LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro luôn gắn liền với hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Đối với các ngân hàng thương mại những nhà cung cấp
vốn chủ yếu và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế thì rủi ro luôn rình rấp ở
mức độ cao hơn rất nhiều. Trong đó, tín dụng là một trong những loại rủi ro
gây ra ảnh hưởng và thiệt hại nặng nề nhất.
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nói
chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng đều phải nhấp nhận rủi ro.
Rủi ro tín dụng mang đến, có thể tồn tại ngoài ý muốn con người và thường
gây ra những hậu quả khó lường .Có thể xảy ra, ở môi trường kinh doanh,
rủi ro tín dụng này chúng ta có thể nghiên cứu, nhận biết và hạn chế nó.
Mặt khác, thì kinh doanh tín dụng là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu của
các ngân hàng trong khi đó thì môi trường kinh doanh tín dụng còn nhiều
rủi ro. Do đó, rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng thương mại Việt Nam đang
gặp phải là rủi ro tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong tổng dư nợ vẫn
còn lớn. Vì vậy, làm thế nào để hạn chế rủi ro tín dụng đang trở thành một
vấn đề ngày càng bức thiết. Xuất phát từ thực tiễn đó, em chọn đề tài “ Một
số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNO&PTNT chi
nhánh Hà Thành”
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong khoa
ngân hàng; các cô chú và các anh chị tại chi nhánh Hà Thành đã tận tình
giúp đỡ và chỉ bảo cho em. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành
tới thạc sĩ Nguyễn Đức Trung đã hướng dẫn và chỉ bảo cho em trong quá
trình thực hiện chuyên đề này.
Em xin chân thành cám ơn!
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng
1.1.1.Khái niệm tín dụng :
Tín dụng là hoạt động mang tính sơ khai,tính bản chất của ngân
sử dụng lượng giá trị đó.Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác
tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp thời gian rỗi và
thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó.
Thứ hai, tín dụng mang tính hoàn trả.Lượng vốn được chuyển nhượng
phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ
phận gốc và lãi.Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn hảo lớn hơn lượng
giá trị ban đầu.Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm
thời.Nói cách khác nó là giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại
của người sở hữu,vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn
sàng hi sinh quyền sử dụng đó.
Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay
và người cho vay .Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan
hệ tín dụng.Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi
đến hạn.Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của
vốn vay .Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là
điều kiện hình thành quan hệ tín dụng.
1.2.Rủi ro tín dụng và các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng của
Ngân Hàng Thương Mại
1.2.1.Rủi ro tín dụng trong hoạt dộng kinh doanh của Ngân Hàng
Thương Mại
1.2.1.1,Khái niệm rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián
tiếp) mà Ngân hàng phải gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng
vốn không trả nợ đúng hạn,không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong
hợp đồng tín dụng vì bất kể lí do gì.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay ,hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi
không đúng kỳ hạn.Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh
toán đầy đủ cả lãi và gốc đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro
tín dụng nào.Trong trường hợp người vay tiền phá sản ,thì việc thu hồi gốc
khách hàng đề nghị cấp tín dụng.
-Những thay đổi bất lợi triong cơ cấu vốn ,tỷ lệ thanh khoản.
-Xuất hiện ngày càng nhiều những khoản chi phí bất hợp lý như :gia
tăng đột biến trong chi phí quảng cáo,tiếp khách ,tập trung qua mức chi phí
để gây ấn tượng như:thiết bị văn phồng hiện đại,…
-Thay đổi thường xuyên tổ chức hoặc ban điều hành
-Xuất hiện dấu hiệu: từ bỏ hợp đồng có giá trị nhỏ và vừa nhưng có
khả năng thu tỉ suât lợi nhuận cao để tìm hợp đồng lớn nhưng tỉ suât lợi
nhuận nhỏ.
-Phát hiện ra quá trình khảo sát.thẩm định dự án sai dẫn đến đầu tư dự
án không có hiệu quả .
-Khó khăn khi tăng sản phẩm dịch vụ mới.
-Do áp lực nội bộ mà tung sản phẩm ra thị truờng quá sớm hoặc đặt
các hạn mức về thời gian sinh lời.
-Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh,…
-Đối với khách hàng là tư nhân cá thể,có dấu hiệu của bệnh kéo dài
hoặc chết
b.Phát sinh từ phía Ngân Hàng :
+Chính sách tín dụng không hợp lý:
-Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách
hàng .Đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so thực tế,đánh
giá khách hàng thông qua thông tin do khách hàng cung cấp mà không điều
tra ,xem xét thông tin từ các nguồn khác ,…
-Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu túnh bảo
đảm của khách hàng .
-Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh,vượt quá khả năng và năng
lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng.
-Soạn thảo các điều kiện tín dụng ràng buộc trong hợp đồng tín dụng
mập mờ ,không rõ ràng .
-Hồ sơ tín dụng không đầy đủ thiếu sự hoàn chỉnh,..
chiến tranh ,bạo loạn,đình công,tranh chấp giữa các đảng phái,…thì việc
kinh doanh đầu tư của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn
và cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các Ngân Hàng .Trong trường
hợp,các doanh nghiệp vay vốn Ngân Hàng làm ăn thường xuyên thua
lỗ,không có khả năng trả nợ đúng hạn hoặc mất khả năng thanh toán thì rủi
ro tín dụng sẽ xảy ra đối với Ngân Hàng.
Ngoài ra,hệ thống pháp luật thường xuyên thay đổi ,không nhất quán,
chồng chéo giữa các văn bản pháp luật,các quy định có thể dẫn đến việc lợi
dụng các khe hở của luật pháp.Điều này,là nguyên nhân dẫn đến rủi ro đạo
đức của cán bộ tín dụng.
+Môi trường quốc tế:
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay,thì tín dụng trong nước có mối
quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế.Khi tình hình kinh tế,chính trị quốc tế
có những biến động sẽ rất dễ tác động đến tín dụng trong nước.
Chẳng hạn,khi cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra có thể làm cho mối
quan hệ thương mại quốc tế giữa Việt Nam và một số nước bị cắt đứt hoặc
ngưng
trệ,làm giảm sút sức mua hàng hóa,dẫn đến việc hàng hóa tiêu thụ sẽ
bị ứ đọng và ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn Ngân
Hàng.Tất yếu rủi ro sẽ đến với Ngân Hàng
Hay khi chiến tranh xảy ra,nó cũng sẽ ảnh hưởng đến quốc gia có quan
hệ thương mại,như:mua nguyên vật liệu,hoặc tiêu thụ sản phẩm tại quốc
gia xảy ra chiến tranh.
b, Nguyên nhân từ phía khách hàng vay:
+Đối với khách hàng là cá nhân:Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập
của cá nhân.Sau khi vay vốn ngân hàng các khách hàng là cá nhân thường
có những rủi ro do nguyên nhân sau:
\ Có thu nhập không ổn định
\ Rủi ro đạo đức như sử dụng vốn sai mục đích,không muốn hoàn trả
nợ vay.Chẳng hạn vay mua nhà.mua xe nhưng lại dung vào mục đích kinh
của quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì 50% ngân hàng phá sản trên thế giới là do
năng lực quản lý yếu kém của chính bản thân ngân hàng.Nguyên nhân cụ
thể như sau:
+ Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ,chưa có quy trình
quản trị rủi ro hữu hiệu,chưa chú trọng đến phân tích khách hàng,xếp hạng
rủi ro để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ
+ Quá chú trọng vào lợi nhuận,đặt tiêu chuẩn lợi nhuận lên trên
nguyên tắc ,điều kiện tín dụng.
+ Thiếu thông tin về khách hàng hay thiếu thông tin tín dụng tin
cậy,kịp thời .chính xác để xem xét phân tích trước khi cấp tín dụng .Các
Ngân Hàng Thương Mại chưa chú trọng quan tâm đúng mức tới công tác
thông tin phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay.Ngân hàng vẫn chưa
có sự liên thông với cơ quan khác như Thuế,Hải quan ,..để kiểm chứng
những thông tin tài chính do khách hàng cung cấp.
+ Kiểm tra kiểm soát của ngân hàng không thường xuyên dẫn đến việc
phát hiện những món vay có dấu hiệu rủi ro chậm và xử lý khó khăn hơn.
+ Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng chưa đủ
tầm và vấn đề quản lý sử dụng,đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng .
+ Do yếu kém về mặt kĩ thuật,nghiệp vụ,cán bộ tín dụng thiếu khả năng
phân tích một cách khoa học về báo cáo tài chính của người vay vốn,khả năng
thị trường hiện tại và trong tương lai,chu kỳ vòng đời sản phẩm,…
d , Nguyên nhân từ các bảo đảm tín dụng :
+ Trường hợp bảo đảm bằng tài sản:
\ Do sự biến động của giá trị tài sản đảm bảo theo chiều hướng bất
lợi(phụ thuộc vào đặc tính của tài sản và thị trường giao dịch của các tài
sản này)
\ Do doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận,nắm giữ các tài
sản đảm bảo để xử lý chúng
\ Tài sản đảm bảo khó định giá,tính khả mại thấp…
\ Có những tranh chấp về mặt pháp lý
------------------------------
Tổng dư nợ
- Một số các Ngân hàng Thương mại khác, còn sử dụng các tỷ lệ như:
Nợ khó đòi Nợ khoanh
------------------------------- ; --------------------
Tổng dư nợ( nợ quá hạn) Nợ quá hạn
-Hạn mức rủi ro: Tỷ lệ này biểu hiện một chỉ số so với vốn của ngân
hàng. Chỉ số này tính đến mức độ rủi ro mà vốn của ngân hàng có thể trang
trải những khoản tổn thất phát sinh cho từng loại hoạt động tín dụng. Ở
Việt Nam, chỉ tiêu này được quy định : Một ngân hàng không được phép
cho vay một khách hàng vượt quá 15% Vốn tự có của ngân hàng.
1.2.3, Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân
hàng thương mại.
1.2.3.1, Xây dựng chính sách tín dụng một cách hợp lý.
Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu,tham số định hướng cho cán bộ
ngân hàng,những người làm công tác cho vay và quản trị danh mục đầu tư.
Chính sách được xây dựng khoa học,cẩn thận thông suốt từ trên xuống
dưới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của
mình,tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng cơ hội kinh doanh.Một chính
sách tín dụng tốt phải là một ứng dụng thông minh của những nguyên tắc
tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường kinh
tế.Chính sách tín dụng tốt sẽ nâng cao chất lượng các khoản cho vay của
ngân hàng.
Một chính sách tín dụng tốt thường bao gồm các yếu tố cơ bản:
-Có mục tiêu rõ ràng: Ngân hàng cần cân đối giữa các mục tiêu quan
trọng như:cân đối giữa mục tiêu sinh lời với mục tiêu bảo đảm tính an
toàn,mục tiêu đạt thị phần cao với việc đảm bảo uy tín doanh nghiệp cũng
như tính an toàn trong hoạt động vay vốn.
-Xác định rõ ràng chiến lược thực hiện: Ngân hàng thường xác định tỷ
lệ phần trăm các khoản cho vay theo đối tượng,theo thời hạn,theo vị trí địa
đồng đồng tài trợ ,quá trình thẩm định dự án cũng như việc đánh giá chất
lượng các khoản vay sẽ chặt chẽ hơn,chính xác hơn do đó sẽ giảm tới mức
thấp nhất rủi ro tín dụng .Nhờ việc hợp tác,các ngân hàng thương mại có
thể phát huy thế mạnh của mỗi ngân hàng nhằm đảm bảo hoạt động đồng
tài trợ được an toàn,hiệu quả và hạn chế dược những bất trắc xảy ra.Trong
trường hợp xấu nhất ,rủi ro đã xảy ra thì hậu quả của nó được phân tán giữa
các chủ thể nên tổn thất mà một ngân hàng phải gánh chịu là nhỏ so với khi
ngân hàng đó đứng ra cho vay toàn bộ dự án.
- Mua bảo hiểm cho vay :Khi gặp các hoạt động nhiều rủi ro nhưng
cũng nhiều thuận lợi,nhà kinh doanh có thể hạn chế rủi ro bằng cách
chuyển rủi ro cho các chủ thể có khả năng chịu đựng rủi ro(như công ty
Bảo Hiểm) bằng cách mua bảo hiểm cho vay.
- Bán rủi ro : Là hình thức chuyển rủi roc ho các chủ thể có khả năng
chịu đựng rủi ro.Trong trường hợp khoản vay có rủi ro cao,ngân hàng có
thể khó chịu nổi rủi ro xảy ra,ngân hàng sẽ bán khoản cho vay cho một
ngân hàng khác hoặc trung gian tài chính chấp nhận rủi ro để hưởng hoa
hồng phí.
1.2.3.3, Xếp hạng rủi ro tín dụng
Xếp hạng tín dụng là cách ước tính chính thức tín dụng từ trước đến
nay của cá nhân hay công ty và khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu
kiểm tra ,phân tích hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm của cá nhân và
công ty kinh doanh .
Hệ thống xếp hạng rủi ro tín dụng giúp phân loại theo mức độ rủi ro
tương ứng với nguyên nhân phát sinh .Điều này cho phép ngân hàng
thương mại xác định chính xác hơn những đặc điểm của danh mục cho
vay,xác suất xuất hiện các khoản vay xấu.Các hệ thống xếp hạng rủi ro tín
dụng thường xem xét hiện trạng tài chính và khả năng hoàn trả của người
vay,giá trị hiện tại và thanh khoản của đảm bảo,các nội dung khác liên
quan đến người vay- những dấu hiệu giúp đánh giá triển vọng thu hồi gốc
và lãi.Đặc biệt yếu tố về dòng tiền tương lai của khách hàng ngày càng
đối với ngân hàng.Nếu tổng tổn thất tín dụng lớn hơn quỹ dự trữ tổn thất tín
dụng và vốn cổ phần của ngân hàng,thì nhà quản trị kinh doanh ngân hàng
có thể phải thay đổi chính sách cho vay hay có kế hoạch bổ sung quỹ dự trữ
tín dụng và vốn cổ phần.
Quỹ dự phòng rủi ro là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín
dụng bị tổn thất .Qua đó giúp ngân hàng tránh được trường hợp khó khăn
về tài chính trong hoạt động có thể dẫn đến đổ vỡ.Tại Việt Nam hiện nay
,việc trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng dược thực hiện theo quyết
định của Ngân Hàng Nhà Nước.Trong công tác trích lập dự phòng rủi
ro,các chỉ tiêu sau cần được thường xuyên xác định:
Giá trị không thu được
* Tỷ lệ tổn thất = -------------------------------- x 100%
Tổng dư nợ
Dư nợ quá hạn
* Tỷ lệ nợ quá hạn = ---------------------------- x 100%
Tổng dư nợ
Dư nợ nhóm 3,4,5
* Tỷ lệ nợ xấu = ------------------------------- x 100%
Tổng dư nợ
1.2.3.5, Sử dụng đảm bảo tín dụng chắc chắn
Tài sản bảo đảm là nguồn trả nợ thứ cấp cho khoản vay nếu dự án kinh
doanh của khách hàng gặp brủi ro,dòng tiền của khách hàng không đúng
như dự kiến.
Khi xem xét tài sản bảo đảm các ngân hàng thương mại cần chú ý một
số điểm sau :
- Giá trị của đảm bảo tài sản phải lớn hơn nghĩa vụ được đảm bảo.Bởi
bảo đảm tín dụng không những là nguồn trả nợ thứ hai của ngân hàng mà
còn nâng cao ý thức của khách hàng trong việc trả nợ .Vì vậy ,nếu giá trị
của tài sản đảm bảo nhỏ sẽ làm cho người vay có động cơ không trả nợ.
- Tính lỏng của tài sản phải cao.Tức là tài sản phải có sẵn thị trường
phương án tài chính dự tính cũng như các điều kiện tài chíh của doanh
nghiệp tương lai .Nó sẽ giúp ngân hàng nhận biết dược khả năng sinh
lợi,nhu cầu vay,khả năng trả nợ và tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong tương lai.Vấn đề mà ngân hàng cần quan tâm khi đánh giá phương án
tài chính này là tính khả thi của phương án mà doanh nghiệp đề xuất.
Như vậy báo cáo tài chính của doanh nghiệp phải trả lời được câu hỏi
“ Liệu ngân hàng có gặp phải rủi ro nếu như ngân hàng chấp nhận hợp tác
với doanh nghiệp không?” Việc đánh giá rủi ro này là khá khó khăn,phụ
thuộc vào trình độ năng lựccũng như tính nhạy bén,linh hoạt của người
phân tích.Tuy nhiên, 3 rủi ro mà ngân hàng cần đánh giá sẽ là cơ sở quan
trọng để ngân hàng xem xét nguy cơ rủi ro xảy ra,để đưa ra các biện pháp
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
1.3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc phòng ngừa và hạn chế
rủi ro tín dụng.
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước
1.3.1.1. Kinh nghiệm phòng chống rủi ro tín dụng của các ngân hàng
Thái Lan
Hệ thống ngân hàng Thái Lan đã có bề dày hoạt động hàng trăm
năm,nhưng đứng trước cơn khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm
1997-1998 đã bị chao đảo.Nhiều công ty tài chính và ngân hàng bị phá sản
buộc phải sát nhập lại.Tình hình đó buộc các ngân hàng Thái Lan phải xem
xét lại toàn bộ chính sách ,cách thức quy trình,hoạt động ngân hàng ,trong
đó đặc biệt là lĩnh vực tín dụng ,nhằm giảm thiểu rủi ro …Đi đôi với việc
đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng và dịch vụ,xác định khách hàng ,mục
tiêu,chủ động tiếp thi khách hàng…một loạt thay đổi trong tín dụng đã
được các ngân hàng Thái Lan triển khai nhanh chóng và triệt để.
Tại Bangkok Bank,nếu như trước đây các bộ phận trong quy trình tín
dụng gộp làm một thì nay đã tách hẳn làm hai bộ phận độc lập với nhau:bộ
phận tiếp nhận và bộ phận giải quyết hồ sơ,bộ phận thẩm định.Trong đó,bộ
phận thẩm định phải có báo cáo thẩm định tín dụng,gồm :chiến lược và kế
thời ứng dụng chấm điểm .Họ sử dụng các dữ liệu các chương trình ứng
dụng tín dụng như: giới tính,tuổi tác,tìh trạng hôn nhân ,kinh nghiệm làm
việc ,số dư tiền gửi của khách hàng…
Sau khi cho vay,các ngân hàng Thái Lan rất coi trọng việc kiểm
tra,giám sát các khoản vay.Chẳng hạn như tại SCIB có hai bộ phận: bộ
phận tác nghiệp và bộ phận tái xét. Bộ phận tác nghiệp giám sát sự thay đổi
những rủi ro của các khoản vay và có hành động thích ứng kịp thời.Bộ
phần giám sát nhằm đảm bảo tất cả các điều khoản và điều kiện của khoản
vay phải được tuân thủ.Bộ phận tái xét quy định cụ thể phương pháp tái xét
phải thực thi quy định của ngân hàng trung ương Thái Lan .Bộ phận quản
lý rủi ro tín dụng quản lý danh mục tín dụng ,báo cáo xếp hạng tín dụng
,các khoản vay có vấn đề và danh mục khoản vay cần giám sát ,khoản nợ
không hoạt động.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm với Việt Nam
Từ những kinh nghiệm trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín
dụng của các ngân hàng thương mại trên thế giới ,có thể rút ra một số bài
học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam như sau:
Thứ nhất,tách bạch,phân công rõ chức năng các bộ phận ,các khâu
trong quy trình giải quyết các khoản vay.Có thể thấy điều này ở các ngân
hàng Bang Kok Bank và Siam commercial bank (SCB ).Để hạn chế rủi ro
đạo đức và nâng cao chất lượng phân tích đánh giá khoản vay,các ngân
hàng thương mại Việt Nam nên tổ chức bộ phận tín dụng theo hướng :độc
lập phòng khách hàng tiếp nhận hồ sơ vay vốn và bộ phận thẩm định riêng
để đảm bảo sự độc lập trong quyết định cấp tín dụng,kiểm soát toàn bộ quy
trình cấp tín dụng từ giai đoạn khởi tạo và phê duyệt cho đến khi hoàn trả
hết.Thành lập một bộ phận độc lập trong từng ngân hàng thương
mại,chuyên sâu nghiên cứu ,phân tích và dự báo về sự phát triển của thành
phần kinh tế ,khu vực kinh tế ,các ngành hàng,khách hàng. Trên cơ sở phân
tích đưa ra những dự báo và chiến lược phát triển kinh doanh của ngân
hàng trong từng giai đoạn, khả năng chấp nhận rủi ro.
hàng Nhà Nước theo nghị quyết 3- khóa VI của ban chấp hành Trung ương,
nghị định ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ trưởng về việc chuyển hoạt
động ngân hàng sang hạch toán kinh doanh. Sự ra đời của NHNO&PTNT
Việt Nam đã đóng góp những thành quả nhất định đối với sự phát triển của
ngành nói chung và ngành kinh tế nói riêng.
Nhìn lại, qua trình xây dựng và trưởng thành, có thể thấy thành tựu
đáng tự hào trong hoạt động của NHNO&PTNT Việt Nam. Ban đầu, ngân
hàng nông nghiệp vốn thuần túy là hoạt động trong nước, chủ yếu là tín
dụng truyền thống. Tuy nhiên, ngay từ những ngày đầu ban lãnh đạo đã
nhận thức được rằng để tồn tại và phát triển, phải mở rộng hoạt động ngân
hàng đa năng, đồng thời không ngừng đổi mới bộ máy tổ chức và mạng
lưới kinh doanh. Bởi vậy, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, của
toàn ngành ngân hàng NHNO&PTNT đã góp phần đắc lực thực hiện mục
tiêu phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước, thực thi chính sách tiền tệ,
kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Có thể
nói giờ đây tên và biểu tượng của NHNO&PTNT Việt Nam đã trở nên
quen thuộc và có uy tín trong nước, trong khu vực và trên thế giới. Được
đánh giá là một trong bốn ngân hàng thương mại hàng đầu Việt nam. Hiện
nay, NHNO&PTNT Việt Nam có quan hệ với hơn 600 Ngân hàng trên thế
giới, đã và đang mở rộng hoạt động cho thuê tài chính, kinh doanh vàng
bạc, chứng khoán, Bảo hiểm nhân thọ, Mua- bán nợ,…NHNO&PTNT đã
được cộng đồng Châu Âu(EU) lựa chọn để thực hiện dự án cho vay người
hồi hương, đồng thời tiếp nhận thực hiện các dự án lớn của Ngân hàng Thế
giới, Ngân hàng phát triển Châu Á,…
NHNO&PTNT chi nhánh Hà Thành, có trụ sở đặt tại số 126 đường
Lê Thanh Nghị- Quận Hai Bà Trưng-Hà Nội. Có con dấu riêng, có Bảng
cân đối tài sản và nhận chỉ tiêu tài chính theo quy định, có quyền tự chủ
kinh doanh theo phân cấp của NHNO&PTNT và chịu sự ràng buộc về
nghĩa vụ và trách nhiệm đối với NHNO&PTNT.
Mặc dù, mới được thành lập trong thời gian ngắn, nhưng cho tới nay,
các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến quản lý tài chính, chi tiêu nội
bộ tại chi nhánh. Cung cấp các nghiệp vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp
vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch.Quản lý và chịu trách nhiệm
đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao
dịch viên theo đúng quy định của nhà nước và NHNO&PTNT Việt Nam.
Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng.
- Phòng hành chính nhân sự
Là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại
chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của nhà nước và quy định của
NHNO&PTNT Việt Nam. Thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục
vụ hoạt động kinh tế tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ, an ninh an
toàn chi nhánh.
2.2.Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNO&PTNT chi nhánh Hà Thành
2.2.1. Tình hình huy động vốn
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn tại chi nhánh
Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số
tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
% ss Số tiền
Tỷ
trọng
10,72
192.2
292,7
87,5
2.Loại tiền
- VND
- Ngoại tệ
quy đổi
170.593
96.066
63.97
36,03
316.675
33.584
90,4
9,6
185,6
35,0
519.675
145.469
78,13
21,87
164,1
483,2
Nguồn : Phòng kinh doanh NHNO&PTNT chi nhánh Hà Thành
Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi huy động từ Tổ chức
kinh tế luôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng dần qua các năm.Năm 2005, nguồn
vốn này là:106.000 triệu đồng, chiếm 39,8% tổng nguồn vốn huy động.
Năm 2006, 2007 là: 198.936 triệu đồng và 382.342 triệu đồng chiếm 56,8%
và 57,48% tổng nguồn vốn huy động. Điều này là do, chi nhánh chịu tác