Ảnh hưởng của việc ủ phân gà bằng các hệ vi sinh vật bản địa (IMO) và bằng chế phẩm Bioplant đến sinh trưởng, phát triển, năng suất của rau cải xanh (Brassica juncea (L)) trong điều kiện canh tác hữu cơ tại Gia Lâm – Hà Nội - Pdf 24

PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cùng với ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi
Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Nó đang chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ
lẻ sang chăn nuôi công nghiệp. Chăn nuôi tập trung quy mô lớn có nhiều ưu
điểm như năng suất cao, khối lượng sản phẩm lớn, giá thành hạ…nhưng cũng có
một số nhược điểm mà điển hình và trầm trọng nhất là gây ô nhiễm môi trường,
do thường xuyên thải ra một lượng lớn phân, nước tiểu, khí độc…chưa được xử
lý. Vì vậy, xử lí những chất thải từ trang trại chăn nuôi để bảo vệ môi trường,
góp phần làm giảm biến đổi khí hậu của trái đất - ngôi nhà chung của nhân loại -
đang là một nhiệm vụ cấp bách mang tính toàn cầu.
Ngành chăn nuôi gà ở nước ta cũng đang phát triển nhanh theo hướng
công nghiệp, hàng ngày thải ra một lượng phân rất lớn. Theo Tổ chức Nông
Lương Liên Hợp Quốc (FAO) (1945), người chăn nuôi không nên coi phân gà chỉ
là chất thải gây ô nhiễm môi trường, mà phải coi đây là một nguồn tài nguyên,
cung cấp một lượng phân đáng kể cho sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy
nghiên cứu để tạo ra phân hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là rất cần
thiết, đặc biệt là trong nền sản xuất nông nghiệp bền vững.
Nông nghiệp hữu cơ hạn chế tối đa việc sử dụng các hóa chất gây độc hại
cho cây trồng/vật nuôi và môi trường sống như các loại phân hóa học, thuốc trừ
sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng/tăng trọng, hóa chất dùng để bảo
quản, chế biến nông sản,… (IFOAM, 2002)
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết cho mọi người trong đời sống hàng
ngày và cũng là loại thực phẩm không thể thay thế. Rau cung cấp rất nhiều chất
quan trọng cho sự phát triển của cơ thể con người như: protein, vitamin, muối
khoáng và nhiều chất quan trọng khác. Thực tế hiện nay, việc sản xuất rau do sử
dụng quá nhiều phân bón hóa học và thuốc trừ sâu đã và đang gây ra những hậu
quả tiêu cực cho đời sống người dân. Đó là sự tồn tại của một lượng đáng kể
thuốc bảo vệ thực vật,
NO

vùi trực tiếp vào đất cũng được xem là phân hữu cơ.
Trần Thị Thu Hà (2009), phân hữu cơ được hiểu rộng ra bao gồm phế phụ
phẩm của cây trồng và gia súc ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phân giải
và được bón vào đất nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng và cải thiện tính
chất đất. Phân hữu cơ bao gồm phân chuồng, phế phụ phẩm của trồng trọt, lâm
nghiệp, rác thải công nghiệp từ các ngành sản xuất như ngành sản xuất giấy,
đường, bùn cống rãnh và phế phụ phẩm từ ngành chế biến nông sản.
2.1.2. Lợi ích của phân hữu cơ
Vũ Hữu Yêm (1995) cho rằng phân hữu cơ khi bón vào đất mang lại lợi ích:
 Cải tạo hóa tính đất: phân hữu cơ bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung
cấp
thêm các chất khoáng làm phong phú thêm nguồn thức ăn cho cây.
Trong quá trình phân giải phân hữu cơ có thể tăng khả năng hòa tan của
các chất khó tan. Việc hình thành các phức hữu cơ – vô cơ cũng có thể làm giảm
khả năng di động của một số nguyên tố khoáng làm hạn chế khả năng đồng hóa
kim loại nặng của cây. Sản phẩm nông nghiệp trở nên sạch hơn. Quan trọng hơn
nữa là việc hình thành phức hữu cơ - vô cơ ngăn chặn được sự rửa trôi.
Các chất hữu cơ sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất. Đặc
tính này rất quan trọng đối với đất có thành phần cơ giới nhẹ. Khả năng trao đổi
của mùn gấp 5 lần khả năng trao đổi của sét.
 Cải tạo lí tính đất: Các kết quả nghiên cứu của Monnier cho thấy việc trộn
chất hữu cơ vào đất làm tăng độ ổn định kết cấu đất. Chính vì vậy mà phân hữu
cơ bảo vệ được cấu trúc của đất và hạn chế được xói mòn. Tác dụng ổn định cấu
trúc đất phụ thuộc vào bản chất hữu cơ và mức độ mùn hóa.
Các chất dễ thối rữa (phân xanh) tăng độ ổn định kết cấu đất lên rất nhanh
song khả năng tạo mùn thấp nên tác dụng không bền. Mùn làm tăng sự dính kết
giữa các hạt đất giảm khả năng thấm ướt khiến cho kết cấu được bền trong nước.
Hoạt động của vi sinh vật mạnh lên rất nhanh sau khi vùi phân xanh non, dễ
phân giải nhiều đạm hòa tan. Các hợp chất hữu cơ hầu như khoáng hóa hoàn
toàn và tác động kém đến kết cấu đất. Sau khi vùi phân chuồng, thường đã được

bón phân hữu cơ làm tăng khả năng hoạt động của hệ sinh vật đất và làm thay
đổi một số tính chất lý hóa học đất theo hướng tốt hơn. Đồng thời việc sử dụng
phân hữu cơ cũng không gây độc hại cho con người cũng như các sinh vật, thực
vật khác. Nó còn góp phần phòng chống thoái hóa, ô nhiễm đất đai, góp phần
bảo vệ môi trường và đảm bảo về nhu cầu thâm canh lâu dài, tạo thêm tính bền
vững cho nền sản xuất Nông Nghiệp Việt Nam.
2.1.3. Phương pháp ủ phân
Ủ phân là biện pháp cần thiết trước khi đem phân chuồng ra bón ruộng.
Bởi vì trong phân chuồng tươi còn có nhiều hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng côn
trùng, nhiều bảo tử, ngủ nghỉ của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn và tuyến trùng gây
bệnh. Ủ phân vừa có tác dụng sử dụng nhiệt độ tương đối cao trong quá trình
phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống côn trùng, bệnh cây
vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình khoáng hoá
để khi bón vào đất phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung cấp chất dinh dưỡng
cho cây.
Vũ Hữu Yêm (1995) chỉ ra rằng có 3 phương pháp ủ phân:
 Ủ nóng hay ủ xốp: Dùng trong trường hợp phân chuồng có nhiều chất độn
nên tỉ lệ C/N của chất độn cao do vậy mà tỉ lệ C/N của phân bón cũng cao.
Phân chuồng ủ xốp nhiệt độ lên cao quá trình phân giải nhanh nên cũng
được dùng trong trường hợp phân chuồng được lấy từ chuồng gia súc có bệnh
hoặc các loại phân trâu bò có lẫn nhiều hạt cỏ.
Khi ủ phân bằng phương pháp ủ nóng, phân lấy từ chuồng ra được đánh
thành đống để cho phân phân giải trong điều kiện háo khí, đến khi nhiệt độ trong
đống phân lên cao (đến 60 – 70
0
C) phân hủy rất mạnh, đống phân sau khi xẹp
xuống thì người ta lại chất tiếp lớp khác.
Phương pháp ủ nóng, [23] có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt các hạt cỏ
dại, loại trừ các mầm mống sâu bệnh. Thời gian ủ tương đối ngắn. Chỉ 30 – 40
ngày là ủ xong, phân ủ có thể đem sử dụng.

lớp đầu tiên người ta xếp lớp thứ hai, rồi lớp thứ ba cứ như vậy cho đến khi
đống phân cao được chừng 2m. Nén lại, phủ đất hay than bùn và bảo quản cho
đến khi đem bón.
Ủ theo phương pháp này phân chuồng phân giải khá nhanh, hạt cỏ dại và
mầm bệnh truyền nhiễm cũng bị tiêu diệt song chất hữu cơ và đạm cũng mất
nhiều hơn ủ nguội. Ủ phân theo cách này, [23] có thể rút ngắn được thời gian so
với cách ủ nguội, nhưng phải có thời gian dài hơn cách ủ nóng.
Bảng 2.1: Ảnh hưởng của phương pháp chế biến và chất độn chuồng đến
việc mất đạm và chất hữu cơ
Đơn vị: % chất tươi
Phương pháp

Độn chuồng bằng rơm rạ Độn chuồng bằng than bùn
Mất chất hữu

Mất đạm
Mất chất hữu

Mất đạm
Ủ xốp 32,6 31,4 40,0 25,2
Ủ hỗn hợp 24,6 21,6 32,9 17,0
Ủ chặt 12,2 10,7 7,0 1,0
Nguồn :
Vũ Hữu Yêm, Giáo trình Phân bón và cách bón phân, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, 1995.
Phương pháp ủ hỗn hợp sử dụng khi phân chuồng có nhiều chất độn. Loại
phân như vậy phải được đem bón càng sớm càng tốt. Phương pháp này được vận
dụng khi trong phân có lẫn nhiều mầm bệnh, cỏ dại và khi nhà nông muốn
nhanh có phân hoai bón ruộng.
2.1.4. Sự chuyển hóa trong quá trình ủ phân
Vũ Hữu Yêm (1995) đường, tinh bột, axit amin được phân giải trước tiên

Dưới tác dụng của vi khuẩn, một số lượng lớn nhất hữu cơ của phân
chuồng bị phân giải và làm giảm trọng lượng chất khô của phân, phân càng ủ
không chặt chừng nào càng mất nhiều chất khô chừng ấy. Chỉ cần ủ phân trong
điều kiện yếm khí thì sự phân giải mới chỉ dừng ở giai đoạn đầu do các axit hữu
cơ được tạo thành và tích lũy lại kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật. Sự tiêu
hao trọng lượng khô là do sự phân giải liên tục xenlulo, các đa bào, peptozan,
pectin và các hợp chất protit và do sự tạo thành khí CO
2
. Phân ủ trong điều kiện
hiếu khí thì số lượng CO
2
sẽ hình thành nhiều và đó là sản phẩm của các quá
trình hoạt động sống của vi sinh vật.
Ngoài khí CO
2
ra, các khí khác cũng được tạo thành: khí mêtan, hidro và
nito phân tử. Khi ủ phân trong điều kiện hảo khí những sản phẩm này được tạo
ra ít, còn trong điều kiện yếm khí thì được tạo ra nhiều hơn.
Ngoài ra, quá trình phân giải phân chuồng còn tạo thành các axit hữu cơ
như : axit focmic, axit axetic, axit propionic, axit béo và các lactic, những loại
axit này sẽ tiếp tục được chuyển hóa thành các sản phẩm khác.
Các hợp chất của đạm cũng được phân giải trong phân chuồng. Đạm trong
phân chuồng tươi thường ở dạng ure, axit hippuric, axit uric, axit amin và một số
hợp chất khác. Amoniac được tạo ra là do sự phân giải những chất đạm kể trên.
Ure bị phân giải sẽ cung cấp nhiều amoniac nhất và cả CO
2
. Vì ure phân giải
nhanh nên đạm có thể bay đi một phần. Để tránh sự mất mất amoniac ta có thể
dùng bùn hoặc đất sét. Chất bùn có khả năng tạo phản ứng kiềm, hấp thụ được
amoniac, còn đất sét làm xảy ra phản ứng hóa học, chuyển hóa chất đạm thành

3
) làm phân bón.
Ở Trung Quốc, ngay từ thế kỷ VI, trong Tề Dân Yếu Thuật viết đời Hậu
Ngụy, tác giả Tư Hiệp đã ghi nhiều loại phân bón như phân tằm, phân bắc hoai,
đất vách, phân xanh, vùi tươi xác cây bộ đậu. Ông đã nêu tỷ mỉ phương pháp
luân canh cây bộ đậu (Đậu xanh, đậu đen ) và xem biện pháp luân canh cây bộ
đậu làm đất tốt không kém gì bón phân bắc hoai, phân tằm. Đến thế kỉ XIV,
trong tác phẩm Vương Trịnh Nông thư ở phần Nông tang thông quyết có ghi:
Việc canh nông lấy phân bón làm chính. Bón phân có thể biến ruộng xấu thành
ruộng tốt. biến đất cằn thành đất phì nhiêu. Khi kể các loại phân tác giả có kể
đến phân chuồng, phân xanh, đất hun, xác các loài động thực vật, vôi và bùn ao.
Ở Châu Mỹ, khi Christoph Colomb (1451 – 1506) đặt chân lên Châu Mỹ
cuối thế kỷ XV đầu thế kỉ XVI đã thấy thổ dân Châu Mỹ biết dùng cá chết bón
cho ngô.
Jean Baptiste Boussingault (1802-1882) đã xây dựng một trang trại thí
nghiệm ở Alsace để tiến hành thí nghiệm đồng ruộng. Boussingault đã dùng kĩ
thuật của Saussure để cân và phân tích phân bón. Ông đã cân phân bón vào chậu
và sản lượng thu hoạch. Từ đó, ông đã xác định được vai trò của phân chuồng
trong việc cung cấp thức ăn cho cây (Vũ Hữu Yêm, 1995).
Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân hữu cơ đã tạo tiền đề để sử
dụng phân hữu cơ rộng rãi trên thế giới tạo nên một nền Nông nghiệp hoàn thiện
với môi trường. Trong những năm gần đây, các tổ chức quốc tế như tổ chức
Nông lương (FAO), tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các tổ chức khác về vấn đề
môi trường đã đưa ra các khuyến cáo, hạn chế việc sử dụng hoá chất nhân tạo
vào nông nghiệp, xây dựng các quy trình sản xuất theo công nghệ sạch, công
nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo (Nguyễn Xuân
Thành, 1997).
 Tình hình nghiên cứu và sản xuất rau trên thế giới:
Theo số liệu của FAO năm 1987 diện tích gieo trồng cải trên thế giới hằng
năm là 1,5 triệu ha. Năng suất rau cải gần đây đạt đến mức ổn định nhờ sử dụng

Việt Nam 4 5 5 5 6 6 6 6 6 7
( Nguồn : FAO)
Các nước có diện tích và sản lượng cải cao nhất là Liên Xô, Trung Quốc,
Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ. Ở Châu Âu Ý, Anh, Pháp, Ba Lan, Nam Tư, Tây Ban
Nha canh tác cải nhiều nhất. Hiện nay các nước đó phát triển có khuynh hướng
trồng cải bông và cải bixen thay thế cải bắp vì các loại cải này giàu chất dinh
dưỡng hơn và có thể đóng hộp hay đông lạnh tươi.
Ở Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên do tập quán lâu đời nên cải thảo và cải củ
vẫn còn được ưa chuộng trong sản xuất. Ở các nước đang phát triển như nước ta cải
bắp và cải ăn lá còn là loại rau quan trọng hơn cả vì năng suất cao nên rau cải có khả
năng giải quyết tình trạng thiếu rau ăn trong nước (
Phạm Xuân Lân, 2007)
.
Theo Lee at (2006) cho thấy thời gian dài cung cấp 40 -80 tấn/ha/năm
phân chuồng ủ có thể cải tiến chất lượng đất và tăng năng suất của cải bắp và
ngô mà không làm ô nhiễm đất và cây trồng với kim loại nặng Ca, Zn.
Lu và Edward (1994) cho thấy rau chân vịt bị phá hủy trong 7 ngày sau
khi trồng nếu lượng bón phân gia cầm vượt quá 58tấn/ha và giới thiệu tỉ lệ bón
là 20 tấn là thích hợp cho sự sinh trưởng của cây này. Mặt khác, Fareen
etall(1993) nghiên cứu cho thấy lượng phân gia cầm bón thích hợp cho sản xuất
dâu tây là 10,8 tấn/ha và 12,8 tấn/ha cho sản xuất nho và khẳng định lượng thích
hợp của phân gia cầm thì khác nhau cho các cây trồng khác nhau.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân hữu cơ ở Việt Nam
Nông dân Việt Nam đã dùng phân bón từ rất lâu đời. Từ việc phát nương,
đốt rẫy để lại tro rồi chọc lỗ gieo hạt, gặt lúa đốt rơm rạ ngay tại ruộng sau đó
cho nước vào cày bừa cấy, đến việc đốt phân trâu bò lấy tro đem bón, nông dân
ta đã dùng phân bón và đánh giá đúng vai trò của nguyên tố tro đối với năng
suất cây trồng.
Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm và khai thác nước ta, cùng với việc mở
trường cao đẳng nông nghiệp, việc phổ biến nghiên cứu phân bón cũng được mở

Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Tuyên Quang. Đây là một trong
những dự án phát triển hữu cơ đầu tiên tại Việt Nam.
Về sản xuất rau an toàn, được sự đầu tư của Nhà nước nhiều mô hình sản
xuất rau an toàn ở các tỉnh đã được thực hiện từ năm 1995, đến nay việc sản
xuất rau an toàn không ngừng được gia tăng trong cả nước, thu được những kết
quả ban đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên mới chỉ là mô hình nhỏ lẻ, manh mún,
diện tích canh tác nông nghiệp hữu cơ chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên tổng diện
tích rau chuyên canh của từng vùng, vấn đề chất lượng, giá cả và thương hiệu
chưa được quan tâm. Năm 1998 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban
hành quyết định tạm thời về sản xuất “rau an toàn”. Trong đó đã đưa ra khái
niệm về rau an toàn: “ Những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn
củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng với đặc tính của giống, hàm lượng các
hóa chất độc hại và mức độ nhiễm các vi sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn
cho phép, an toàn cho người tiêu dung và môi trường thì được coi là rau đảm
bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “Rau an toàn”(Phạm Thị Thùy, 2006).
Nghiên cứu “Khảo nghiệm hiệu lực phân bón hữu cơ Liquid Calcium
Nitrate đối với một số cây trồng trên một số loại đất miền Bắc Việt Nam 2006”
của Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa năm 2006- 2007 cho thấy: bón 2 tấn phân hữu
cơ Liquid/ha cho rau cải bắp và su hào trên đất bạc màu, đất phù sa sông Hồng
đã tăng năng suất rau cải bắp và su hào lên 17- 24 % so với không bón hữu cơ
và đối chứng của nông dân; tăng năng suất của rau 9% so với công thức bón 10
tấn phân chuồng/ha. Bón 1,5 tấn phân hữu cơ Liquid và giảm lượng NK có trong
phân hữu cơ cho năng suất rau tương đương với công thức bón 10 tấn phân
chuồng/ha và cao hơn 9- 15% so với công thức không bón phân hữu cơ. Bón 1,5
tấn phân hữu cơ Liquid/ha cho bắp cải và su hào làm tăng tiền lãi 21- 25% so
với công thức bón theo nông dân và tăng 8- 14% so với công thức bón 10 tấn
phân chuồng/ha.
Kết quả thử nghiệm phân bón lá super K-Humate trên rau cải bắp NS-
Kross vụ thu và vụ đông 2006 của Sở KH&CN Vĩnh Phúc cho thấy: trọng lượng
bình quân/bắp cao hơn công thức không bón và tăng năng suất 276,5 kg/sào.

Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ – trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
3.1.3. Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành vào vụ xuân, từ cuối tháng 1 đến giữa tháng 7
năm 2011.
3.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Thí nghiệm 1: Ủ phân gà bằng các hệ vi sinh vật bản địa(IMO) và bằng
chế phẩm Bio-plant.
 Bố trí các công thức thí nghiệm:
• Các công thức thí nghiệm sắp xếp theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ
(RCB/
RCBD) với 4 lần nhắc lại và 3 công thức.
CT: IMO: Phân gà ủ bằng các hệ vi sinh vật bản địa
CT: Bio: Phân gà ủ bằng chế phẩm Bio-plant
CT: ĐC: Phân gà ủ bằng nước lã
• Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm:
Nhắc lại I ĐC IMO Bio
Nhắc lại II Bio ĐC IMO
Nhắc lại III ĐC Bio IMO
Nhắc lại IV IMO ĐC Bio
 Quy trình tạo vi sinh vật bản địa (IMO) (Hoon Park1 và Michael
W.DuPonte
, 2008)
Rice Steamed
Microbe
(From Natural)
Sugar
Rice Bran
(5%)-IMO2
Rhodic
Ferralsols

nhất. Để ít nhất trong 3 -5ngày, sau đó lấy lên xem cơm đã mốc hay chưa. Nếu
nấm mốc phát triển thưa thớt lại đem chôn thêm 1– 2ngày nữa, thấy nấm mốc
nhiều và đổi màu (không phải màu trắng) là đạt. Lúc này tạo IMO
1.
Nếu trong
quá trình nuôi hộp bị thấm nước thì phải làm lại.
+ Tiếp theo đem toàn bộ lượng cơm đã mốc trong hộp cho vào chậu. Cho
đường vào chậu, lượng đường cân bằng với lượng cơm mốc, dùng tay nhào cho
đường và cơm mốc thành một hỗn hợp sánh lại. Đem cho hỗn hợp trên vào
trong vại sạch, dùng khăn giấy đậy miệng vại và buộc chặt bằng dây cao su. Đặt
vại ở nơi thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp , nhiệt độ 23 – 25
o
C trong
vòng 5-7 ngày để hỗn hợp lên men tạo IMO
2.
+ Sau đó thêm nước vào hỗn hợp lên men IMO
2
tỉ lệ 2 : 1000, từ từ phun
lên 50kg cám gạo cho đến khi hỗn hợp ẩm ướt, độ ẩm khoảng 65 -70%. Đánh
đống hỗn hợp, che phủ bảng túi nilon hoặc lá cây, tránh ánh nắng trặc tiếp. Ủ
trong vòng 5-7 ngày , nhiệt độ 23 – 25
o
C, theo dõi nhiệt độ trong quá trình ủ để
không vượt quá 50
o
C. Khi bề mặt bên trong đống có mốc trắng, nhiệt độ bên
trong đống ổn định thì quá trình lên men kết thúc, IMO
3
có thể sử dụng để ủ
phân.

250kg phân gà, đất (15%), rơm (1%), cây xanh (1%), cám gạo (5%) sau đó trộn
đều.
Lên gọn đống, che đậy, đảo 1 lần trong quá trình ủ trong vòng hơn 1
tháng, theo dõi lấy mẫu phân tích và sử dụng.
 Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Xác định nhiệt độ của đống phân (2 ngày 1 lần).
+ Phân tích các thành phần dinh dưỡng của phân gà trước và sau khi ủ:
độ ẩm, pH, C/N, hàm lượng chất hữu cơ (OM); N, P
2
0
5
, K
2
0 tổng số; Ca, Mg,
hàm lượng kim loại nặng.
+ Xác định mật độ vi sinh vật trong phân ủ cuối cùng.
3.2.2. Thí nghiệm 2: Xác định lượng phân ủ thích hợp đến sinh trưởng, phát
triển, năng suất và chất lượng của cây cải xanh(Brassica juncea (L)).
 Bố trí các công thức thí nghiệm
• Thí nghiệm gồm 4 công thức khối ngẫu nhiên đầy đủ ( RCB/RCBD) với 3
lần nhắc lại, tổng số CTTN
o
: 12.
Trong đó : CT P1: 10 tấn/ha  5kg/5m
2

CT P2: 20 tấn/ha  10kg/5m
2

CT P3: 30 tấn/ha  15kg/5m

ăn tạp, sâu tơ, bệnh thối nhũn… có thể dùng tay bắt giết.
c)Các chỉ tiêu theo dõi
• Theo dõi ngẫu nhiên 5 cây/ ô thí nghiệm, 10 ngày/ lần.
• Các chỉ tiêu sinh trưởng:
+ Chiều cao cây (cm)
+ Số lá
• Năng suất
+ Năng suất lí thuyết (kg/m
2
) = (năng suất cá thể * số cây/ 1 đơn vị diện tích
) / 1000
+ Năng suất thực thu (kg/hộp) = Thực thu trên ô thí nghiệm
d) Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lí trên chương trình IRRISTAT 5.0 và bằng phần mềm
EXCEL.
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Ảnh hưởng của việc ủ phân gà bằng IMO và bằng chế phẩm Bio-plant
đến chất lượng của phân.
4.1.1. Sự thay đổi nhiệt độ đống phân trong quá trình ủ
Nhiệt độ của đống phân được theo dõi ở 5 điểm chéo góc của đống phân,
kết quả cho thấy:
Sau một tuần ủ nhiệt độ tăng lên rất nhanh, trung bình nhiệt độ tăng lên
4,5
0
C đối với ủ phân bằng IMO, khoảng 6
0
C đối với ủ phân bằng chế phẩm Bio-
plant và 4
0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status