1
Lời Nói Đầu
Phát triển kinh tế là một trong những vấn đề mang tính chiến lược và trọng tâm nhất của mọi
quốc gia .trong cuộc chạy đua để phát triển kinh tế thì mỗi quốc gia lại lựa chọn một chiến lược
và quyết sách riêng của mình ,Việt Nam cũng không ngoai lệ ,nhưng để phát triển kinh tế cần có
sự kết hợp của nhiều yếu tố và lao động được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất
,trong thời kỳ đất nước hội nhập và phát triển như hiện nay thì việc phát triển nguồn lao động chất
lượng cao,sử dụng nguồn lao động có hiệu quả …. là cần thiết cho sự phát triển kinh tế nước ta
.Qua bài tiểu luận về “ Lao động với phát triển kinh tế-thực trạng và giải pháp để năng cao hiệu
quả sử dung nguồn nội lực của Việt Nam hiện nay” chúng tôi sẽ cung cấp tương đối đầy đủ kiến
thức về cơ bản về tình hình,thực trạng,hướng giải quyết ,… lao động ở việt nam.xin cảm ơn thầy
đã tận tình giúp đỡ để nhóm em có thể hoàn thành được đề tài này.
2
MỤC LỤC
Nguồn lao đông và lực lượng lao đông 3
Thực trạng nguồn lực lao động ở Việt Nam 4
Đã làm được 6
Hạn chế 8
Phương hướng giải quyết 9
Vai trò của nguồn lực lao động và phát triển kinh tế 11
3
ĐỀ TÀI: LAO ĐỘNG VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGUỒN LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY.
NGUỒN LAO ĐỘNG VÀ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG
-Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho
việc tính toán cân đối lao động - việc làm trong xã hội.
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả
năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động là khác nhau ở các nước ,thậm chí khác nhau ở các giai
đoạn của mỗi nước .Điều đó tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế .Đa số các nước quy
khu vực nông thôn chiếm 70,3%.
-Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trường lao động
Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Bởi số lao động có tay
nghề, có chất lượng của nước ta đang còn rất hạn chế. Trong tổng số 51,4 triệu lao động
chỉ có gần 7,8 triệu người đã được đào tạo, chiếm 15,4%. Sự chênh lệch về chất lương
nguồn lao động được thể hiện rõ nhất là ở khu vực nông thôn và thành thị. Ở thành thị lao
động đã được đào tạo chiếm 30,9%, trong khi ở nông thôn chỉ có 9%. Sự chênh lệch này
là quá lớn, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế chung của nước. Trong khi đó,
lượng lao động từ nông thôn đến thành thị tìm việc là rất lớn.Nhưng mục đích chính của
những lao động này lên thành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các
công việc mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh
nghiệm, tay nghề.
-Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây liên tục
tăng, nhưng các doanh nghiệp vẫn kêu thiếu lao động. Nguyên nhân là do lao động Việt
Nam chỉ mới đáp ứng được nhu cầu về số lượng, chứ chưa đáp ứng được nhu cầu về chất
lượng. Điều này không chỉ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và còn khiến cho người
lao động tự làm mất cơ hội việc làm cho bản thân.
Doanh nghiệp vẫn khát nhân lực:
-Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển TP. HCM cho biết: hiện nay, cung lao động
tại Việt Nam rất dồi dào và lớn hơn cầu về lao động. Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao
động này là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao
động không đồng đều giữa các vùng, miền. Cụ thể là gần 77% người lao động trong độ
tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng
nghề nghiệp và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông
thôn. Về mặt cầu, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay phần lớn được phân bổ trong
khu vực nông nghiệp, nơi kỹ năng, tay nghề và trình độ của người lao động thường không
cần ở mức độ cao. Lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực công nghiệp chỉ
-Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi)năm 2014 là 6,3%,cao hơn mức 6,17%của năm
2013;khu vực thành thị là 11,49% ,cao hơn mức 11,12% của năm trước ;khu vực nông thôn là
4,63%, xấp xỉ 2013 .
*Về việc làm:
-Người lao động đang làm việc trong các nghành kinh tế năm 2014 ước tính 53 triệu người ,tăng
800.000 người so với năm 2013.
-Trong đó ,người lao động đang làm việc của khu vực nông ,lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,6%
tổng số (giảm 00,2% so với năm 2013),khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 21,4%(tăng
00,2% so với năm 2013),khu vực dịch vụ chiếm 32%(năm 2013 là 32%).
-ƯỚC tính tỷ lệ lao động phi chính thức của khu vực phi hộ nông nghiệp năm 2014 lá
56,1%,giảm 1 điểm phần trăm so với năm 2013.
*về năng suất lao động :
-Theo tổng cục thống kê , năng suất lao động xã hội năm 2014 theo giá hiện hành của toàn nền
kinh tế ước tính đạt 74,3% triệu đồng /lao động (tương đương khoảng 3.515USD/lao động )
-Trong đó, năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp vả thủy sản đạt 28,9 triệu đồng /lao
động, bằng 38,9% mức năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và
xây dựng đạt 133,4 triệu đồng /lao động, gấp 1,8 lần; khu vực dịch vụ đạt 100,7 triệu đồng /lao
động ,gấp 1,36 lần .
6
-Tính theo giá so sánh năm 2010 ,năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2014 ước tính tăng
4,3% so với năm 2013,trong đó năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng
2,4% khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,3%;khu vực dịch vụ tăng 4,4%.
-Theo tổng cục thống kê ,năng suất lao động Việt Nam chưa cao do phụ thuộc vào tỉ trọng lao
động khu vực nông ,lâm nghiệp và thủy sản còn cao;công nghệ và thiết bị sản xuất còn lạc hậu
;chất lượng nguồn lao động chưa cao ,cơ cấu đào tạo chưa hợp lý…
-Năm 2014 ,câu chuyện về năng suất lao động và tỉ lệ thất nghiệp lại nóng lên sau những kết quả
thống kê của ILO về năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/15 năng suất lao động của
Singapore,1/16 của Malaysia,…
-Bên cạnh đó,Bản tin thị trường lao động việc làm quý 2/2014 do bộ Lao Động -Thương Binh &
Xã Hội ,tổng cục Thống kê ,ILO công bố tỉ lệ thất nghiệp 1,84 đã làm dấy lên những tranh luận
thông tin kém…
8
PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT:
Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát
triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia. Vì vậy,
các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực. Trong thế kỷ XX,
đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn nhân
lực nên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành công nghiệp hoá và
hiện đại hoá chỉ trong vài ba thập kỷ.
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của
sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, trong điều kiện đẩy
mạnh công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực được coi là một trong ba
khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
đồng thời, phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh
tranh quốc gia.
Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát triển tổng thể và
dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần xây dựng những định hướng
cụ thể, để từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân…
để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp cho giai đoạn đó phù hợp với bối cảnh
kinh tế-xã hội trong nước và quốc tế.
Yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
-Nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập
quốc tế, từ bối cảnh trong nước, phát triển nguồn nhân lực đang đứng trước những yêu
cầu:
+Thứ nhất, bảo đảm nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá cho công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã được đề ra trong Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011-2020: chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng
sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; tăng cường ứng dụng khoa học và
công nghệ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế; tăng nhanh hàm
lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của
những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”.
Xét dưới góc độ các yếu tố nguồn lực thì nguồn lực lao động chính là lực lượng lao động. Lực
lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi có khả năng lao động đuoc pháp luật quy định,
thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp. Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có
các nguồn lực của sự phát triển linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ,
con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực lao động (con người) là quan trọng nhất, có
tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không
có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng
có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Có ba vai trò chính đó là:
- Nguồn lực Lao Động phát hiện, sáng tạo ra các nguồn lực phát triển: con người là chủ thể phát
hiện, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tạo nên tăng trưởng kinh tế; nguồn lực vốn
là kết qua lao động và tích lũy của con người mà có; nguồn lực khoa học – công nghệ cũng do
con người sáng tạo ra.
- Nguồn Lực Lao Động đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng các nguồn lực khác. Chất
lượng nguồn lực lao động là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng ba nguồn lực còn
lại ( gồm Nguồn lực vốn, Khoa Học & Công Nghệ , tài nguyên thiên nhiên). Nói đến Nguồn Lực
Lao Động là nói đến tổng thể Nguồn Lực Lao Động của một quốc gia, trong đó Nguồn Lực Lao
Động có trình độ cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là Nguồn Lực Lao Động tinh tuý
nhất, có chất lượng nhất và có vai trò quyết định sự thành công đối với phát triển kinh tế của một
đất nước
-Nguồn Lực Lao Động là động lực của phát triển kinh tế. Nguồn Lực Lao Động vừa có nhu cầu
tự thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao, phong phú và chủ thể sáng tạo công nghệ, điều
chỉnh cơ câu KT để thỏa mãn các nhu cầu xã hội.
Mối quan hệ giữa nguồn lực lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lực lao động luôn luôn đóng
vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế đất
nước. Nguồn Lực Lao Động quyết định quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản
xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên
tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.