LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, Ngân hàng thương mại đã trở thành tổ chức
tài chính quan trọng bậc nhất, không thể thiếu đối với nền kinh tế mỗi quốc
gia. Việt Nam- một quốc gia đang có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và cao
hàng đầu thế giới, đặt ra yêu cầu cũng là động lực thúc đẩy cho sự phát triển
của hệ thống Ngân hàng thương mại, nhất là khi Việt nam đã gia nhập WTO,
sự cạnh tranh sẽ ngày càng mãnh liệt. Các ngân hàng thương mại sẽ phải nỗ
lực không ngừng để cải thiện về chất lượng và số lượng. Tuy nhiên, các ngân
hàng thương mại Việt Nam (và cả thế giới) dù phát triển đến đâu thì hoạt
động kinh doanh cơ bản nhất là cung cấp tín dụng. Trong quá trình cung cấp
tín dụng cho khách hàng, các ngân hàng luôn phải đối mặt với nguy cơ xảy ra
rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau và đều có chung một hệ quả: khách hàng không trả được nợ khi đến hạn.
Ngân hàng không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể đề
phòng, hạn chế nó. Có rất nhiều biện pháp được sử dụng để hạn chế rủi ro tín
dụng, trong đó có chấm điểm tín dụng để xếp hạng khách hàng. Việc ứng
dụng phương pháp này nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác ra quyết định và
kiểm soát tín dụng đang là vấn đề đòi hỏi cấp thiết trên cả phương diện lý
luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay đối với Hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam.
Chính điều đó đã nói lên tính cấp thiết của đề tài: “Giải pháp hoàn thiện
phương pháp chấm điểm tín dụng trong xếp hạng doanh nghiệp tại Ngân
hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam.”
Với đề tài này, em mong muốn tìm hiểu, phân tích kỹ hơn về phương
pháp chấm điểm tín dụng trong xếp loại khách hàng trên cả hai phương diện
lý thuyết và thực tiễn. Từ đó đánh giá những thành công và hạn chế của hoạt
động này, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp kiến nghị nhắm hoàn
thiện phương pháp chấm điểm tín dụng trong xếp hạng doanh nghiệp. Đồng
thời việc nghiên cứu giúp em có điều kiện tích luỹ thêm kiến thức, nhất là
những kiến thức thực tiễn, cách trình bày vấn đề một cách khoa học theo sự
nhận thức và hiểu biết của mình để rút kinh nghiệm cho quá trình học tập và
hoạt động huy động vốn, khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, có quyền hưởng
lãi từ khoản tiền gửi nhưng đồng thời có quyền rút vốn bất cứ lúc nào, ngân
hàng chỉ có thể thu lãi phạt chứ không thể từ chối việc trả lại vốn cho khách
hàng. Nguồn tiền của các ngân hàng thương mại đang có thay đổi mạnh mẽ
do gia tăng cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng, giữa ngân hàng với các tổ
chức tài chính khác, dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin và quá trình
toàn cầu hoá. Điều này tạo thuận lợi hơn cho một ngân hàng trong việc tìm
kiếm nguồn tiền song lại làm tăng tính mỏng manh, kém ổn định của cả hệ
thống. Song song với hoạt động huy động vốn là hoạt động sử dụng vốn, khi
cấp tín dụng, ngân hàng có quyền thu lãi từ việc cấp tín dụng song lại không
thể thu hồi vốn về trước khi kết thúc hợp đồng tín dụng nếu như khách hàng
không vi phạm hợp đồng. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ ngân
hàng, cho phép ngân hàng có thể chuyển nguồn tiền của mình đầu tư tới các
vùng, các thị trường khác, ngày càng xa trụ sở chính. Điều này giúp các ngân
hàng giảm bớt rủi ro do đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá sản phẩm và thị
trường song rủi ro cũng tăng lên do tính biến động lớn trên thị trường khu vực
và thế giới, do thông tin sai lệch, do rủi ro đạo đức…
Như vậy, ngân hàng thương mại luôn phải đối mặt với rất nhiểu rủi ro,
điều đó đòi hỏi ngân hàng phải có dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán và đặc
biệt là khả năng đạt hiệu quả tối đa trong sử dụng vốn. Nếu việc cấp tín dụng
không hiệu quả khiến ngân hàng không thu được lãi, gốc đầy đủ, đúng hạn
hoặc thậm chí mất vốn thì nó sẽ nhanh chóng đẩy ngân hàng tới chỗ mất khả
năng thanh toán do nhu cầu rút vốn của người gửi tiền. Xảy ra rủi ro tín dụng
dễ dàng dẫn đến rủi ro thanh khoản đối với các ngân hàng thương mại.
Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả, không trả đúng hạn
hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có qui mô lớn
nhất của ngân hàng thương mại - hoạt động tín dụng. Khi thực hiện một hoạt
động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao
cho độ an toàn là cao nhất. Tuy nhiên, trong thực tế rủi ro tín dụng là không
một kỹ thuật ngày càng được chú ý rộng rãi. Thông qua xếp hạng doanh
nghiệp, cán bộ tín dụng sẽ so sánh hạng của doanh nghiệp đạt được các mức
phân hạng của ngân hàng để ra phán quyết cho vay, và có thể lựa chọn khách
hàng tốt hơn. Đồng thời, qua hạng tín dụng của doanh nghiệp, cán bộ tín dụng
sẽ có chính sách tín dụng cụ thể và phù hợp để giám sát và kiểm tra vốn vay.
Ở Việt Nam hiện nay, có một phương pháp xếp hạng doanh nghiệp đang
được áp dụng khá phổ biến: Chấm điểm tín dụng. Một hệ thống chấm điểm
tín dụng được tiêu chuẩn hoá và tự động hoá sẽ cho phép giảm bớt thời gian
và chi phí cho vay, do đó tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại mở
rộng vốn vay và kháchh hàng trên cơ sở an toàn. Mặt khác, nó còn giúp giảm
bớt nhân sự trong ngân hàng thương mại để tập trung nhiều hơn vào các
khoản vay chất lượng.
Như vậy, phương pháp chấm điểm tín dụng trong xếp hạng doanh nghiệp
so với những phương pháp thẩm định tín dụng trước đây có nhiều ưu điểm
vượt trội. Vì thế, chấm điểm tín dụng trong xếp hạng doanh nghiệp là rất cần
thiết đối với mục tiêu an toàn và sinh lời của ngân hàng.
1.2. Khái niệm phương pháp chấm điểm tín dụng trong xếp hạng doanh
nghiệp.
1.2.1. Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp:
Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp( credit rating) là kỹ thuật đánh giá rủi
ro tín dụng do các tổ chức xếp hạng thực hiện và công bố dựa trên các tiêu chí
phản ánh uy tín tín dụng của người vay nợ.
Tại Mỹ có các tổ chức xếp hạng tín dụng như Standard and Poor( S&P);
Moody’s; Investor Service and Fitch. S&P xem xét các yếu tố như loại tín
dụng cung cấp, loại tài sản bảo đảm và các yếu tố khác để xếp hạng tín dụng
doanh nghiệp từ cao nhất là AAA xuống thấp nhất là C, theo đó hạng càng
thấp thì rủi ro tín dụng càng cao. Ngoài ra, S&P còn xếp hạng giảm dần tương
đối từ AAA, AA đến A và sử dụng các dấu + và - để chỉ thứ hạng khác biệt
tương đối.
1.2.2. Chấm điểm tín dụng trong xếp hạng doanh nghiệp:
kịp thời.
- Phát triển chiến lược marketing nhằm hướng tới các khách hàng có
ít rủi ro hơn.
- Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trich lập
dự phòng rủi ro tín dụng.
1.4. Một số mô hình chấm điểm tín dụng:
1.4.1. Mô hình điểm số Z:
Các nhà đầu tư thường xem xét hệ số đòn bẩy tài chính để đánh giá tình
hình nợ nần của doanh nghiệp đó quyết định mức độ rủi ro khi đầu tư vào
doanh nghiệp đó. Tuy nhiên có một chỉ số có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá
rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh
nghiệp trong tương lai gần. Đó chính là hệ số nguy cơ phá sản, hay còn gọi là
Z score do nhà kinh tế học Koa kỳ Edward.I. Altman, giảng viên trường đại
học Newyork thiết lập. Hệ số này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp chứ
không áp dụng cho các định chế tài chính như ngân hàng hay là các công ty
đầu tư tài chính. Mặc dù chỉ số Z này được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết
các nước, vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao.
Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X
1
, X
2
, X
3
, X
4
, X
5
:
X
1
• Nếu Z > 2,99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy
cơ phá sản.
• Nếu 1,8 < Z < 2,99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể
có nguy cơ phá sản.
• Nếu Z < 1,8 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá
sản cao.
Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản xuất:
Z’= 0,717X
1
+0,847X
2
+3,107X
3
+0,64X
4
+0,999X
5
• Nếu Z’ > 2,99 Doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy
cơ phá sản.
• Nếu 1,8 < Z’ < 2,99 Doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể
có nguy cơ phá sản.
• Nếu Z’ < 1,8 Doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ
phá sản cao.
Đối với doanh nghiệp khác:
Chỉ số Z” dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại
hình doanh nghiệp. Vì sự khác nhau khá lớn của X
5
giữa các ngành, nên X
5
đã
Z” điều
chỉnh
Định mức tín
nhiệm S&P
Tình trạng
> 8,15 AAA Chất lượng cao nhất
Trái phiếu
có thể đầu
tư
Doanh nghiệp
nằm trong
vùng an toàn,
chưa có nguy
cơ phá sản
7,60 – 8,15 AA
+
7,30 – 7,60 AA Chất lượng cao
7,00 – 7,30 AA
-
6,85 – 7,00 A
+
Chất lượng vừa cao hơn
6,65 – 6,85 A
6,40 – 6,65 A
-
6,25 – 6,40 BBB
+
Chất lượng vừa
5,85 – 6,25 BBB
Doanh nghiệp
-
0 – 1,75 D Không hoàn được vốn
(Nguồn: www.saga.com.vn)
Sự tương đồng giữa chỉ số Z” điều chỉnh và hệ số tín nhiệm S&P là khá
cao, nhưng không có nghĩa là tuyệt đối. Có một sự chênh lệch nhất định giữa
hai chỉ số trên nhưng có thể chấp nhận được. Mặc dù chỉ số Z” điều chỉnh
được dùng khá tốt ở các thị trường khác, cũng nên được nghiên cứu để điều
chỉnh theo môi trường Việt Nam.
Nói chung hệ số Z” có thể giúp ngân hàng nhận định cơ bản về tình hình
tài chính và khả năng thanh toán nợ của công ty.
Tuy nhiên, chỉ số Z chỉ có thể cho ta thấy nguy cơ phá sản của doanh
nghiệp trên góc độ số liệu tài chính, mà không xem xét được các yếu tố khác
như môi trường kinh doanh, chiến lược và chính sách phát triển của doanh
nghiệp, danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ truyền thống giữa khách
hàng và ngân hàng.
1.4.2. Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng:
Ngày nay, nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp chấm điểm để xử lý
các đơn xin vay của người tiêu dùng. Thực tế, nhiều tổ chức tín dụng đã sử
dụng mô hình chấm điểm để xử lý số lượng đơn yêu cầu ngày một gia tăng,
những ngân hàng cũng sử dụng mô hình này để đánh giá những khoản tín
dụng mua sắm xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động sản và kinh doanh nhỏ.
Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và nhanh chóng khi những yêu cần
tín dụng của họ được xử lý bằng hệ thống chấm điểm tự động.
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình
cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, cố
người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản cá
nhân, thời gian công tác.
Mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng thưởng sử dụng từ 7 đến 12 hạng
mục được cho điểm từ 1 đến 10, ví dụ: bảng dưới đây cho thấy những hạng
mục và điểm thường được sử dụng ở các ngân hàng Mỹ.
2
0
4 Kinh nghiệm nghề nghiệp
Nhiều hơn 1 năm
Từ 1 năm trở xuống
5
2
5 Thời gian sống tại địa chỉ hiện hành
Nhiều hơn 1 năm
Từ 1 năm trở xuống
2
1
6 Điện thoại cố định
Có
Không
2
0
7 Số người sống cùng( phụ thuộc)
Không
3
Một
Hai
Ba
Nhiều hơn ba
3
4
4
2
8 Các tài khoản tại ngân hàng
Cả tài khoản tiết kiệm và phát hành Séc
tế và những thay đổi trong cuộc sống gia đình. Một mô hình điểm số không
linh hoạt có thể đe doạ đến chương trình tín dụng tiêu dùng của ngân hàng, bỏ
sót những khách hàng lành mạnh, làm giảm lòng tin của cộng đồng vào dịch
vụ ngân hàng.
1.4.3. Mô hình chất lượng dựa trên yếu tố 6C:
Phòng tín dụng của ngân hàng chịu trách nhiệm về việc phân tích và đưa
ra những đánh giá đối với hầu hết các đơn xin vay. Kinh nghiệm cho thấy
rằng khi xem xét một đơn xin vay, phòng tín dụng phải trả lời thoả đáng 3 câu
hỏi sau:
• Người xin vay có đáng tin cậy không? Sao bạn biết?
• Liệu hợp đồng tín dụng có thể được cấu trúc để bảo vệ an toàn cho
ngân hàng và người gửi tiền cũng như tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng
món vay hiệu quả không?
• Liệu ngân hàng có quyền đối với tài sản và thu nhập của khách
hàng trong trường hợp khoản cho vay có vấn đề và liệu ngân hàng có thể thu
hồi vốn nhanh chóng với rủi ro và chi phí thấp được không?
Mô hình sáu chữ C nhằm trả lời câu hỏi quan trọng “Khách hàng có
đáng tin cậy hay không?”.
- Tính cách( Character): Cán bộ tín dụng phải có được bằng chứng cho
thấy rằng khách hàng có mục tiêu rõ ràng khi xin vay và có kế hoạch trả nợ
nghiêm túc. Nếu không biết chắc chắn lý do khách hàng xin vay thì cán bộ tín
dụng cần phải tiến hành điều tra để nhận được câu trả lời thích đáng. Khi mục
tiêu xin vay đã được làm rõ, cán bộ tín dụng phải quyết định xem nó có phù
hợp với chính sách cho vay hiện tại của ngân hàng không? Đồng thời phải
xem xét xem liệu người vay có trách nhiệm trong việc sử dụng tiền vay
không. Trách nhiệm, tính trung thực, mục đích vay vốn nghiêm túc, kế hoạch
trả nợ rõ ràng là những tiêu chuẩn tạo dựng lên tính cách khách hàng trong
cách nhìn nhận của cán bộ tín dụng.
- Năng lực( Capacity): cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng khách hàng
có đủ năng lực vay vốn và có đủ tư cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng
phải thu bổ sung
Một trong những đặc trưng của định nghĩa thứ hai về dòng tiền mặt là nó
giúp cho các cán bộ tín dụng tập trung vào những khía cạnh quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của khách hàng như: chất lương, kinh nghiệm quản lý
và sức mạnh thị trường của khách hàng. Khi người vay đang trong tình trạng
sử dụng quá nhiều các khoản tín dụng thương mại( các khoản phải trả), hàng
tồn kho gia tăng hoặc đang có khó khăn trong việc thu hồi các khoản tín dụng
cấp cho bạn hàng( các khoản phải thu) thì khoản vay mà ngân hàng đã cấp
cho khách hàng có thể sẽ có vấn đề.
- Tài sản thế chấp( Collateral): đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín
dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
Trong việc đánh giá tài sản thế chấp cán bộ tín dụng phải lưu ý đến những đặc
điểm như: thời gian sử dụng, tình trạng hiện tại, mức độ chuyên môn hoá thể
hiện ở tài sản của khách hàng. Ở đây, công nghệ có một vị trí quan trọng. Nếu
tài sản của khách hàng lỗi thời về công nghệ, giá trị thế chấp của chúng sẽ bị
giảm.
- Điều kiện( Conditions): cán bộ tín dụng phải nhận biết được xu
hướng phát triển của doanh nghiệp cũng như ngành mà doanh nghiệp hoạt
động. Các yếu tố vĩ mô như lạm phát, thời kỳ suy thoái kinh tế cũng ảnh
hưởng đến các khoản cho vay của ngân hàng.
- Sự kiểm soát( Control): tập trung vào các vấn đề như sự thay đổi về
pháp luật có ảnh hưởng xấu đến người vay không? Và liệu khách hàng có đáp
ứng được các tiêu chuẩn chất lượng tín dụng mà ngân hàng đặt ra hay không?
1.4.4. Mô hình chấm điểm tín dụng của công ty FICO:
FICO( The US Fair Issac Company) tại Mỹ là công ty phát triển hệ
thống chấm điểm tín dụng tự động vào những năm 1960 và 1970. Điểm tín
dụng do FICO xây dựng có giới hạn từ 300 đến 850, điểm trung bình là 720
và điểm càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp. Hệ thống chấm điểm tín dụng
FICO dựa vào 5 yếu tố với trọng số như sau:
Bảng 1.4: Các yếu tố xem xét khi chấm điểm tín dụng của FICO
nợ do FICO xây dựng, các ngân hàng quyết định “điểm ngưỡng” của mình
tuỳ thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng.
Chẳng hạn, hầu hết các ngân hàng ở Mỹ sử dụng thang điểm của FICO
để xếp hạng tín dụng cho khách hàng như sau:
Bảng 1.6: Thang điểm tín dụng và kết quả xếp loại
Điểm tín dụng FICO Kết quả xếp loại
Từ 720 trở lên Rất tốt
Từ 680 – 719 Tốt
Từ 620 – 679 Trung bình
Từ 585 – 619 Rủi ro cao
Từ 584 Rủi ro rất cao
( Nguồn: Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại – TS Nguyễn Minh Kiều – Nhà
Xuất Bản Thống Kê).
1.5. Quy trình chấm điểm tín dụng khách hàng là doanh nghiệp:
Quy trình tín dụng trong xếp hạng khách hàng doanh nghiệp được thực
hiện theo 7 bước:
1.5.1. Thu thập và phân tích các thông tin:
Thu thập thông tin là giai đoạn đầu tiên của quá trình chấm điểm tín
dụng trong xếp hạng khách hàng, nhưng đây là giai đoạnh rất quan trọng, có
ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xếp hạng doanh nghiệp cuối cùng. Nên cán
bộ tín dụng phải tích cực khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để thu
thập khối lượng thông tin phong phú đồng thời dễ dàng kiểm tra tính chính
xác của thông tin. Chất lượng thông tin thể hiện ở ba thuộc tính sau: đầy đủ,
kịp thời, chính xác. Thông tin cần thu thập nói chung, gồm có: thông tin tài
chính và thông tin phi tài chính. Các thông tin này có thể thu thập từ các
nguồn sau:
Thông tin thu thập từ hồ sơ của khách hàng vay vốn: khi khách
hàng đề nghị cấp tín dụng, ngân hàng yêu cầu khách hàng lập và nộp cho
ngân hàng một bộ hồ sơ vay. Qua bộ hồ sơ này ngân hàng có thể thu thập
được khá nhiều thông tin về khách hàng, bao gồm: Thông tin về tư cách pháp
doanh của khách hàng. Thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước có quan hệ
với khách hàng như Bộ chủ quản, cơ quan thuế, thanh tra, quản lý thị trường,
kiểm toán, hải quan…Và một số thông tin khác tuỳ thuộc vào đặc thù của
người vay.
Như vậy, có rất nhiều nguồn thông tin mang lại những dữ liệu khác nhau
cho hoạt động chấm điểm tín dụng. Trong số những thông tin đó, có những
thông tin đáng tin cậy và cả những thông tin không đáng tin cậy, vì vậy, hoạt
động chấm điểm tín dụng đỏi hỏi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên
môn vững vàng, hiểu biết sâu rộng về nhiều vấn đề từ đó biết sàng lọc thông
tin, lựa chọn những thông tin tốt nhất, phản ánh chính xác tình trạng hiện tại
của doanh nghiệp.
Kết quả của quá trình thu thập thông tin từ các nguồn trên, cán bộ tín
dụng có được lượng thông tin phong phú và đa dạng. Một số thông tin chủ
yếu:
a. Báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính là những báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế
toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát
sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính phản
ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thời điểm, kết
quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhất
định; đồng thời được giải trình, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài
chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của
đơn vị để ra các quyết định phù hợp. Báo cáo tài chính được coi là nguồn
thông tin quan trọng trong việc chấm điểm các chỉ số tài chính, ảnh hưởng
đến quyết định tín dụng của ngân hàng thương mại nên nó phải chính xác,
hoàn chỉnh và đặc biệt là đáng tin cậy. Các báo cáo tài chính được sử dụng để
chấm điểm hiện nay là Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
*Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tổng hợp, cho biết tình hình tài chính
hình
1. Vốn ban đầu
2. Tài sản cố định vô
hình
2. Quỹ
3. Tài sản tài chính 3. Lợi nhuận chưa
phân phối
Tổng tài sản Tổng nguồn vốn
Trong đó, N là thời điểm lập bảng cân đối kế toán của kỳ nghiên cứu,
(N-1) là thời điểm lập bảng cân đối kế toán liền trước đó. Trên bảng cân đối
kế toán, tổng tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn vốn. Ngoài các khoản
mục trong nội bảng như trên còn có một số khoản mục ngoại bảng như tài sản
thuê ngoài, vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận bán hộ…
Bảng cân đối kế toán được sử dụng để tính các chỉ số tài chính sau:
- Chỉ tiêu thanh khoản: Khả năng thanh toán ngắn hạn; khả năng thanh
toán nhanh.
- Chỉ tiêu “Cân nợ”: Nợ phải trả/ Tổng tài sản; Nợ phải trả/ Nguồn vốn
chủ sở hữu; Nợ phải trả/ Tổng dư nợ ngân hàng.
* Báo cáo kết quả kinh doanh:
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho biết tình hình tài
chính của doanh nghiệp tại những thời kỳ nhất định.
Bảng 1.8: Báo cáo kết quả kinh doanh từ…đến…
Đơn vị tính…
STT Chỉ tiêu
Số hiệu
TK
Mã số Số tiền
1 Doanh thu bán hàng 511 01
2 Các khoản giảm phải thu 02
3 Doanh thu thuần 10 = 01-02
tiền cho nhà cung cấp. Mà trong điều kiện hiện nay, việc mua bán chịu hay tín
dụng thương mại diễn ra rất phổ biến trong các doanh nghiệp. Điều đó dẫn
đến có những doanh nghiệp có lợi nhuận kế toán nhưng vẫn bị phá sản do đơn
vị đó đã không có lợi nhuận bằng tiền, mất khả năng thanh toán các khoản nợ
đến hạn. Vì vậy, cán bộ tín dụng phải rất lưu ý, phân tích báo cáo kết quả kinh
doanh kết hợp với những báo cáo khác, đặc biệt là báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc
mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụng
thông tin của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các
vấn đề liên quan đến các luồn tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài
trợ, đầu tư bằng tiền của daonh nghiệp trong từng thời kỳ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh khả năng thanh toán của doanh
nghiệp trong một thời gian nhất định, thường lập cho từng tháng.
Bảng 1.9: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ…đến…
Khoản mục Mã số Kỳ trước Kỳ này
I. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh
1. Các khoản phải thu
2. Các khoản phải chi
Lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh 20
II. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư
1. Các khoản phải thu
2. Các khoản phải chi
Lưu chuyển thuần từ hoạt động đầu tư 30
III. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
1. Các khoản phải thu
2. Các khoản phải chi
Lưu chuyển thuần từ hoạt động tài chính 40
Lưu chuyển thuần trong kỳ( 20+30+40) 50
Tiền và tương đương tiền đầu kỳ 60