Hoàn thiện mô hình chấm điểm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại Sở giao dịch I - Pdf 30


Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC VIẾT TẮT
NHCT : Ngân hàng Công thương
NHCV : Ngân hàng cho vay
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TTTD : Thông tin tín dụng
NSNN : Ngân sách Nhà nước
QLRR : Quản lý rủi ro
CBTD : Cán bộ tín dụng
DNV&N : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
XDCB: Xây dựng cơ bản
XNK : Xuất nhập khẩu

1

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường, hoạt động Ngân hàng luôn tiềm ẩn nhữn rủi ro, nhất là
hoạt động tín dụng. Các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín
dụng chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Thực tế hoạt động tín
dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua là một minh chứng
cho nhận định này: Hiệu quả hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa
tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn còn cao so với khu vực và chưa có khuynh hướng
giảm vững chắc. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại các NHTM Việt
Nam đang là vấn đề bức xúc trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn. Các nhà khoa
học, các nhà hoạch định chính sách ngân hàng đã đưa ra nhiều giải pháp để giải quyết
vấn đề này. Một trong những giải pháp đang được khuyến khích áp dụng đó là hệ
thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng. Đây là một vấn đề khá mới đối
với các NHTM Việt Nam nói chung và Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt

hoảng kinh tế 1929 – 1933 khi hàng loạt các nhà phát hành trái phiếu bị phá sản, vỡ
nợ. Thời kỳ này, chính phủ Hoa Kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế
đầu tư (các quỹ hưu trí, các quỹ bảo hiểm, ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua lại
các loại trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín
nhiệm. Những quy định này đã làm cho uy tín của các công ty xếp hạng tín nhiệm
ngày một lên cao. Song, trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín nhiệm chỉ được
phổ biến ở Mỹ, chỉ từ đầu những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm mới
được mở rộng và phát triển khá mạnh ở nhiều nước.
Ngày nay, khái niệm xếp hạng tín nhiệm chưa có được sự nhận thức thống
nhất. Theo Bohn, John A. viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên thị trường đang
chuyển đổi thì “Xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có
thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời
gian tồn tại của nó”.
Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch, xếp hạng tín nhiệm
là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một
nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói cách khác đi, đó là
đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét trong hoàn cảnh hướng về

3

Chuyên đề tốt nghiệp
tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và
lãi đúng hạn. Trong kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng cả ý kiến chủ quan của
chuyên gia xếp hạng tín nhiệm.
Theo công ty Moody’s, xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn
sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất
định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ.
Như vậy, có thể khái quát, xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời về mức
độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc và lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát
hành trong một thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Xếp hạng tín nhiệm là kết quả

thì NHTM không chỉ bị mất vốn tự có của bản thân, mà còn có nguy cơ không thể
hoàn trả được số tiền đã huy động của khách hàng. Vì vậy, tính chất trung gian tài
chính đặt ra yêu cầu đầu tiên đối với NHTM là phải thường xuyên thu hồi được số
vốn đã cho vay để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo
toàn vốn tự có của bản thân.
Một hệ thống ngân hàng tốt phụ thuộc một phần vào sự điều khiển của
NHTW, và rộng hơn, phụ thuộc vào sự tín nhiệm của khách hàng. Trách nhiệm chính
của các ngân hàng là phải cư xử như những công dân tốt trong kinh doanh: dù khả
năng sinh lời vẫn được coi là mối quan tâm chính, nhưng đôi khi phải gác điều này
lại để ưu tiên cho những nguyên tắc đạo đức có tính đến lợi ích của những người
khác. Mỗi khi Ngân hàng cho vay tiền, họ phải nhớ rằng vốn của họ là tiền gửi của
khách hàng, vì vậy điều quan trọng là họ phải cho vay những noi mà rủi ro do không
trả được nợ là thấp nhất.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ ngày càng phức tạp, rủi ro của nó ngày càng một
lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro đó để đảm bảo
an toàn cho hoạt động của NHTM. Trong xu hướng đó, “xếp hạng tín nhiệm” (credit
ratings) là một kỹ thuật ngày càng được chú ý rộng rãi trong hoạt động tín dụng ngân
hàng.
Ở Việt Nam, do thị trường trái phiếu chưa phát triển, có thể áp dụng việc xếp
hạng tín nhiệm cho các khách hàng khi vay vốn ngân hàng nhằm giúp ngân hàng có
thêm căn cứ để xác định đối tượng có thể cho vay được, không được cho vay, lãi suất
cho vay, vấn đề thế chấp, … Trên cơ sở phân tích, đánh giá với xếp hạng tín nhiệm

5

Chuyên đề tốt nghiệp
đối với khách hàng xin vay vốn ngân hàng, chúng ta có thể hạn chế rủi ro trong hoạt
động tín dụng.
Trước mắt, ở Việt Nam có thể áp dụng xếp hạng tín nhiệm dưới một hình thức
đơn giản: “chấm điểm tín dụng”.

Xét trên góc độ quản lý toàn bộ danh mục tín dụng, hệ thống chấm điểm tín
dụng và xếp hạng khách hàng còn nhằm mục đích:
- Phát triển chiến lược marketing nhằm hướng tới các khách hàng có ít rủi ro hơn.
- Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập dự phòng rủi ro
tín dụng.
Tóm lại, mục đích của việc chấm điểm tín dụng là giúp lường trước được các
rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh để từ đó có thể tránh được các rủi ro này.
1.2.3. Nguyên tắc của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng:
Trong quá trình chấm điểm tín dụng, cán bộ chấm điểm tín dụng sẽ thu được
điểm ban đầu và điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng.
- Điểm ban đầu là điểm của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng cán bộ chấm điểm tín
dụng xác định được sau khi phân tích tiêu chí đó.
- Điểm tổng hợp để xếp hạng khách hàng bằng điểm ban đầu nhân với trọng số.
- Trọng số là mức độ quan trọng của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng (chỉ số tài
chính hoặc yếu tố phi tài chính) xét trên góc độ tác động rủi ro tín dụng.
Trong quy trình chấm điểm tín dụng, cán bộ chấm điểm tín dụng sử dụng các bảng
tiêu chuẩn để đánh giá các tiêu chí chấm điểm tín dụng theo nguyên tắc:
- Đối với mỗi tiêu chí trên bảng tiêu chuẩn đánh giá các tiêu chí, chỉ số thực tế gần
với trị số nào nhất thì áp dụng cho loại xếp hạng đó, nếu nằm giữa hai trị số thì ưu
tiên nghiêng về phía loại tốt nhất.
- Trong trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần (lớn hơn hoặc bằng 100% giá
trị khoản tín dụng) của một tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn, thì có thể sử
dụng kết quả xếp hạng tín dụng của bên bảo lãnh để xác định hạng tín dụng của
khách hàng (nếu bên bảo lãnh cũng được Ngân hàng cho vay chấm điểm). Quy trình
chấm điểm tín dụng của bên bảo lãnh cũng giống như quy trình áp dụng cho khách

7

Chuyên đề tốt nghiệp
hàng. Trường hợp bảo lãnh một phần thì chỉ tiến hành chấm điểm tín dụng và xếp


Chuyên đề tốt nghiệp
 Mô hình xác suất tuyến tính.
 Mô hình logit.
 Mô hình probit.
 Mô hình phân biệt tuyến tính.
Nội dung chủ yếu cũng như những điểm mạnh và điểm yếu của từng kỹ thuật
sẽ được trình bày sau đây:
1.2.5.1. Mô hình xác suất tuyến tính:
Mô hình xác suất tuyến tính sử dụng số liệu quá khứ, chẳng hạn các số liệu kế
toán, làm dữ liệu đầu vào để giải thích quá khứ chi trả cho các khoản đã vay. Mức độ
quan trong tương đối của các yếu tố được sử dụng để giải thích quá trình chi trả trong
quá khứ sẽ được sử dụng để dự đoán xác suất chi trả cho các khoản vay mới (
i
p
).
Giả sử các khoản vay cũ được chia thành hai nhóm: nhóm có rủi ro mất vốn (
i
Z
= 1)
và nhóm không có rủi ro (
i
Z
= 0). Chúng ta thiết lập mối quan hệ giữa các nhóm này
với các nhân tố ảnh hưởng tương ứng (
ij
X
) phản ánh đặc điểm của người vay thứ I
(như cơ cấu vốn hay thu nhập) theo mô hình đường thẳng tuyến tính với công thức
sau:

p
);
i
p
là xác suất trả khoản nợ vay.
Kỹ thuật này thực được hiện một cách đơn giản khi các số liệu phản ánh đặc
điểm của người vay được cung cấp. Tuy nhiên điểm yếu của nó là ở chỗ xác suất rủi
ro mất vốn rất dễ nằm ngoài khoảng từ 0 đến 1. Các mô hình logit và probit sau đây

9

Chuyên đề tốt nghiệp
sẽ khắc phục được nhược điểm này bằng cách giới hạn phạm vi dự tính xác suất rủi
ro nằm trong khoảng từ 0 đến 1.
1.2.5.2. Mô hình logit:
Mô hình logit giới hạn xác suất lũy kế của rủi ro mất vốn đối với một khoản
tín dụng nằm trong khoảng từ 0 đến 1 và giả sử xác suất này được phân bổ theo dạng
hàm số:
( ) 1/(1 )
i
Z
i
F Z e

= +
Trong đó, e là cơ số tự nhiên,
( )
i
F Z
là xác suất lũy kế của mức rủi ro đối với

ro của người vay. Chỉ số này phụ thuộc vào giá trị của các chỉ số tài chính phản ánh

10

Chuyên đề tốt nghiệp
tình trạng tài chính của người vay (
j
X
) và mức độ quan trọng của các chỉ số này
trong việc quyết định mức độ rủi ro của người vay. Các giá trị này, đến lượt nó được
xác định thông qua kinh nghiệm phân tích và so sánh giữa hai nhóm người vay có rủi
ro và không có rủi ro được rút ra từ một mô hình phân biệt. Hàm số phân biệt của
Altman có dạng sau:
1 2 3 4 5
1,2 1,4 3,3 0,6 1,0Z X X X X X= + + + +
Trong đó:
1
X
= Tỷ lệ giữa vốn lưu động và tổng tài sản có.
2
X
= Tỷ lệ giữa lợi nhuận tích lũy và tổng tài sản có.
3
X
= Tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi suất trên tổng tài sản có.
4
X
= Tỷ lệ giữa giá trị thị trường của cổ phiếu và giá kế toán của cá khoản nợ
dài hạn.
5

X
= 10% chứng tỏ tỷ lệ vốn nợ cao. Tuy nhiên, chỉ số phản ánh mức độ thanh
khoản (
1
X
) và tỷ lệ doanh thu (
5
X
) lại tương đối khả quan. Tổng hợp lại, giá trị Z sẽ
cho thấy một chỉ số chung phản ánh mức độ rủi ro tín dụng dự tính của một khách
hàng trên cơ sở kết hợp cả 5 chỉ số, có tính đến mức độ quan trọng của từng chỉ số
trong việc giải thích quá khứ trả nợ của khách hàng. Giá trị chụ thể của Z là:
Z = 1,2(0,2) + 1,4(0) + 3,3(-0,2) + 0,6(0,1) + 1,0(2,0)
Z = 0,24 + 0 – 0,66 + 0,06 + 2,0
Z = 1,64

11

Chuyên đề tốt nghiệp
Theo mô hình của Altman, bất kỳ khách hàng nào có điểm số Z nhỏ hơn 1,81
sẽ bị xếp vào khu vực có rủi ro cao. Trong trường hợp cụ thể này các tổ chức tín
dụng không nên cấp tín dụng cho đến khi khách hàng cải thiện được chỉ số thu nhập
của họ.
Việc sử dụng kỹ thuật đo lường mức độ rủi ro tín dụng này tương đối đơn
giản, tuy nhiên nó chứa đựng một số nhược điểm:
- Thứ nhất, mô hình này chỉ cho phép phân loại hai nhóm người vay có rủi ro
và không có rủi ro. Trong thực tế, mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách
hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả lãi được cho đến mức hoàn
toàn mất cả vốn và lãi của khoản vay. Điều này chỉ ra rằng việc phân loại các khách
hàng có rủi ro nên chi tiết hơn để kỹ thuật này trở nên chính xác hơn.

o Tổng sản lượng doanh nghiệp: Vốn tự có, vốn vay;
o Chất lượng và giá cả sản phẩm;
o Địa thế kinh doanh;
o Đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ lao động của doanh nghiệp;
o Tài sản đảm bảo.
1.2.6.2. Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục
tiêu chủ yếu là có được đầy đủ các thông tin hữu ích về nguồn vốn chủ sở hữu, các
khoản nợ, kết quả của các quá trình, sự kiện và hoàn cảnh làm biến đổi các nguồn
vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp.
o Dựa vào các số liệu phản ánh trên bảng cân đối kế toán, xác định và phân tích
kết cấu nguồn vốn qua việc so sánh tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn
giữa /cuối kỳ với đầu kỳ để thấy được quy mô vốn mà doanh nghiệp sử dụng
trong kỳ cũng như khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau của doanh
nghiệp.
o Phân tích các mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế toán hoặc
báo cáo kiểm toán để xác định được doanh nghiệp thuộc trường hợp “Đi
chiếm dụng vốn” (doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn nên sử dụng các nguồn

13

Chuyên đề tốt nghiệp
khác để bù đắp) hoặc “Bị chiếm dụng vốn” (doanh nghiệp bị các doanh nghiệp
hoặc đối tượng khác chiếm dụng vốn).
o Xem xét tỷ trọng từng khoản vốn (tài sản) của doanh nghiệp để xác định mức
độ đảm bảo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
o Xác định tỷ suất đầu tư của doanh nghiệp phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật, thể hiện năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của
doanh nghiệp.
o Phân tích cơ cấu nguồn vốn, xác định tỷ suất tự tài trợ nhằm đánh giá được

o Nhu cầu hiện tại và dự kiến trong tương lai
 Tình hình cạnh tranh trên thị trường:
o Mức sản xuất, uy tín sở trường hoạt động của các đối thủ cạnh tranh
o Tương lai phát triển của các đối thủ cạnh tranh
1.2.6.5. Đánh giá điều kiện kinh tế nói chung:
o Những quy định chính sách của Nhà nước
o Chiến lược phát triển ngành kinh tế trong tương lai
o Vị thế ngành công nghiệp liên quan trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân.
Trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động và luôn thay đổi trên thế giới hiện nay,
mà trong đó có Việt Nam thì việc thẩm định, đánh giá chấm điểm tín dụng và xếp
hạng khách hàng giữ vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ các nhà đầu tư, đảm bảo
cho thị trường hoạt động an toàn và có hiệu quả, giảm bớt rủi ro kinh doanh cho các
ngân hàng khi thực hiện cho vay vốn.
1.3. Các câu hỏi cơ bản trong kỹ thuật chấm điểm tín dụng:
Có một yếu tố biến thiên trong mọi đề nghị cho vay: Đó là khách hàng. Một
trong những nhiệm vụ của giám đốc chi nhánh ngân hàng là tìm cách hiểu nhu cầu
khách hàng của mình, nhưng ông ta lại chỉ gặp gỡ khách hàng nào muốn vay tiền. Để
hỗ trợ nhiệm vụ hiểu biết khách hàng, các chi nhánh đều lưu giữ các phiếu và hồ sơ
tham chiếu chứa đựng những chi tiết về khoản vay đã qua, bảng tóm tắt các cuộc
phỏng vấn đã thực hiện, người giám đốc phải tham khảo các thông tin này trước khi
phỏng vấn khách hàng, đồng thời cần phải xem xét giá trị các tài khoản của đối
tượng liên quan gửi tại chi nhánh. Với một khách hàng cá nhân, cần đặc biệt xem xét

15

Chuyên đề tốt nghiệp
liệu các khoản vay trong quá khứ có hoàn trả đúng thoả thuận hay không. Với khách
hàng doanh nghiệp, bên cạnh việc quan tâm tới lịch sử các tài khoản, người giám đốc
cần phải có đủ căn cứ để tin rằng khách hàng là ngưòi có kinh nghiệm trong công
việc, có trình độ quản lý cần thiết để điều hành doanh nghiệp và tái đầu tư lợi nhuận

khách hàng cũng phải được hoàn trả trong thời hạn tương tự. Về mặt kỹ thuật, mọi
khoản cho vay của ngân hàng đều phải được hoàn trả tốt đẹp khi ngân hàng có yêu
cầu. Đây là nguyên tắc kinh doanh tiền tệ của một kinh doanh tài chánh.
- Trả nợ như thế nào?
Việc hoàn trả mọi khoản vay thường lấy từ thu nhập tương lai của khách hàng.
Để đánh giá đề nghị vay của khách hàng, ngân hàng phải đòi hỏi chi tiết về thu nhập
và chi tiêu thông thường của khách hàng, kể cả các khoản trả dần hay mua chịu hiện
có. Những thông tin này là cần thiết, vị khách hàng thường xin vay mà không tính
toán là mình có trả nợ hay không. Đối với các doanh nghiệp, tiền trả nợ chỉ có thể lấy
từ lợi nhuận trong tương lai. Vì vậy, Ngân hàng cần được bảo đảm rằng tiền cho vay
của ngân hàng sẽ làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, sau khi đã giành ra tiền trả lãi
và phí cho khoản vay. Do đó, ngân hàng phải hỏi khách hàng về kế hoạch tiền mặt và
dự kiến tài khoản lỗ lãi và bản tổng kết tài sản cho năm tới. Ngân hàng sẽ phân tích
để biết được khách hàng đó sẽ dự tính nghiêm túc hay chỉ lập kế hoạch để làm vừa
lòng mình.
Trong các câu hỏi trên, chưa câu nào đề cập đến sự bảo đảm cho một khoản
vay. Tuy rằng, mọi đề nghị vay vốn đều phải “tự mình đứng vững”, tức là phải đủ tốt
để không cần đảm bảo nào, nhưng ngân hàng thường yêu cầu khách hàng cung cấp
đảm bảo thích hợp trong trường hợp khoản vay gặp trục trặc. Có nhiều loại bảo đảm
cho một khoản vay ngân hàng, tuy nhiên, có 3 yêu cầu đối với bất kỳ loại bảo đảm
nào để được ngân hàng chấp nhận: a) Dễ được định giá; b) Dễ cho ngân hàng quyền
được sở hữu hợp pháp; c) Dễ tiêu thụ hay thuận lơi. Cần lưu ý, bảo đảm là một vấn
đề phụ. Khi cho vay có tài sản bảo đảm, không bao giờ nên coi đó là nguồn trả nợ mà
chỉ là cái gì đó để dựa vào khi nguồn trả nợ dự kiến không thành.

17

Chuyên đề tốt nghiệp
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác chấm điểm tín dụng và xếp hạng
doanh nghiệp:

thực tiễn để đảm bảo tính trung thực và khách quan. Mọi thông tin có được từ các
nguồn không hợp lệ chỉ sử dụng cho mục đích tham khảo.
- Nhất quán:
TTTD phải được tập hợp, cập nhật, theo dõi liên tục theo thời gian, ít nhất cho
tới khi khách hàng chấm dứt quan hệ với NHCV.
- Bảo mật:
TTTD phải được lưu trữ, quản lý theo chế độ bảo mật như tài sản riêng có của
NHCV; sử dụng an toàn, bí mật, không gây ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thông tin
và không cung cấp cho bên thứ 3.
1.4.2. Đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn:
Chấm điểm tín dụng là một mô hình mới được áp dụng tại Việt Nam, các tiêu
chí và quy trình đánh giá được đưa ra phụ thuộc rất lớn vào các chuyên gia có kinh
nghiệm, khả năng phân tích và hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực tín dụng. Ngân hàng
muốn hoàn thiện công tác chấm điểm tín dụng ngoài các cán bộ cao cấp trong nội bộ
còn nên lắng nghe ý kiến tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc phát
triển mô hình.
1.4.3. Trình độ hiện đại hóa công nghệ ngân hàng:
Hệ thống công nghệ của ngân hàng phải đủ hiện đại có thể kết hợp phần mềm
chấm điểm tín dụng và tạo thành một quy trình cho vay và kiểm soát tín dụng thống
nhất Áp dụng công nghệ thông tin vào hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng
khách hàng làm tăng chất lượng lưu trữ, cập nhật và đảm bảo tính bảo mật của thông
tin. Công nghệ ngân hàng còn giúp cho hệ thống chấm điểm tín dụng thực hiện nhanh
và chính xác hơn. Đây là vấn đề không thể thiếu khi Ngân hàng muốn xây dựng được
một hệ thống chấm điểm hoàn chỉnh, chuẩn xác và hướng tới tiêu chuẩn quốc tế.

19

Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.4. Năng lực và trình độ của cán bộ tín dụng:
Cán bộ chấm điểm tín dụng là người trực tiếp tiến hành thực hiện các bước

Ngày 30/12/1998, Chủ tịch HĐQT NHCTVN ký quyết định số 134/QĐ-HĐQT-
NHCT1 sắp xếp tổ chức hoạt động Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt
Nam theo điều lệ tổ chức và hoạt động của NHCTVN.
Ngày 20/10/2003, Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCT Việt Nam ban hành quyết
định số 153/QĐ-HĐQT về mô hình tổ chức mới của Sở giao dịch I theo Dự án hiện
đại hóa Ngân hàng và công nghệ thanh toán do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ.
Theo điều lệ của NHCT Việt Nam, Sở giao dịch I là đại diện ủy quyền của
NHCT Việt Nam, có quyền tự chủ trong kinh doanh, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ
và quyền lợi đối với NHCT Việt Nam. Sở giao dịch I có con dấu và mở tài khoản tại
Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng khác.
2.1.2. Tình hình hoạt động của Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt
Nam trong thời gian qua:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, NHCT Việt Nam và Sở giao
dịch I nói riêng đã có những bước phát triển khả quan, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch
về tín dụng, huy động vốn, lợi nhuận, trích lập dự phòng rủi ro. Trong nhiều năm
qua, sở giao dịch I luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống NHCT Việt Nam..
Điều này được thể hiện trong một số chỉ tiêu cơ bản:

21

Chuyên đề tốt nghiệp
- Là đơn vị đứng đầu về tỷ lệ huy động vống trong toàn hệ thống Công thương,
lợi nhuận trung bình trong 3 năm gần đây đạt trên 300 tỷ đồng.
- Dư nợ và đầu tư luôn dẫn đầu trong cả hệ thống.
- Sở giao dịch I luôn là nơi được chọn thực hiện thí điểm các sản phẩm dịch vụ
mới của NHCT Việt Nam. Đây là đầu mối cho các chi nhánh NHCT trên địa bàn để
triển khai các chương trình do NHCT Việt Nam phát động.
Sau đây, chúng ta cùng điểm qua bảng tổng kết kết quả hoạt động của Sở giao
dịch I - Ngân hàng công thương Việt Nam trong 3 năm gần đây (2005 – 2007).
(Đơn vị: Tỷ đồng)

- Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN Việt Nam.
- Các nguồn khác.
Cách thức thu thập thông tin, danh mục câu hỏi điều tra được hướng dẫn chi tiết
tại phụ lục QT.35.02/PL01.
Trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần (lớn hơn hoặc bằng 100% giá trị
khoản tín dụng) của một tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn, thì có thể sử dụng
kết quả xếp hạng tín dụng của bên bảo lãnh để xác định hạng tín dụng của khách
hàng (nếu bên bảo lãnh cũng được Ngân hàng cho vay chấm điểm), đưa vào kết quả
chấm điểm xếp hạng (bước 6).
2.2.2. Xác định ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Người thực hiện: Cán bộ chấm điểm tín dụng
Căn cứ vào ngành nghề /lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính đăng ký trên giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, xác định ngành nghề /lĩnh vực sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Nông, lâm và ngư nghiệp
- Thương mại và dịch vụ
- Xây dựng
- Công nghiệp

23

Chuyên đề tốt nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề thì căn cứ vào ngành nghề
/lĩnh vực nào đem lại tỷ trọng doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp.
CBCĐTD tiến hành phân loại doanh nghiệp theo hướng dẫn trong bảng sau:
Nông, lâm,
ngư nghiệp
- Chăn nuôi
Trồng trọt: cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp,


Công nghiệp - Chế biến các loại nông sản, lâm sản, thủy hải sản, thực phẩm,
rượu bia, nước giải khát
- Sản xuất thuốc lá, dược phẩm, thiết bị y tế, mỹ phẩm, văn hóa
phẩm, vật liệu xây dựng, hóa chất (bao gồm cả phân bón, thuốc trừ
sâu), hàng tiêu dùng, hàng mỹ thuật, mỹ nghệ, nguyên vật liệu cho
các ngành khác.
- Sản xuất, lắp ráp hàng điện tử, máy móc, phương tiện giao thông
vận tải
- Sản xuất điện, khí đốt
- Khai thác khoáng sản
- Khai thác than, vật liệu xây dựng (cát, đá, …), dầu khí.
2.2.3. Chấm điểm và xác định quy mô của doanh nghiệp
Người thực hiện: Cán bộ chấm điểm tín dụng
Các tiêu chí sử dụng để chấm điểm và xác định quy mô doanh nghiệp gồm:
nguồn vốn kinh doanh, lao động, doanh thu thuần và giá trị nộp Ngân sách Nhà nước.
Trong đó:
- Lao động: Là số lao động thực tế sử dụng (được nêu tại thuyết minh báo cáo
tài chính) tính bình quân trong 3 năm gần nhất.
- Giá trị nộp NSNN: Lấy theo số thực nộp vào NSNN phát sinh trong kỳ (không
kể số thiếu của kỳ trước nộp kỳ này) bao gồm các loại thuế và các khoản nộp khác
theo quy định của Nhà nước trong năm báo cáo (không tính các khoản thuế xuất nhập
khẩu, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, các khoản tiền phạt,
phụ thu).
Tiến hành chấm điểm quy mô doanh nghiệp theo hướng dẫn trong bảng sau: tại
phụ lục QT.35.02/PL03.
Bảng chấm điểm quy mô doanh nghiệp

25

Trích đoạn Chấm điểm các chỉ số tài chính Chấm điểm các tiêu chí phi tài chính Rà soát kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng (đố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status