I.KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VÀI TRÒ QUẢN LÝ VĨ MÔ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU 1
Thế kỷ 20 đã chứng kiến cuộc đua tranh giữa hai hệ thống kinh tế, nói đúng hơn
là giữa hai giải pháp vĩ mô đối lập nhau: nền kinh tế chỉ huy dựa trên sự kiểm soát, tập
trung của Nhà nước và nền kinh tế thị trường dựa vào thành phần tư nhân. Đến cuối thế
kỷ 20, mô hình của nền kinh tế chỉ huy đã thể hiện rõ sự thất bại trong việc duy trì tăng
trưởng, tạo sự phồn vinh và thậm chí cả trong việc bảo đảm đời sống kinh tế cho người
dân. Trong khi đó mô hình kinh tế chính trị lại tỏ ra rất thành công trong các nền kinh tế
đa dạng từ Tây Âu đến Bắc Mĩ và cả Châu Á.
Vấn đề đặt ra là nếu thị trường và hệ thống thị trường hiệu quả như vậy thì tại
sao Nhà nước phải can thiệp? Tại sao không thực hiện một chính sách hoàn toàn tự do,
để mặc tư nhân kinh doanh? Đặc biệt là ở Việt Nam, một nước XHCN đang trong giai
đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường. Chúng ta cần phải hiểu rõ bản chất của việc
Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để từ đó có thể áp dụng vào phát triển nền kinh tế
theo những mục tiêu đã đề ra. Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò quản lý của Nhà nước
trong nền kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp chúng ta nhận rõ được vai trò này
của Nhà nước để từ đó có những biện pháp, chính sách cụ thể, đúng đắn, đưa nước ta
phát triển mạnh về kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho quá trình đi lên CNXH. Hiện nay,
có rất nhiều hướng nghiên cứu, nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng vẫn chưa giải
quyết được vấn đề một cách thoả đáng.
Đoàn Thanh Nga - Cao học K12
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VÀI TRÒ QUẢN LÝ VĨ MÔ CỦA NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ. 2
1. Lịch sử ra đời và vai trò kinh tế của Nhà nước qua các thời đại lịch sử 2
Nhà nước là một phạm trù lịch sử. Nhà nước không đồng nghĩa với xã hội. Nhà
nước chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn nhất định của lịch sử và nhà nước sẽ mất
đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. Cùng với sự phát triển của lịch sử,
quan niệm về vai trò kinh tế của Nhà nước trong các giai đoạn có sự khác nhau.
1.1. Lịch sử ra đời của Nhà nước 2

hội TBCN. Hiện nay Việt Nam chúng ta đã, đang và sẽ tiếp tục xây dựng Nhà nước
XHCN- Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Nhà nước XHCN là Nhà nước mới nhất, tiến bộ nhất và là nhà nước cuối cùng
trong lịch sử. Sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình Nhà nước XHCN sẽ tiêu vong và
xã hội sẽ không còn tồn tại Nhà nước nữa.
1.2. Vai trò kinh tế của Nhà nước qua các thời đại lịch sử
Vai trò kinh tế của Nhà nước được phôi thai ngay từ buổi ban đầu khi Nhà nước chỉ
vừa mới xuất hiện. Sau đó mới được nhận thức và ứng dụng vào thực tiễn quản lý kinh
tế xã hội. Vai trò kinh tế của nhà nước ở các thời đại lịch sử khác nhau là khác nhau
nhưng đều nhằm hướng tới một mục đích chung đó là “đảm bảo cho sự tăng trưởng
kinh tế và phát triển lâu dài”.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, Nhà nước chủ nô đã trực tíêp dùng quyền lực của
mình can thiệp vào việc phân phối của cải được sản xuất ra bằng sức lao động của
những người nô lệ, phục vụ giai cấp chủ nô, chiếm đoạt của cải đó bằng các thủ đoạn
cưỡng bức phi kinh tế. Các cuộc cách mạng khác nhau đã chuyển xã hội chiếm hữu nô
lệ thành một xã hội mới tiến bộ hơn. Xã hội phong kiến ra đời hình thành Nhà nước
phong kiến. Nhà nước phong kiến không chỉ can thiệp vào việc phân phối của cải mà
còn tiến hành xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp, tổ chức di dân khai
hoangvà đề ra các chính sách ruộng đất. Chung quy lại có thể nói vai trò kinh tế của các
Nhà nước trước CNTB là đặt ra chế độ thuế khoá để nuôi sống bộ máy cai trị, thực hiện
chức năng đối nội, đối ngoại.
Từ thế kỉ 15 chủ nghĩa tư bản bắt đầu hình thành, Nhà nước tư sản ra đời thay thế
cho nhà nước phong kiến. Thời kì này quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tư bản được thực
hiện, nền kinh tế thị trường từng bước được hình thành. Giai cấp tư sản cần hỗ trợ của
Nhà nước như vai trò “bà đỡ” cho sự ra đời của kinh tế thị trường. Nhà nước tư sản sử
dụng, thực hiện một chính sách tiền tệ hết sức nghiêm ngặt và hà khắc để tìm mọi cách
tích luỹ tiền tệ không cho tiền chạy ra nước ngoài. Bên cạnh đó Nhà nước tư sản còn có
các chính sách, biện pháp cứng rắn để kiểm soát ngoại thương, lập hàng rào thuế quan
bảo hộ, đánh thuế nhập khẩu cao, thuế xuất khẩu thấp, quy định nghiêm ngặt tỷ giá hối
đoái, khuyến khích và hỗ trợ thương nhân trong nước. Như vậy đến Nhà nước tư sản,

thị trường với “bàn tay hữu hình” của Nhà nước để điều chỉnh nền kinh tế thị trường đã
được ra đời và phát huy tác dụng. Thị trường là động lực mạnh mẽ đối với sự tăng
trưởng. Nhà nước tạo ra môi trường an toàn để thị trường phát triển và hạn chế sự dư
thừa của những thị trường khó kiểm soát.
Nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản tuy có những đặc điểm riêng nhưng đều thuộc
kiểu Nhà nước của giai cấp bóc lột. Cơ sở kinh tế của chúng là chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất và chế độ người bóc lột người. Các Nhà nước đó đều là công cụ thống trị của
thiểu số giai cấp bóc lột đối với đại đa số nhân dân lao động.
Đối lập với các Nhà nước trên là Nhà nước XHCN. Đó là Nhà nước kiểu mới. Cơ
sở kinh tế của Nhà nước XHCN là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
Đoàn Thanh Nga - Cao học K12
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nước. Nhà nước XHCN can thiệp vào các quá trình sản xuất xã hội, vào các quan hệ đối
ngoại, sử dụng các đòn bẩy kinh tế, thể chế hoá các chủ trương chính sách thành hệ
thống các luật lệ, các quy chế đồng bộ để trực tiếp tác động, khống chế, điều tiết các
hoạt động kinh tế, định hướng cho sự phát triển cân đối. Tuy là Nhà nước kiểu mới, Nhà
nước tiến bộ nhất nhưng vai trò kinh tế của nhà nước trong xã hội XHCN cũng trải qua
nhiều thăng trầm. Thời kỳ đầu do sự can thiệp quá lớn của Nhà nước vào nền kinh tế
nên đã kìm hãm sự phát triển. Chỉ sau khi chuyển đổi sang cơ chế mới, vai trò kinh tế
của Nhà nước XHCN mới thực sự có hiệu quả và thể hiện rõ nét thông qua những thành
quả đạt được.
Như vậy qua những chặng đường phát triển của lịch sử, chúng ta thấy rằng ở
những thời kì khác nhau vai trò kinh tế của Nhà nước tuy có những điểm khác nhau
nhưng suy đến cùng nó rất quan trọng và không thể thiếu được.
2. Kinh tế thị trường và tính tất yếu của vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong
nền kinh tế thị trường
2.1. Khái niệm và nội dung cơ chế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường có một loạt những quy luật kinh tế vốn có của nó như

từ nơi mà chúng được sử dụng với hiệu quả cao nhất, cân đối giữa tổng cung và tổng
cầu.
- Chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật. Để có thể cạnh tranh được về giá cả, buộc
những người sản xuất phải giảm chi phí đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến. Do đó thúc đẩy sự tiến bộ của kỹ thuật, công nghệ và sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Ngoài ra giá cả còn thực hiện chức năng phân phối lại.
Trước đổi mới, ở nước ta thực hiện cơ chế hai giá: giá cả theo kế hoạch (giá bao
cấp) và giá cả trên thị trường tự do. Giá cả theo kế hoạch thấp hơn rất nhiều so với giá
cả trên thị trường tự do. Nói chung giá cả đó gần như không có quan hệ gì với giá trị
hàng hoá, cũng như không tương quan đến cung cầu, nên mọi sự tính toán hiệu quả đều
sai lệch. Bao cấp qua giá là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thâm hụt lớn của
ngân sách, do đó dẫn đến lạm phát.
Việc chuyển sang cơ chế một giá - giá cả thị trường đối với tất cả các loại hàng hoá,
chỉ trừ một số rất ít hàng hoá do Nhà nước định giá là bước chuyển có ý nghĩa quyết
định từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường ở nước ta.
2.2. Ưu điểm và khuyết tật của cơ chế thị trường
Cái gì cũng có tính hai mặt của nó, cơ chế thị trường cũng vậy. Trong quá trình vận
động và phát triển, cơ chế thị trường luôn nảy sinh những ưu điểm, khuyết tật. Thực tế
Đoàn Thanh Nga - Cao học K12
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khó đánh giá đầy đủ những ưu điểm và khuyết tật của cơ chế thị trường. Tuy nhiên có
thể nêu lên những ưu điểm và khuyết tật của cơ chế thị trường như sau:
2.2.1. Những ưu điểm của cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường có những ưu điểm và tác dụng mà không có cơ chế nào hoàn toàn
thay thế được.
Thứ nhất, cơ chế thị trường kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế và tạo điều
kiện thuận lợi cho sự hoạt động tự do của họ. Nó tự kích thích sự phát triển sản xuất,
tăng trưởng kinh tế cả theo chiều rộng và chiều sâu. Tăng cường chuyên môn hoá sản
xuất. Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động, huy động được các nguồn lực của

hảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo, thì hiệu lực của cơ chế thị trường bị
giảm. Chẳng hạn xuất hiện độc quyền, các nhà độc quyền có thể giảm sản lượng, tăng
giá để thu lợi nhuận cao, mặt khác, khi xuất hiện độc quyền, thì không có sức ép của
cạnh tranh đối với việc đổi mới kỹ thuật.
Thứ hai, mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì vậy họ có thể
lạm dụng tài nguyên của xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người, do đó
hiệu quả kinh tế - xã hội không được đảm bảo.
Thứ ba, phân phối thu nhập không công bằng, có những mục tiêu xã hội dù cơ chế thị
trường có hoạt động trôi chảy cũng không thể đạt được. Sự tác động của cơ chế thị
trường sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, sự phân cực về của cải, tác động xấu đến
đạo đức và tình người. Sự tác động của cơ chế thị trường sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế
cao, nhưng nó không tự động mang lại những giá trị mà xã hội muốn vươn tới. Edgar
Morin đã nhận xét chua chát: “Trong các nền văn minh được gọi là phát triển của chúng
ta, tồn tại một tình trạng kém phát triển thảm hại về văn hoá, trí não, tình người”.
Thứ tư, một nền kinh tế do cơ chế thị trường thuần tuý điều tiết khó tránh khỏi những
thăng trầm, khủng hoảng kinh tế có tính chu kỳ và thất nghiệp. Người ta nhận thấy rằng,
một nền kinh tế thị trường hiện đại đứng trước một khó khăn nan giải của kinh tế vĩ mô:
không một nước nào trong một thời gian dài lại có được lạm phát và đầy đủ công ăn
việc làm.
Do cơ chế thị trường có một loạt các khuyết tật vốn có của nó, nên trong thực tế không
tồn tại cơ chế thị trường thuần tuý, mà thường có sự can thiệp của nhà nước để sửa chữa
những thất bại của cơ chế thị trường, khi đó nền kinh tế, như người ta gọi, là nền kinh tế
hỗn hợp.
2.3. Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
Như sự phân tích ở trên thì cơ chế thị trường là cơ chế tốt nhất điều tiết nền kinh tế
hàng hoá một cách có hiệu quả, tuy nhiên cơ chế thị trường có một loạt những khuyết
tật. Để khắc phục sữa chữa những khuyết tật, hạn chế của cơ chế thị trường, tất yếu
khách quan phải có sự can thiệp của “bàn tay hữu hình”, đó là vai trò của Nhà nước vào
thị trường, vào nền kinh tế. Do đó ngày nay ở các nước mà nền kinh tế do cơ chế thị
trường điều tiết nói riêng và ở các nền kinh tế nói chung đều có sự can thiệp của Nhà

nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy tối đa mọi nguồn lực để thúc đẩy mọi mặt của
đời sống kinh tế xã hội phát triển, đổi mới căn bản cách tổ chức và phương thức quản
lý, mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, hợp tác hoá, tiến hành cách mạng văn hoá.
Nâng cao, khẳng định vai trò, địa vị làm chủ của người lao động trong nền kinh tế, thực
hiện công bằng xã hội, tự do dân chủ. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn
hoá- xã hội, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng an ninh, phải phát triển toàn diện
trên mọi mặt mọi hướng, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, mở cửa hội
nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ
và toàn vẹn lãnh thổ, tự do hoá thương mại và canh tranh… Tất cả những cái trên đều vì
Đoàn Thanh Nga - Cao học K12
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status