50 TÌNH HUỐNG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (CÓ LỜI GIẢI THAM KHẢO)
1. Ban đêm A và B cùng nhau đi đến cơ quan X để trộm cắp tài sản của cơ quan.
Trên đường đi A và B gặp C (C 17 tuổi, con ông H) và đã rủ C cùng tham gia phi
vụ, C đồng ý cùng đi. Đến nơi C được A, B phân công đứng ngoài canh gác, còn
chúng thì thực hiện kế hoạch đã định. Sau khi trộm được một số tài sản, chúng
trộm thêm chiếc xích lô của anh N để chở tài sản trộm được đi tiêu thụ. Sáng hôm
sau C ăn năn, hối cải nên đã đến cơ quan công an tự thú. Hãy xác định tư cách tố
tụng của những người nói trên.
-A, B có hành vi trộm cắp tài sản và C là đồng phạm. C đến công an tự thú là hành
vi tự ý nữa chừng chấm dứt phạm tội, đối với hành vi này có thể xem xét miễn truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với C.
-Do vụ trộm cắp cơ quan điều tra chưa khởi tố nên những người nói trên chưa xác
định được tư cách tố tụng.
2. Nguyễn Văn H (20 tuổi) đã thực hiện hành vi cướp xe máy của B đang đi trên
đường và bị bắt quả tang. H đã bị cơ quan Điều tra khởi tố về tội cướp tài sản. Ông
A là cha của H hiện là luật sư tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho H. Hãy xác
định tư cách tố tụng của A, B, H trong quá trình giải quyết vụ án HS nói trên?
Tình tiết bổ sung: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra biết được rằng chiếc xe
máy mà B sử dụng là xe của cơ quan X giao cho B đi công tác.
Hỏi: Tư cách tố tụng của người nào có thể bị thay đổi? Có tư cách tố tụng nào xuất
hiện khi phát hiện tình tiết này không?
-H là bị can;
-A người bào chữa;
-B là người bị hại.
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra biết được rằng chiếc xe máy mà B sử
dụng là xe của cơ quan X giao cho B đi công tác, tư cách tố tụng của B bị thay đổi,
tư cách tố tụng mới là cơ quan X nguyên đơn dân sự.
30. Ông H trình bày với cơ quan điều tra là ông được con trai tên X kể lại rằng X
đã nhìn thấy A và B lúc đầu cãi nhau sau đó đánh nhau, B đấm một cú vào mặt A,
A tức giận rút dao găm dấu trong người ra thì B bỏ chạy. A đuổi theo đâm vào lưng
B một nhát dao. B được đưa đi cấp cứu nhưng đã chết trên đường đi vì vết thương
đường đi cấp cứu.
-Chứng cứ gỡ tội: B khõe hơn A; B đánh trước; B đấm một cú vào mặt A, khai báo
trung thực của A.
31. Thẩm phán chủ toạ phiên toà tình cờ biết được một số tình tiết của vụ án mà
mình đang xét xử. Những tình tiết này không được phản ánh trong hồ sơ vụ án
chuyển từ viện kiểm sát qua. Khi thực hiện hoạt động xét xử thẩm phán có được sử
dụng những thông tin mà mình biết được để làm chứng cứ kết luận về vụ án
không? Tại sao?
Không. Những tình tiết của vụ án được xem là chứng cứ phải được thu thập theo
một trình tự, thủ tục mà BLTTHS quy định. Việc tình cờ biết được một số tình tiết
vụ án chưa phải là chứng cứ để kết luận vụ án. Trách nhiệm thu thập thông tin,
chứng cứ là của cơ quan điều tra, viện kiểm sát trong quá trình khởi tố và truy tố
vụ án. Giới hạn của việc xét xử được quy định tại Điều 196 BLTTHS: “Tòa án chỉ
xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố và tòa
án đã quyết định đưa ra xét xử…”
32. Trinh sát HS trong quá trình phá án đã nắm được một số thông tin về tội phạm.
Những thông tin này không được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Toà án có quyền sử
dụng các thông tin này bằng cách mời trinh sát hình sự tham gia với tư cách là
người làm chứng không? tại sao?
Có. Tòa án có quyền triệu tập trinh sát HS tham gia với tư cách người làm chứng
tại phiên tòa để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà trong hồ sơ vụ án chưa được
phản ánh, các tài liệu đạ có trong hồ sơ vụ án hoặc mới đưa ra khi xét hỏi đều phải
được công bố tại phiên tòa (Điều 214 BLTTHS). Nếu đó là những tình tiết quan
trọng mà trinh sát hình sự do tòa triệu tập với tư cách người làm chứng vắng mặt
thì hội đồng xét xử có thể quyết định hoãn phiên tòa (Điều 192 BLTTHS)
33. Xí nghiệp dược phẩm tỉnh A báo cho cơ quan điều tra biết đêm qua kho của xí
nghiệp đã bị kẻ gian đột nhập lấy đi một số dược liệu quý.Cùng ngày có người ở
gần kho dược liệu cho biết đã nhìn thấy một người lạ mặt lảng vảng ở khu vực kho
vào thời điểm xảy ra vụ trộm. Theo sự mô tả của người này, cơ quan điều tra đã
nhận diện được một người lạ mặt ở bến xe ô tô, qua kiểm tra hành chính thấy
TTHS: “Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104,
105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171của Bộ luật hình sự chỉ được
khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của
người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể
chất…”
36. A đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của B, tài sản trị giá 3 triệu đồng. B đã
tố giác hành vi phạm tội của A với cơ quan công an.
a. Hãy xác định trình tự khởi tố vụ án hình sự nói trên?
Trình tự khởi tố vụ án hình sự theo các bước như sau:
-Tiếp nhận thông tin từ việc tố giác của công dân B.
-Kiểm tra và xác minh các tin tức về tội phạm A để xác định dấu hiệu tội phạm. Ở
đây A đã phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.
-Cơ quan có thẩm quyền tiến hành khởi tố vụ án hình sự đối với A.
b. Sau khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố, trong quá trình điều tra, A và B đã tự
thỏa thuận phần bồi thường. B đã làm đơn yêu cầu cảnh sát điều tra đình chỉ điều
tra. Nêu hướng giải quyết vụ án của cơ quan điều tra?
Tuy B đã làm đơn yêu cầu cảnh sát điều tra đình chỉ điều tra do A và B đã tự thỏa
thuận bồi thường, nhưng đây chỉ là tình tiết giảm nhẹ trong quá trình xét xử mà
không đình chỉ điều tra do đây là vụ án về tội trộm cắp tài sản không quy định tại
Điều 105 BLTTHS (khởi tố theo yêu cầu của người bị hại).
c. Thẩm quyền khởi tố vụ án này thuộc cơ quan nào khi:
-A là dân thường.
-A là kiểm sát viên.
-A là quân nhân đã bị loại ngũ.
(Cho biết A có đủ điều kiện của 1 chủ thể tội phạm)
-Nếu A là dân thường hoặc là quân nhân đã bị loại ngũ thì thẩm quyền khởi tố
thuộc cơ quan công an điều tra.
-Nếu A là kiểm sát viên thì thẩm quyền khởi tố thuộc cơ quan điều tra của Viện
kiểm sát.
37. Nguyễn Văn A là quân nhân thuộc đơn vị Q về nghĩ phép tại huyện X. Khi nghĩ
Dream II là của gian nên N cố tình không trả số tiền còn lại. H đã tức nên đánh N
gây thương tích với tỷ lệ là 35%.
Hỏi: Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra các vụ án trên.
-Việc cướp xe Drem II xảy ra tại Quận Hoàn Kiếm thì thẩm quyền điều tra là cơ
quan công an Quận Hoàn Kiếm.
-Việc H đánh N gây thương tích tỷ lệ 35% tại Quận Hồng Bàng, Hải Phòng thì
thẩm quyền thuộc cơ quan công an Quận Hòa Kiếm tiến hành điều tra. Việc tiêu
thụ xe gian cũng sẽ được xem xét tại đây.
Theo quy định tại Điều 110 BLTTHS: “ … Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều
tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường
hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm
quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt…”
40. Nguyễn Văn H là quân nhân được đơn vị cho nghĩ phép về huyện X. H đã rủ B
là người cùng huyện trộm cắp tài sản của C. Vụ án bị phát hiện, H và B bị bắt và bị
VKS đưa ra truy tố trước tòa án. Hãy xác định tòa án nào có quyền xét xử các vụ
án trên nếu:
-C là sĩ quan quân đội.
-C là dân thường.
-C là dân thường, H đã có quyết định loại ngũ sau khi phạm tội.
-Nếu H là quân nhân thì C dù sĩ quan quân đội hay dân thường điều do thẩm quyền
xét xử của Tòa án quân sự. B là đồng phạm, do không thể tách rời vụ án để xét xử
nên B cũng do tòa án quân sự xét xử.
-Nếu H đã có quyết định loại ngũ, C là dân thường thì vụ án sẽ thuộc thẩm quyền
xét xử của tòa án địa phương nơi xảy ra vụ trộm cắp.
41. Tòa án nhân dân quận 3 thành phố HCM đã thụ lý VAHS đối với A về tội trộm
cướp tài sản. Trong khi chuẩn bị xét xử Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên
tòa thấy vụ án này không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND quận 3 nên cần
chuyển vụ án cho tòa án khác.
Hãy xác định thẩm quyền quyết định chuyển vụ án nói trên thuộc về ai và tòa án
cấp nào nếu:
-Người bị hại kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, VKS cùng cấp và người bị hại bổ sung kháng nghị, kháng
cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại.
Hãy nêu cách giải quyết của tòa án cấp phúc thẩm.
Đối với những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng nghị hoặc kháng cáo,
Tòa án cấp phúc thẩm không phải mở phiên toà, nhưng nếu xét cần thì có thể triệu
tập những người tham gia tố tụng cần thiết để nghe ý kiến của họ trước khi Tòa án
ra quyết định. Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị tăng hình phạt người bị
hại kháng cáo giảm hình phạt thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét để áp dụng
tăng, giảm hình phạt hoặc giữ nguyên bản án của toà án cấp sơ thẩm.
Tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng
cáo của người bị hại.
44. Lê Văn H phạm tội trộm cắp tài sản của xí nghiệp X trị giá 80 triệu đồng, H đã
bị viện kiểm sát huyện A truy tố theo khoản 2 Điều 138 BLHS. Tòa án huyện A áp
dụng khoản 1 Điều 138 BLHS tuyên phạt H 3 năm tù và buộc bồi thường 45 triệu
đồng về tội trộm cắp tài sản.
-VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp kháng nghị yêu cầu áp dụng khoản 2 Điều 138
BLHS.
-Xí nghiệp X kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt.
-Tòa án cấp phúc thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 138 BLHS. Tuyên phạt H 6 năm
tù và buộc bồi thường 80 triệu đồng.
Hãy nhận xét việc giải quyết vụ án của tòa án các cấp.
Việc xét xử của Tòa án nhân dân huyện A khi tuyên phạt H là phải căn cứ theo các
quy định của BLHS về hành vi trộm cắp tài sản. Khi quyết định hạ khung hình
phạt cho H phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ được BLHS quy định là dấu hiệu
định khung hình phạt (Điều 46 BLHS), nếu trường hợp H không có các điều kiện
trên thì tòa án cấp sơ thẩm phải xét xử khoản 2 Điều 138 BLHS theo truy tố của
VKS huyện A.
Việc bồi thường thiệt hại thì phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc
người quản lý hợp pháp (điều 42 BLHS), việc giải quyết trả 45 triệu đồng của Tòa
án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt A hình phạt tù chung thân.
Vì không có kháng cáo, kháng nghị nên ngày 3/12/1990 Tòa án đã xét xử sơ thẩm
ra quyết định đưa bản án ra thi hành.
Ngày 1/1/1992, A bị bệnh nặng nên đã làm đơn gửi đến ban giám thị trại giam và
VKS. Hai cơ quan này chuyển đơn của A đến tòa án. Sau khi xem xét, Tòa án đã ra
quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Đến ngày 1/1/1993, A khỏi bệnh. Tòa án ra
quyết định tiếp tục thi hành án.
Câu hỏi:
a. Anh chị hãy nêu nhận xét của mình về việc giải quyết vụ án của các cơ quan nói
trên.
- Trường hợp phạm tội của A là phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, theo
điều 166 BLTTHS thì trong thời hạn ba mươi kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và
bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong những quyết định như: Truy
tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ
hoặc tạm đình chỉ vụ án. Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng viện kiểm sát có
thể gia hạn, nhưng không quá ba mươi ngày. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm
sát có
- A phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khi nhận hồ sơ từ cơ quan điều tra chuyển đến
VKS thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam đến cấm đi khỏi nơi cư trú là chưa
đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án.
- Việc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với A trong trường hợp bị bệnh
nặng của Tòa án là đúng theo quy định tại Điều 262 BLTTHS.
b. A phải chấp hành tối thiểu là bao nhiêu năm tù nếu xét giảm trong trường hợp
thông thường và trong trường hợp xét giảm đặc biệt.
Theo Điều 34 BLHS thì tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng
đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử
hình. Việc xét giảm án đối với người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm
xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải đảm bảo thời hạn thực tế
chấp hành hình phạt là 20 năm đối với trường hợp xét giảm thông thường quy định
tại Điều 58 BLHS. Việc xét giảm trong trường hợp đặc biệt thì tòa án có thể xét
Bản án sẽ do cơ quan công an trình báo những người có thẩm quyền kháng nghị để
tiến hành việc kháng nghị.
Do bản án đã có hiệu lực của pháp luật và đã hết thời hạn kháng cáo kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm nên trường hợp trên phải được kháng nghị theo thủ tục
Giám đốc thẩm.
-Việc Giám đốc thẩm là xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng
nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án Điều
272 BLTTHS).
49. Nguyễn Văn A phạm tội cướp giật tài sản, bị cơ quan điều tra tạm giam (khi bị
bắt A được 17 tuổi) và VKS truy tố theo khoản 1 Điều 136 BLHS. Tòa án quyết
định đưa vụ án ra xét xử khi H đã 18 tuổi, vì vậy tòa án không yêu cầu đoàn luật sư
cử người bào chữa. Tại phiên tòa A và gia đình cũng không yêu cầu người bào
chữa. Sau khi xem xét, tòa án đã áp dụng khoản 1 Điều 136 tuyên A 3 năm tù về tội
danh trên. Hãy nhận xét việc giải quyết của cơ quan THTT.
- Viện kiểm sát truy tố A theo khoản 1 Điều 136 BLHS về tội cướp giật tài sản với
mức phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Nếu không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ
thì đối với một người có đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự có mức phạt
tùlà 3 năm.
- Khi đưa ra xét xử Tòa án không yêu cầu Đoàn Luật sư bào chữa theo Quy định
đối với người chưa thành niên là đúng vì lúc này A đã 18 tuổi có đủ năng lực hành
vi chịu trách nhiệm hình sự.
- Việc áp dụng khoản 1 Điều 136 của Tòa án và đưa ra mức phạt tù là 3 năm là
không đúng theo quy định của BLHS. Tại khoản 1 Điều 74 BLHS quy định đối với
người trên 16 tuổi và dưới 18 tuổi khi phạm tội nếu điều luật áp dụng quy định
hình phạt tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất áp dụng không quá ¾ mức phạt
tù mà điều luật quy định. Như vậy, trường hợp của A chỉ chịu trách nhiệm hình sự
bằng hình phạt tù có thời hạn là 3năm x ¾ = 36tháng x ¾ = 27 tháng tù giam. Do A
đã bị tạm giam 1 năm tại cơ quan điều tra nên A chỉ chấp hành hình phạt tù còn lại
là 15 tháng.
50. A phạm tội khi 17 tuổi 2 tháng. Trong quá trình tiến hành khởi tố, điều tra, truy