là lỏng hoặc rắn) được cho
vào lọ có nắp kín. Tiến hành gia nhiệt để cho cân bằng lỏng - hơi hoặc rắn - hơi của
các chất được thiết lập, sau đó dùng kim tiêm lấy phần không gian hơi trên mẫu bơm
trực tiếp vào cổng bơm mẫu injectơ của máy sắc ký khí để tiến hành phân tích. Ưu
điểm của phương pháp là lượng mẫu sử dụng ít (cỡ vài mL), thao tác đơn giản, thời
gian chuẩn bị mẫu nhanh, không cần dung môi chiết và cột tách như các phương pháp
cổ điển. Tuy nhiên, hạn chế của kỹ thuật này là chỉ áp dụng tốt cho các chất có nhiệt
độ bay hơi thấp và tính chọn lọc không cao khi trong mẫu có nhiều chất đều có khả
năng bay hơi [4][8].
14

hơi cần phân tích được chứa trong lọ, đậy kín bằng nắp cao su có khả năng đàn hồi.
Ống bảo vệ kim loại đưa sợi chiết chứa pha tĩnh xuyên qua nút cao su đi vào bên trong
lọ đựng mẫu, sợi chiết tiếp xúc với chất phân tích trực tiếp trong dung dịch hoặc trong
không gian hơi, nhờ đó có thể hấp thu chất phân tích lên trên sợi chiết. Chất phân tích
được hấp thu lên lớp pha tĩnh theo ái lực của nó đối với pha tĩnh, để cho hấp thu đạt
cân bằng trong một thời gian nhất định. Khi đã đạt tới cân bằng thì cho dù có tiếp tục
kéo dài thời gian chiết cũng không làm tăng hiệu quả chiết nữa. Sau đó, sợi chiết được
kéo vào trong lòng ống bảo vệ, rồi rút ra khỏi lọ đựng mẫu, đưa vào bộ phận bơm mẫu
của thiết bị GC hoặc HPLC tuỳ theo nhóm chất cần phân tích. Tại đó các chất được
giải hấp nhờ nhiệt (với GC) hoặc nhờ dung môi (với HPLC) và được xác định cụ thể.
Phương pháp SPME có nhiều ưu điểm so với các phương pháp chiết tách truyền
thống khác là lượng mẫu đi nhanh, trực tiếp vào cột tách và không tốn kém dung môi.
So với phương pháp SPE thì phần lớn chất phân tích được tách ra (>90%) nhưng chỉ
một lượng nhỏ được bơm vào máy sắc kí, còn phương pháp SPME tuy tách được
lượng nhỏ chất phân tích nhưng toàn bộ chúng được đưa vào máy sắc kí, tránh được sự
dư thừa chất. Tuy nhiên một điều đáng lưu ý là sợi vi chiết rất dễ bị bẻ cong hoặc bị
gãy nên cần phải hết sức cẩn thận khi tiến hành phân tích [3][5].
1.6. Phương pháp phân tích sắc kí khí
1.6.1. Nguyên tắc chung của phương pháp sắc kí khí
Hệ thống chung của một thiết bị sắc kí khí bao gồm các bộ phận chính là khí
mang (pha động), cổng bơm mẫu (injectơ), cột tách và Detectơ.
Nguyên tắc hoạt động là dòng khí mang được cấp liên tục từ bộ phận cấp khí,
qua cổng bơm mẫu, tại đây mẫu được bơm vào dưới dạng lỏng hoặc khí, nhờ nhiệt
độ cao, các chất đều được hoá hơi và dòng khí mang đưa toàn bộ mẫu hoặc một
phần đi vào cột tách. Tại cột tách, nhờ lực tương tác khác nhau của các pha tĩnh

16

trong thành cột (với cột mao quản) và các hạt pha tĩnh (với cột nhồi), mà các chất ra
khỏi cột đến Detectơ với những khoảng thời gian khác nhau. Tại Detectơ, mỗi chất

hình trụ đặt ở vị trí cao hơn đầu ống muống 0,5-1,0cm). Thế này hạ thấp điện trở
giữa hai điện cực và gây ra một dòng (~10
-12
A) để lưu thông. Dòng này xuất hiện từ
các ion và các electron tự do được sinh ra trong ngọn lửa hiđro-không khí tinh khiết.
Khi chất có khả năng ion hoá (như hiđrocacbon) rửa ra từ cột đi vào ngọn lửa nhờ
nhiệt độ cao nó bị bẻ gẫy mạch, bị oxi hoá nhờ oxi của không khí.

Các ion được tạo thành chuyển về các bản điện cực trái dấu nằm ở hai phía
ngọn lửa (thế hiệu giữa hai bản điện cực này khoảng 300-400V). Dòng này được
chạy qua điện trở nội, được đánh giá như là sự sụt thế, được khuếch đại và cuối
cùng được chuyển đến máy ghi hoặc máy vi tính. Một thế đối diện cũng bằng như
khí

18

vậy đối với tín hiệu từ ngọn lửa hiđro-không khí khi chỉ có một khí mang tinh khiết
đi qua cho phép để điều chỉnh đường nền.
1.6.3. Detectơ cộng kết điện tử
Nguyên tắc làm việc của Detectơ cộng kết điện tử (Electron Capture
Detector: ECD) là sự ion hóa các hợp chất gây ra bởi tia phóng xạ  (3H, 63Ni). Nói
chung các chất hữu cơ đều có khả năng ion hóa bởi các điện tử tự do trong pha khí.
Khả năng này lớn hay nhỏ phụ thuộc vào cấu tạo của hợp chất (khả năng phản ứng
của các điện tử của hiđrocacbon no < các hiđrocacbon không no < các dẫn xuất
halogen).
Bộ phận chính của detectơ là buồng ion hóa, các chất sau khi rửa giải khỏi
cột đi vào giữa hai điện cực, có một bề mặt phóng xạ phát xạ các electron năng
lượng cao (hạt ) với tốc độ 108-109 hạt/giây (nguồn phóng xạ thường dùng là
63Ni, tuy độ nhạy kém hơn 3H nhưng có ưu điểm là bền, có thể làm việc được ở
nhiệt độ cao 4000C). Các electron này bắn phá khí mang tạo ra các ion dương, các

phân tử nhỏ đi ra ngoài theo bơm hút chân không. Sau đó các ion này đi qua bộ
phận phân tách để thu được các mảnh ion có khối lượng (m/z) thích hợp đi vào
detectơ. Tại detectơ các ion này sẽ gây ra các tín hiệu điện và được khuyếch đại, sau
đó truyền đến bộ xử lí số liệu và được in ra dưới dạng sắc kí đồ và phổ khối đồ.
1.7. Một vài nét về khu vực nghiên cứu
1.7.1. Quận Thanh Xuân
Quận Thanh Xuân phía Đông giáp quận Hai Bà Trưng; phía Tây giáp huyện
Từ Liêm và quận Hà Đông; phía Nam giáp huyện Thanh Trì; phía Bắc giáp quận
Đống Đa và quận Cầu Giấy.Diện tích 9,11 km
2
và dân số khoảng 214.500 người
(năm 2009). Hiện nay, những ao hồ còn sót lại ở quận Thanh Xuân rất ít và nguồn
nước mặt này có nguy cơ bị ô nhiễm bởi nguồn nước sinh hoạt, nguồn nước thải từ
những hộ dân sống xung quanh. Thực hiện việc lấy mẫu tại hai khu vực của quận
Thanh Xuân là hồ Triều Khúc và hồ Khương Đình nơi tập trung nhiều dân cư sống
xung quanh, nhiều chợ cóc…

Trích đoạn Phương pháp tách chất bằng kỹ thuật không gian hơi Phương pháp sắc ký khí detectơ cộng kết điện tử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status