Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHCT : Ngân hàng Công thương
NHCV : Ngân hàng cho vay
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TTTD : Thông tin tín dụng
NSNN : Ngân sách Nhà nước
QLRR : Quản lý rủi ro
CBTD : Cán bộ tín dụng
DNV&N : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
XDCB: Xây dựng cơ bản
XNK : Xuất nhập khẩu
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường, hoạt động Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhữn rủi ro, nhất là
hoạt động tín dụng. Các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín
dụng chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Thực tế hoạt động tín
dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua là một minh chứng
cho nhận định này: Hiệu quả hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa
tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn còn cao so với khu vực và chưa có khuynh hướng
giảm vững chắc. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại các NHTM Việt
Nam đang là vấn đề bức xúc trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn. Các nhà khoa
học, các nhà hoạch định chính sách ngân hàng đã đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết
vấn đề này. Một trong những giải pháp đang được khuyến khích áp dụng đó là hệ
thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Đây là một vấn đề khá mới đối
với các NHTM Việt Nam nói chung và Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt
Nam nói riêng.
Hệ thống chấm điểm tín dụng được áp dụng vào hệ thống NHCT từ năm 2004,
các loại trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín
nhiệm. Những quy định này đã làm cho uy tín của các công ty xếp hạng tín nhiệm
ngày một lên cao. Song, trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín nhiệm chỉ được
phổ biến ở Mỹ, chỉ từ đầu những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm mới
được mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước.
Ngày nay, khái niệm xếp hạng tín nhiệm chưa có được sự nhận thức thống
nhất. Theo Bohn, John A. viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên thị trường đang
chuyển đổi thì “Xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có
thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời
gian tồn tại của nó”.
Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch, xếp hạng tín nhiệm
là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một
nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói cách khác đi, đó là
đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và
lãi đúng hạn. Trong kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng cả ý kiến chủ quan của
chuyên gia xếp hạng tín nhiệm.
Theo công ty Moody’s, xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn
sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất
định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ.
Như vậy, có thể khái quát, xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời về mức
độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc và lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát
hành trong một thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Xếp hạng tín nhiệm là kết quả
của việc đánh giá tổng hợp tất cả các rủi ro về thanh toán gốc và lãi của các khoản nợ
hiện tại và tương lai của nhà phát hành. Kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng ý kiến
chủ quan của các chuyên gia xếp hạng tín nhiệm. Về mặt nào đó, xếp hạng tín nhiệm
có thể xem là một hình thức tư vấn đầu tư chứng khoán, song đây không hoàn toàn là
Một hệ thống ngân hàng tốt phụ thuộc một phần vào sự điều khiển của
NHTW, và rộng hơn, phụ thuộc vào sự tín nhiệm của khách hàng. Trách nhiệm chính
của các ngân hàng là phải cư xử như những công dân tốt trong kinh doanh: dù khả
năng sinh lời vẫn được coi là mối quan tâm chính, nhưng đôi khi phải gác điều này
lại để ưu tiên cho những nguyên tắc đạo đức có tính đến lợi ích của những người
khác. Mỗi khi Ngân hàng cho vay tiền, họ phải nhớ rằng vốn của họ là tiền gửi của
khách hàng, vì vậy điều quan trọng là họ phải cho vay những noi mà rủi ro do không
trả được nợ là thấp nhất.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ ngày càng phức tạp, rủi ro của nó ngày càng một
lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro đó để đảm bảo
an toàn cho hoạt động của NHTM. Trong xu hướng đó, “xếp hạng tín nhiệm” (credit
ratings) là một kỹ thuật ngày càng được chú ý rộng rãi trong hoạt động tín dụng ngân
hàng.
Ở Việt Nam, do thị trường trái phiếu chưa phát triển, có thể áp dụng việc xếp
hạng tín nhiệm cho các khách hàng khi vay vốn ngân hàng nhằm giúp ngân hàng có
thêm căn cứ để xác định đối tượng có thể cho vay được, không được cho vay, lãi suất
cho vay, vấn đề thế chấp, … Trên cơ sở phân tích, đánh giá với xếp hạng tín nhiệm
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
đối với khách hàng xin vay vốn ngân hàng, chúng ta có thể hạn chế rủi ro trong hoạt
động tín dụng.
Trước mắt, ở Việt Nam có thể áp dụng xếp hạng tín nhiệm dưới một hình thức
đơn giản: “chấm điểm tín dụng”.
1.2. Khái niệm hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng:
1.2.1. Chấm điểm tín dụng là gì?
Hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của NHCT Việt Nam
là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách
hàng đối với NHCV như trả lãi và gốc nợ vay khi đến hạn nhằm xác định rủi ro trong
hoạt động cấp tín dụng của NHCV. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng khách
1.2.3. Nguyên tắc của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng:
Trong quá trình chấm điểm tín dụng, cán bộ chấm điểm tín dụng sẽ thu được
điểm ban đầu và điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng.
- Điểm ban đầu là điểm của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng cán bộ chấm điểm tín
dụng xác định được sau khi phân tích tiêu chí đó.
- Điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng bằng điểm ban đầu nhân với trọng số.
- Trọng số là mức độ quan trọng của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng (chỉ số tài
chính hoặc yếu tố phi tài chính) xét trên góc độ tác động rủi ro tín dụng.
Trong quy trình chấm điểm tín dụng, cán bộ chấm điểm tín dụng sử dụng các bảng
tiêu chuẩn để đánh giá các tiêu chí chấm điểm tín dụng theo nguyên tắc:
- Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí, chỉ số thực tế gần
với trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị số thì ưu
tiên nghiêng về phía loại tốt nhất.
- Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần (lớn hơn hoặc bằng 100% giá
trị khoản tín dụng) của một tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn, thì có thể sử
dụng kết quả xếp hạng tín dụng của bên bảo lãnh để xác định hạng tín dụng của
khách hàng (nếu bên bảo lãnh cũng được Ngân hàng cho vay chấm điểm). Quy trình
chấm điểm tín dụng của bên bảo lãnh cũng giống như quy trình áp dụng cho khách
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng. Trường hợp bảo lãnh một phần thì chỉ tiến hành chấm điểm tín dụng và xếp
hạng cho chính khách hàng.
1.2.4. Phân nhóm khách hàng trong chấm điểm tín dụng:
Do tính chất khác nhau giữa các khách hàng, để chấm điểm tín dụng và xếp
hạng khách hàng được chính xác, khoa học, NHCT Việt Nam phân chia khách hàng
vay có đủ điều kiện tiến hành chấm điểm tín dụng thành ba nhóm:
- Nhóm khách hàng là doanh nghiệp
- Nhóm khách hàng cá nhân (bao gồm cá nhân và hộ gia đình)
- Nhóm khách hàng là các tổ chức tín dụng
Mô hình xác suất tuyến tính sử dụng số liệu quá khứ, chẳng hạn các số liệu kế
toán, làm dữ liệu đầu vào để giải thích quá khứ chi trả cho các khoản đã vay. Mức độ
quan trong tương đối của các yếu tố được sử dụng để giải thích quá trình chi trả trong
quá khứ sẽ được sử dụng để dự đoán xác suất chi trả cho các khoản vay mới (
i
p
).
Giả sử các khoản vay cũ được chia thành hai nhóm: nhóm có rủi ro mất vốn (
i
Z
= 1)
và nhóm không có rủi ro (
i
Z
= 0). Chúng ta thiết lập mối quan hệ giữa các nhóm này
với các nhân tố ảnh hưởng tương ứng (
ij
X
) phản ánh đặc điểm của người vay thứ I
(như cơ cấu vốn hay thu nhập) theo mô hình đường thẳng tuyến tính với công thức
sau:
1
n
i j ij
j
Z X
β
=
= +
∑
9
Chuyên đề tốt nghiệp
sẽ khắc phục được nhược điểm này bằng cách giới hạn phạm vi dự tính xác suất rủi
ro nằm trong khoảng từ 0 đến 1.
1.2.5.2. Mô hình logit:
Mô hình logit giới hạn xác suất lũy kế của rủi ro mất vốn đối với một khoản
tín dụng nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và giả sử xác suất này được phân bổ theo dạng
hàm số:
( ) 1/(1 )
i
Z
i
F Z e
−
= +
Trong đó, e là cơ số tự nhiên,
( )
i
F Z
là xác suất lũy kế của mức rủi ro đối với
một khoản vay, và được tính toán theo mô hình đường thẳng tuyến tính tương tự như
mô hình trên. Như vậy, chúng ta có thể xác định giá trị dự tính của
i
Z
theo hàm số
tuyến tính cho một người vay mới, sau đó thay thế giá trị
i
Z
vào bên phải của hàm số
logit để xác định giá trị của F(
ro và không có rủi ro được rút ra từ một mô hình phân biệt. Hàm số phân biệt của
Altman có dạng sau:
1 2 3 4 5
1,2 1,4 3,3 0,6 1,0Z X X X X X= + + + +
Trong đó:
1
X
= Tỷ lệ giữa vốn lưu động và tổng tài sản có.
2
X
= Tỷ lệ giữa lợi nhuận tích lũy và tổng tài sản có.
3
X
= Tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi suất trên tổng tài sản có.
4
X
= Tỷ lệ giữa giá trị thị trường của cổ phiếu và giá kế toán của cá khoản nợ
dài hạn.
5
X
= Tỷ lệ giữa doanh thu và tổng tài sản có.
Giá trị của Z càng lớn thì mức độ rủi ro dự tính của người vay càng nhỏ. Giá
trị của Z càng nhỏ hoặc là âm có thể là căn cứ để xếp loại người vay vào nhóm có rủi
ro cao.
Giả sử các chỉ số tài chính của một khách hàng tiềm năng có các giá trị sau:
1
X
= 0,20;
2
X
trong việc giải thích quá khứ trả nợ của khách hàng. Giá trị chụ thể của Z là:
Z = 1,2(0,2) + 1,4(0) + 3,3(-0,2) + 0,6(0,1) + 1,0(2,0)
Z = 0,24 + 0 – 0,66 + 0,06 + 2,0
Z = 1,64
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo mô hình của Altman, bất kỳ khách hàng nào có điểm số Z nhỏ hơn 1,81
sẽ bị xếp vào khu vực có rủi ro cao. Trong trường hợp cụ thể này các tổ chức tín
dụng không nên cấp tín dụng cho đến khi khách hàng cải thiện được chỉ số thu nhập
của họ.
Việc sử dụng kỹ thuật đo lường mức độ rủi ro tín dụng này tương đối đơn
giản, tuy nhiên nó chứa đựng một số nhược điểm:
- Thứ nhất, mô hình này chỉ cho phép phân loại hai nhóm người vay có rủi ro
và không có rủi ro. Trong thực tế, mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách
hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả lãi được cho đến mức hoàn
toàn mất cả vốn và lãi của khoản vay. Điều này chỉ ra rằng việc phân loại các khách
hàng có rủi ro nên chi tiết hơn để kỹ thuật này trở nên chính xác hơn.
- Thứ hai, không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản
ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức Altman là bất biến, dù trong thời
gian ngắn. Tương tự như vậy, các chỉ số được chọn trong công thức cũng không phải
và không thể là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị
trường tài chính đang thay đổi liên tục. Các chỉ số tài chính khác phản ánh đặc điểm
cụ thể của người vay có thể trở nên hiệu quả trong việc giải thích các hành vi trả nợ
của khách hàng. Mặt khác, mô hình này phân biệt cũng giả thiết rằng các chỉ số trong
mô hình là hoàn toàn độc lập với nhau.
- Thứ ba, mô hình phân biệt đã không tính đến một số nhân tố khó định lượng
nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của các
khoản vay. Chẳng hạn danh tiếng của khách hàng hoặc mối quan hệ lâu dài giữa ngân
hàng và khách hàng hay các yếu tố vĩ mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế, trong
trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau của doanh
nghiệp.
o Phân tích các mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán hoặc
báo cáo kiểm toán để xác định được doanh nghiệp thuộc trường hợp “Đi
chiếm dụng vốn” (doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn nên sử dụng các nguồn
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
khác để bù đắp) hoặc “Bị chiếm dụng vốn” (doanh nghiệp bị các doanh
nghiệp hoặc đối tượng khác chiếm dụng vốn).
o Xem xét tỷ trọng từng khoản vốn (tài sản) của doanh nghiệp để xác định mức
độ đảm bảo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
o Xác định tỷ suất đầu tư của doanh nghiệp phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật, thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của
doanh nghiệp.
o Phân tích cơ cấu nguồn vốn, xác định tỷ suất tự tài trợ nhằm đánh giá được
khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự
chủ, chủ động trong kinh doanh. Tỷ suất tự tài trợ càng cao thể hiện khả năng
độc lập càng cao về mặt tài chính hay mức độ tài trợ của doanh nghiệp càng
tốt.
o Đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt vào ra.
o Phân tích tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.2.6.3. Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh
nghiệp:
Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh chất
lượng công tác tài chính. Khi nguồn bù đắp cho tài sản dự trữ thiếu, doanh nghiệp đi
chiếm dụng vốn, ngược lại khi nguồn bù đắp tài sản dự trữ dư thừa, doanh nghiệp bị
chiếm dụng. Khi phân tích cần phải chỉ ra được những khoản đi chiếm dụng và bị
chiếm dụng hợp lý. Nếu tình hình tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khả năng
thanh toán dồi dào; ít đi chiếm dụng vốn.
trong những nhiệm vụ của giám đốc chi nhánh ngân hàng là tìm cách hiểu nhu cầu
khách hàng của mình, nhưng ông ta lại chỉ gặp gỡ khách hàng nào muốn vay tiền. Để
hỗ trợ nhiệm vụ hiểu biết khách hàng, các chi nhánh đều lưu giữ các phiếu và hồ sơ
tham chiếu chứa đựng những chi tiết về khoản vay đã qua, bảng tóm tắt các cuộc
phỏng vấn đã thực hiện, người giám đốc phải tham khảo các thông tin này trước khi
phỏng vấn khách hàng, đồng thời cần phải xem xét giá trị các tài khoản của đối
tượng liên quan gửi tại chi nhánh. Với một khách hàng cá nhân, cần đặc biệt xem xét
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
15
Chuyên đề tốt nghiệp
liệu các khoản vay trong quá khứ có hoàn trả đúng thoả thuận hay không. Với khách
hàng doanh nghiệp, bên cạnh việc quan tâm tới lịch sử các tài khoản, người giám đốc
cần phải có đủ căn cứ để tin rằng khách hàng là ngưòi có kinh nghiệm trong công
việc, có trình độ quản lý cần thiết để điều hành doanh nghiệp và tái đầu tư lợi nhuận
vào doanh nghiệp. Phải luôn tìm kiếm một mức độ nhất quán nơi khách hàng và
thường xuyên cảnh giác với những nghi vấn dù nhỏ nhất nơi khách hàng.
Trong danh mục các câu hỏi để chấm điểm tín dụng, tuy nội dung phỏng vấn
nhằm vào các đối tượng riêng biệt, có 4 câu hỏi cơ bản được lưu tâm nhiều nhất. Đó
là:
- Khách hàng muốn vay bao nhiêu?
Bao nhiêu? Ngân hàng cần quan tâm tới vốn tự có của khách hàng và xem liệu
ngân hàng đang được yêu cầu cho vay quá nhiều so với số vốn tự có đó hay không.
Thông thường, nếu khách hàng có sẵn một số tiền hợp lý để đầu tư dự án thì anh ta sẽ
sốt sắng quan tâm sao cho kết quả tốt nhất. Vì vậy, ngân hàng không nên đầu tư vào
một khách hàng kinh doanh hay dự án nhiều hơn mức đầu tư của khách hàng. Tuy
đây không phải là quy tắc cứng nhắc cụ thể, nhưng đó được hầu hết các chi nhánh
ngân hàng tán đồng. Ngân hàng phải xem xét đề nghị, kiểm tra mọi số liệu cung cấp
và cố gắng nhận định xem liệu khoản cho vay của ngân hàng có thích hợp và đủ để
thực hiện dự án hay không. Nếu khoản cho vay chưa phù hợp thì sau này ngân hàng
dễ bị rơi vào tình trạng khó khăn là phải cho vay để bảo vệ khoản cho vay trước
để không cần đảm bảo nào, nhưng ngân hàng thường yêu cầu khách hàng cung cấp
đảm bảo thích hợp trong trường hợp khoản vay gặp trục trặc. Có nhiều loại bảo đảm
cho một khoản vay ngân hàng, tuy nhiên, có 3 yêu cầu đối với bất kỳ loại bảo đảm
nào để được ngân hàng chấp nhận: a) Dễ được định giá; b) Dễ cho ngân hàng quyền
được sở hữu hợp pháp; c) Dễ tiêu thụ hay thuận lơi. Cần lưu ý, bảo đảm là một vấn
đề phụ. Khi cho vay có tài sản bảo đảm, không bao giờ nên coi đó là nguồn trả nợ mà
chỉ là cái gì đó để dựa vào khi nguồn trả nợ dự kiến không thành.
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
17
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng
doanh nghiệp:
1.4.1. Yêu cầu về nguồn thông tin:
Việc duy trì thông tin tín dụng (TTTD) trong hệ thống NHCV là vô cùng quan
trọng do TTTD tạo lập cơ sở dữ liệu tập trung về khách hàng để phục vụ cho quá
trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng. Hệ thống
TTTD giúp tìm kiếm và phát hiện sớm các khoản tín dụng có vấn đề và đánh giá
đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ, đồng thời tiên liệu trước khả năng một khoản
tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu.
Một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như: Lịch sử hình thành và phát
triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành là cơ sở hết sức quan
trọng giúp cho công tác chấm điểm tín dụng. Nếu hệ thống này không đầy đủ sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng đánh giá, xếp loại khách hàng.
Để áp dụng phương pháp chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp, Ngân
hàng phải có một hệ thống thông tin tín dụng hiệu quả để tự thu thập thông tin một
cách chính xác và đầy đủ về khách hàng. Đây là một nhân tố rất quan trọng, quyết
định đến tính chính xác của kết quả chấm điểm tín dụng. Chất lượng nguồn thông tin
được thể hiện qua bốn yếu tố:
- Đầy đủ và kịp thời:
Theo định kỳ hoặc khi có phát sinh, mọi TTTD về khách hàng phải được thu
nhất Áp dụng công nghệ thông tin vào hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng
khách hàng làm tăng chất lượng lưu trữ, cập nhật và đảm bảo tính bảo mật của thông
tin. Công nghệ ngân hàng còn giúp cho hệ thống chấm điểm tín dụng thực hiện nhanh
và chính xác hơn. Đây là vấn đề không thể thiếu khi Ngân hàng muốn xây dựng được
một hệ thống chấm điểm hoàn chỉnh, chuẩn xác và hướng tới tiêu chuẩn quốc tế.
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
19
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.4. Năng lực và trình độ của cán bộ tín dụng:
Cán bộ chấm điểm tín dụng là người trực tiếp tiến hành thực hiện các bước
trong quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp.Kết quả đó phụ thuộc
rất nhiều vào năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng. Cán bộ tín dụng phải
là người hiểu biết sâu rộng quy trình chấm điểm tín dụng, phải thực sự có năng lực
để có thể đánh giá được một cách khách quan nhất về khách hàng.
1.4.5. Những thay đổi trong cơ cấu, thủ tục, chính sách:
Trước khi áp dụng mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, Ngân
hàng phải xây dựng quy trình chấm điểm tín dụng bao gồm: các bước thực hiện chấm
điểm, các chỉ tiêu, hệ thống tiêu chuẩn phục vụ cho quá trình chấm điểm, xếp hạng
doanh nghiệp, … Hệ thống chấm điểm tín dụng càng chi tiết, khoa học thì việc đánh
giá các doanh nghiệp càng chính xác. Ngoài ra, khi mô hình chấm điểm tín dụng
được triển khai, Ngân hàng sẽ ban hành các chính sách, thủ tục, quy chế cho vay mới
để hợp thức hóa vai trò của công tác chấm điểm tín dụng trong quy trình cho vay,
đồng thời thành lập một ban kiểm tra độc lập nhằm theo dõi, giám sát những sai sót
khi mô hình được đưa vào áp dụng.
Chấm điểm tín dụng là một mô hình hiện đại và rất hiệu quả trong lĩnh vực
quản lý rủi ro, tuy nhiên, để áp dụng tốt hệ thống này, Ngân hàng sẽ phải đầu tư rất
nhiều thời gian, tiền và công sức để đạt được kết quả tốt nhất.
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
lợi nhuận trung bình trong 3 năm gần đây đạt trên 300 tỷ đồng.
- Dư nợ và đầu tư luôn dẫn đầu trong cả hệ thống.
- Sở giao dịch I luôn là nơi được chọn thực hiện thí điểm các sản phẩm dịch vụ
mới của NHCT Việt Nam. Đây là đầu mối cho các chi nhánh NHCT trên địa bàn để
triển khai các chương trình do NHCT Việt Nam phát động.
Sau đây, chúng ta cùng điểm qua bảng tổng kết kết quả hoạt động của Sở giao
dịch I - Ngân hàng công thương Việt Nam trong 3 năm gần đây (2005 – 2007).
(Đơn vị: Tỷ đồng)
Chỉ tiêu 2005
200
6 2007
Lợi nhuận hạch toán nội bộ 347,5 343 331,5
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của SGD I - NHCT VN)
Trong 3 năm qua, hoạt động của Sở giao dịch I đạt kết quả tốt, lợi nhuận cuối
năm luôn vượt kế hoạch đề ra. Trong đó, tổng nguốn vốn huy động cuối năm 2007
nguồn vốn huy động đạt 16.718 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 11% trên tồng nguồn vốn
của toàn hệ thống NHCT; Dư nợ cho vay và đầu tư đến 31/12/2007 đạt 4.360 tỷ
đồng, tăng 11% so với năm 2005 và đạt tốc độ tăng bình quân hàng năm trên 10% ;
đồng thời các hoạt động dịch vụ khác cũng được Sở đẩy mạnh phát triển toàn diện
với nhiều sản phẩm như: Cho thuê két sắt, kiều hối, Eden, dịch vụ du học trọn gói,
dịch vụ điện tử qua mạng, dịch vụ thẻ, giải ngân các dự án ODA, …Doanh số hoạt
động thanh toán năm 2007 đạt 716.000 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 19%,
doanh số thanh toán XNK 2007 đạt 297 triệu USD, bình quân hàng năm tăng 26%.
2.2. Quy trình công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh
nghiệp tại Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt Nam
2.2.1. Thu thập thông tin
Người thực hiện: Cán bộ chấm điểm tín dụng
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề thì căn cứ vào ngành nghề
/lĩnh vực nào đem lại tỷ trọng doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp.
CBCĐTD tiến hành phân loại doanh nghiệp theo hướng dẫn trong bảng sau:
Nông, lâm,
ngư nghiệp
- Chăn nuôi
Trồng trọt: cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp,
…
- Trồng rừng
- Khai thác lâm sản
- Đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản
- Làm muối
Thương mại,
dịch vụ
- Cảng sông, biển
- Khách sạn, nhà hàng, giải trí, du lịch
- Siêu thị, đại lý phân phối, kinh doanh bán buôn, bán lẻ các loại
nông sản, lâm sản, thủy hải sản, thực phẩm, rượu bia, nước giải
khát, thuốc lá, dược phẩm, thiết bị y tế, mỹ phẩm, văn hóa phẩm,
vật liệu xây dựng, hàng điện tử, máy móc, phương tiện giao thông
vận tải, hóa chất (bao gồm cả phân bón, thuốc trừ sâu), hàng tiêu
dùng, hàng mỹ thuật, mỹ nghệ, điện, khí đốt.
- In ấn, xuất bản sách, báo chí
- Sửa chữa nhà cửa, các loại máy móc, phương tiện giao thông
- Chăm sóc sức khỏe, làm đẹp
- Tư vấn, môi giới
- Thiết kế thời trang, gia công may mặc
- Bưu chính viễn thông
- Vận tải đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt, hàng
không
Tiến hành chấm điểm quy mô doanh nghiệp theo hướng dẫn trong bảng sau: tại
phụ lục QT.35.02/PL03.
Bảng chấm điểm quy mô doanh nghiệp
Phan Thị Thanh An Tài chính doanh nghiệp 46B
25