Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử hình thành và phát triển của ngành ngân hàng gắn liền với lịch
sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều
kiện và đòi hỏi sự phát triển của hệ thống ngân hàng, đến lượt mình sự phát
triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực phát triển kinh tế. Định chế
tài chính trung gian này cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất trong đó tín dụng là một nội dung quan trọng, chiếm từ 60 – 80% trong
toàn bộ hoạt động kinh doanh ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng chứa
đựng trong nó nhiều rất nhiều rủi ro, do đó rủi ro từ hoạt động tín dụng là điều
không thể tránh khỏi. Rủi ro tín dụng chiếm tới 90% trong số các loại rủi ro
cơ bản và có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động ngân hàng. Do tác động của rủi
ro tín dụng đến kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng nên quản trị rủi ro
tín dụng là một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay, được sự quan tâm chú
ý đặc biệt của các ngân hàng.
Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế là đối tượng
chủ yếu được các ngân hàng cấp tín dụng. Trong bất kì một nền kinh tế nào,
doanh nghiệp cũng đóng vai trò là chủ thể lớn. Do đó, việc cấp tín dụng cho
khách hàng là doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần có sự quản
lí sát sao.
Xuất phát từ nhận thức trên, nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề
cùng với việc nghiên cứu tình hình quản trị rủi ro tín dụng thực tế tại Sở giao
dịch ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, em xin chọn đề tài “ Hoàn thiện
quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp tại Sở giao
dịch Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam” cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình. Chuyên đề tốt nghiệp có kết cấu làm 3 chương:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương I: Lý luận về quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng.
Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch Ngân
1.1.1.2. Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Rủi ro của ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau song đều có bản chất chung đó là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng
phải gánh chịu.
* Phân chia rủi ro theo các loại tài sản có:
- Rủi ro trong quản lí và kinh doanh ngân quỹ.
- Rủi ro tín dụng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Rủi ro trong quản lí và kinh doanh chứng khoán.
- Rủi ro trong cho thuê.
- Rủi ro đối với các tài sản khác của ngân hàng.
* Phân chia rủi ro theo nguyên nhân và các yếu tố tác động có:
- Rủi ro tín dụng.
- Rủi ro lãi suất.
- Rủ ro hối đoái.
- Rủi ro do thanh khoản.
- Rủi ro tồn đọng vốn.
- Các loại rủi ro khác.
1.1.2. Rủi ro tín dụng.
1.1.2.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
Hoạt động tín dụng (hay hoạt động cho vay) là hoạt động chính tạo ta
phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động cho vay có thể phân chia làm
nhiều loại khác nhau theo tính chất và đối tượng của hoạt động tín dụng. Tuy
nhiên, hoạt động cho vay phải đảm bảo một số điều kiện cơ bản. Ba điều kiện
cơ bản của một hợp đồng cho vay là:
* Thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả hay thời gian đáo hạn của hợp
đồng.
* Vốn vay phải đảm bảo sử dụng đúng mục đích.
* Về nguyên tắc, vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương.
Hoạt động tín dụng có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí, trong đó có
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm…
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Nợ quá hạn có khả năng thu hòi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời gian
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị
lớn…
- Nợ khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế
chấp quá nhỏ hoặc bị giảm giá…
* Phân loại khác:
- Theo ngành kinh tế ( công, nông nghiệp…)
- Theo đối tượng tín dụng ( tài sản lưu động, tài sản cố định)
- Theo mục đích ( sản xuất, tiêu dùng…)
1.1.2.2. Khái niệm rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng, theo
quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra
tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không
thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
1.1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.
* Các nhân tố thuộc về ngân hàng:
- Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng: Chất
lượng cán bộ tín dụng bao gồm trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.
Đây là những nhân tố đầu tiên, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý
rủi ro tín dụng của NHTM.
- Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng:
+ Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc hạn chế sai sót khi cho vay và giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng.
Quy trình tín dụng sẽ quy định rõ từng khâu công việc và trách nhiệm cụ thể
của các cán bộ có liên quan.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nước ban hành.
1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Đối với rủi ro tín dụng, trước hết, nên coi đó là một hiện tượng có thể xảy
ra ngoài mong muốn của ngân hàng khi thực hiện cho vay đối với khách
hàng. Với quan niệm như vậy, mỗi khi bắt đầu xem xét một khoản tín dụng,
ngân hàng cần lường trước những rủi ro có thể xảy ra. Đây cũng chính là xuất
phát điểm hình thành nên ý tưởng quản trị rủi ro tín dụng của NHTM. Mặc dù
rủi ro tín dụng là một hiện tượng tiềm ẩn và không phải bao giờ cũng xảy ra
khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn, nhưng trong nhiều trường hợp, do
tính lặp lại của rủi ro nên người ta có thể nhận biết được tính quy luật của nó.
Chính vì điều này mà ngân hàng có thể tìm ra những biện pháp quản lý nhằm
hạn chế khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín
dụng gây ra.
Như vậy, “quản lý rủi ro tín dụng là một trong những nội dung quản lý
của NHTM bao gồm: nhận biết và đánh giá mức độ rủi ro, thực thi các biện
pháp hạn chế khả năng xảy ra rủi ro và giảm thiểu tổn thất khi rủi ro tín dụng
xảy ra.”
1.2.2. Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng thương mại.
Rủi ro luôn tồn tại song song với các hoạt động kinh doanh NHTM, vì
vậy việc hạn chế rủi ro đến mức tối thiểu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối
với ngân hàng. Tín dụng là một nội dung quan trọng, chiếm khoảng 60-80%
trong toàn bộ hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các rủi ro tín dụng vì thế có
ảnh hưởng rất lớn tới ngân hàng, thông thường các rủi ro tín dụng vào khoảng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
90% các rủi ro cơ bản. Quản trị rủi ro tín dụng là một trong những vấn đề
trọng tâm hiện nay, đang được sự quan tâm chú ý đặc biệt của hệ thống ngân
hàng trên toàn thế giới. Khi ngân hàng kiểm soát tốt được rủi ro tín dụng sẽ
tránh được nhiều điều bất lợi,chủ yếu là các vấn đề như:
* Quản trị rủi ro tín dụng tốt sẽ tránh được tình trạng phá sản ngân hàng:
Nếu doanh nghiệp vay vốn ngân hàng gặp khó khăn trong việc hoàn trả, nhất
là những món vay lớn thì có thể dẫn đến khủng hoảng trong hoạt động của
chính ngân hàng. Ngân hàng nếu chuẩn bị kịp thời cho những tình huống như
vậy, sẽ nhanh chóng đáp ứng được khả năng thanh toán, tránh được sự sụp đổ
của ngân hàng nếu Ngân hàng Trung Ương không can thiệp kịp thời hoặc
không thể can thiệp.
1.2.2.2. Đối với khách hàng.
Quản trị rủi ro tín dụng tốt sẽ giúp khách hàng tránh được tình trạng
không trả được nợ hoặc phá sản. Lãi vay ngân hàng được hạch toán vào chi
phí sản xuất của doanh nghiệp. Khi để phát sinh nợ quá hạn với lãi suất lớn
hơn (=150%) lãi suất trong hạn thì chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Doanh nghiệp đã đang gặp khó khăn trong tình hình tài chính, giờ lại càng
thêm khó khăn gấp bội. Nguy cơ không có đủ tiền để trả nợ cho ngân hàng là
điều không thể tránh khỏi, dẫn đến việc phát mại tài sản thế chấp, đôi khi dẫn
đến tình trạng phá sản cho khách hàng.
1.2.2.3. Đối với nền kinh tế.
Quản trị rủi ro tín dụng tốt sẽ tránh được tình trạng khủng hoảng kinh tế.
Khi ngân hàng gặp khó khăn thì việc cung cấp vốn cho doanh nghiệp, nền
kinh tế bị ngừng trệ. Do một lượng vốn lớn nằm tồn đọng trong các khoản nợ
quá hạn, nợ khó đòi, ngân hàng không có đủ vốn để cho vay các dự án có hiệu
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quả, mở rộng và phát triển sản xuất. Trong khi đó, tiền cho vay của ngân hàng
lại hoạt động không có hiệu quả mà ngân hàng lại không thể kiểm soát nổi.
Kết quả là sản xuất đình đốn, nền kinh tế không phát triển, xã hội bị rối loạn.
Quản trị tốt sẽ tránh được rủi ro nói trên.
Như vậy, rủi ro tín dụng xảy ra dù ở mức độ nào cũng gây ảnh hưởng
đến sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăng trưởng của nền kinh tế
nói chung. Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng không chỉ là trách nhiệm của riêng
ngân hàng mà là của toàn nền kinh tế.
thương mại thông thường, quản lý chặt chẽ các khoản vay đối với các doanh
nghiệp và cá nhân có liên quan, làm giảm bớt rủi ro cho vay đối với các bên
có liên quan.
* Duy trì một quy trình quản lý, đánh giá và kiểm soát tín dụng có hiệu
quả:
- Nguyên tắc 8: Áp dụng quy trình quản lý tín dụng có hiệu quả và đầy đủ
đối với các danh mục tín dụng.
- Nguyên tắc 9: Có hệ thống kiểm soát đối với các điều kiện liên quan đến
từng khoản tín dụng riêng lẻ, đánh giá tính đầy đủ của các khoản dự phòng rủi
ro tín dụng.
- Nguyên tắc 10: Xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ.
Hệ thống đánh giá cần phải nhất quán với các hoạt động của ngân hàng.
- Nguyên tắc 11: Hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích: giúp Ban quản
lý đánh giá rủi ro tín dụng cho các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế
toán, cung cấp thông tin về cơ cấu và thành phần danh mục tín dụng, bao gồm
cả việc phát hiện các tập trung rủi ro.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Nguyên tắc 12: Có hệ thống nhằm kiểm soát đối với: Cơ cấu tổng thể
của danh mục tín dụng, chất lượng danh mục tín dụng.
- Nguyên tắc 13: Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện
kinh tế có thể xảy ra trong tương lai trong những tình trạng khó khăn khi đánh
giá danh mục tín dụng.
* Đảm bảo quy trình kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng:
- Nguyên tắc 14: Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục,
và cần thông báo kết quả đánh giá cho Hội đồng quản trị và ban quản lý cấp
cao.
- Nguyên tắc 15: Quy trình cấp tín dụng cần phải được theo dõi đầy đủ, cụ
thể: Việc cấp tín dụng phải tuân thủ với các tiêu chuẩn thận trọng, thiết lập và
áp dụng kiểm soát nội bộ, những vi phạm về các chính sách, thủ tục và hạn
mức tín dụng cần được báo cáo kịp thời.
thu hồi hết gốc và lãi của khoản vay. Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả
đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Trong một số trường hợp,
người vay không hoàn trả nợ hoặc hoàn trả không đầy đủ và đúng hạn. Điều
đó có nghĩa là rủi ro tín dụng đã xảy ra. Lúc này cán bộ tín dụng cần xem xét,
tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không thanh toán nợ cho ngân
hàng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Như vậy, để đảm bảo hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, các
ngân hàng phải xây dựng một quy trình tín dụng cụ thể và thống nhất. Quy
trình này phải được ban lãnh đạo của ngân hàng thông qua và phổ biến rộng
rãi đến các phòng, ban có liên quan cũng như toàn bộ cán bộ tín dụng trong
ngân hàng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
* Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng bao gồm các quy định về cho
vay của ngân hàng. Chính sách này được xây dựng nhằm thực hiện mục tiêu,
chiến lược kinh doanh của ngân hàng, đồng thời hình thành cơ chế để đảm
bảo nâng cao lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Chính sách tín dụng bao gồm các
nội dung chính sau:
- Chính sách khách hàng
- Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng
- Lãi suất và phí suất tín dụng
- Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ
- Các loại bảo đảm tiền vay
- Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán
- Chính sách đối với các khoản nợ xấu
* Mô hình đánh giá rủi ro tín dụng: Để xác định chính xác mức độ rủi
ro của mỗi khoản vay, các ngân hàng thường áp dụng một số mô hình cụ thể
để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm cả mô hình
phản ánh về mặt định tính và mô hình phản ánh về mặt định lượng. Đặc điểm
của các mô hình này là không loại trừ lẫn nhau nên một ngân hàng có thể sử
dụng cùng một lúc nhiều mô hình khác nhau để hỗ trợ, bổ sung trong việc
kinh doanh của khách hàng, cũng như khi các điều kiện kinh tế thay đổi sẽ
ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của người vay.
- Mô hình điểm số Z (Z - Credit scoring model): Đây là mô hình do
E.I.Altman xây dựng dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp
vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng
đối với người vay và phụ thuộc vào trị số của các chỉ số tài chính của người
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vay. Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ
của người vay trong quá khứ. Từ đó Altman đã xây dựng mô hình tính điểm
như sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó: X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi / tổng tài sản
X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch
toán của tổng nợ
X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản
Trị số Z càng cao, người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Vậy khi
trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có
nguy cơ vỡ nợ cao. Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào
có điểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng
cao.
- Mô hình cho điểm theo chỉ tiêu: Mô hình này bao gồm một hệ thống các
chỉ tiêu liên quan đến từng đối tượng khách hàng (doanh nghiệp hay cá nhân),
mỗi chỉ tiêu có điểm số khác nhau phụ thuộc vào tính chất và tầm quan trọng
của chúng. Căn cứ vào tình trạng của khách hàng và thang điểm của ngân
hàng, cán bộ tín dụng sẽ quyết định số điểm tương ứng cho từng chỉ tiêu, sau
đó cộng tổng số điểm. Khi có tổng số điểm, căn cứ vào bảng chuẩn, cán bộ tín
dụng có thể đệ trình quyết định cho vay hoặc từ chối yêu cầu xin vay. Với
tổng số điểm cao hơn mức điểm chuẩn thì khách hàng đó được vay và thấp
- Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, quản
trị, điều hành độc đoán hoặc ngược lại quá phân tán.
- Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện: Được hoạch định
bởi HĐQT hoặc Giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm; HĐQT
hoặc Giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia quá sâu vào vấn đề
thường nhật; Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ; Thuyên chuyển
nhân viên diễn ra thường xuyên; lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất
hiện các hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi.
- Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người
quản lý không thuộc gia đình; cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo,
huấn luyện đầy đủ đảm đương cương vị then chốt.
- Có tranh chấp trong quá trình quản lý.
- Có các chi phí quản lý bất hợp lý: Tập trung quá nhiều chi phí để gây ấn
tượng như thiết bị văn phòng quá hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền,
Ban Giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài
chính cá nhân.
* Nhóm các dấu hiệu liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh:
- Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: Doanh nghiệp bị ám ảnh bởi một
khách hàng có tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc; Ban Giám đốc cắt
giảm lợi nhuận nhằm có được những hợp đồng lớn.
- Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: Bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà
không chú ý đến các yếu tố khác.
- Sự cấp bách không thích hợp như: Do áp lực nội bộ dẫn tới việc tung ra
sản phẩm dịch vụ quá sớm, các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không
thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc...
* Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật thương mại:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất; thay đổi thị hiếu; cập nhật kỹ
thuật mới; mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn; thêm đối thủ cạnh tranh.
- Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao.
mà TCTD có đủ khả cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của khách hàng bị
suy giảm và chủ động phân loại thành các nhóm nợ rủi ro cao hơn.
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90
đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định.
+ Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; các khoản nợ khác theo quy định.
+ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày; các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu
lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại; các
khoản nợ khác theo quy định.
- "Nợ quá hạn" là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
đã quá hạn.
- "Nợ xấu" (NPL) là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 theo quy
định trên. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín
dụng của tổ chức tín dụng.
- "Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ" là khoản nợ mà tổ chức tín dụng chấp
thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ cho khách hàng do tổ chức tín
dụng đánh giá khách hàng suy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời
hạn ghi trong hợp đồng tín dụng nhưng tổ chức tín dụng có đủ cơ sở để đánh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ đã cơ
cấu lại.
* Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng:
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan song ngân hàng phải quản lí rủi ro tín
dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra. Từ những
nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng cụ thể hóa thành những dấu
hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng:
* Nợ quá hạn:
nhiên chúng thực sự đe dọa thu nhập của các ngân hàng nếu chính phủ không
tìm được nguồn bù đắp.
* Các chỉ tiêu khác: Bên cạnh nợ quá hạn, nhà quản lí ngân hàng còn sử
dụng các hình thức đo rủi ro tín dụng khác, gắn liền với chiến lược đa dạng
hóa tài sản, lập hồ sơ khách hàng, trích lập quỹ dự phòng, đặt giá đối với các
khoản cho vay…
- Các khoản cho vay có vấn đề: Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là
nợ quá hạn song trong quá trình theo dõi, nhân viên ngân hàng nhận thấy
nhiều khoản tài trợ đang có dấu hiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ
quá hạn. Khoản cho vay có vẫn đề được xây dựng dựa trên quy định của ngân
hàng.
- Điểm của khách hàng: Thông qua phân tích tình hình tài chính, năng lực
sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án, mối quan hệ và tính sòng phẳng… ngân
hàng lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Khách hàng loại A hoặc
điểm cao, rủi ro tín dụng thấp; khách hàng loại C hoặc điểm thấp, rủi ro cao.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên các dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng xây
dựng. Điểm của ngân hàng cho thấy rủi ro tiềm ẩn.
- Mất tính ổn định vĩ mô: Chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát
cao, tình hình chính trị mất ổn định, vùng hay bị thiên tai… đều tạo nên mất
ổn định vĩ mô, tác động xấu đến người vay. Do mất ổn định vĩ mô được ngân
hàng xem là một nội dung quan trọng phản ánh rủi ro tín dụng.
- Tính kém đa dạng của tín dụng: Đa dạng hóa là biện pháp hạn chế rủi ro.
Những thay đổi trong chu kì của người vay là khó tránh khỏi. Nếu ngân hàng
tập trung tài trợ cho một nhóm khách hàng, của một ngành, hoặc một vùng
hẹp thì rủi ro sẽ cao hơn so với đa dạng hóa.
1.2.4.3. Thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất nếu rủi ro tín dụng xảy
ra.
* Trích lập quỹ dự phòng rủi ro: là một hình thức dự trữ tài chính chuyên
dùng, thường được trích ra từ lợi nhuận sau thuế, nhằm bù đắp thiệt hại khi có