Phương hướng hoàn thiện công tác giám sát từ xa của BHTG VN chi nhánh khu vực Hà Nội - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Sau nhiều năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế và vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế đã được phát triển và cải thiện đáng kể. Để có
thể nhanh chóng vượt qua được ngưỡng một nước nghèo, Việt Nam cần thúc
đẩy phát triển kinh tế ở tốc độ cao và bền vững trong nhiều năm tới. Tổ chức
có hiệu quả hoạt động bảo hiểm tiền gửi nhằm góp phần kiểm soát rủi ro
trong hoạt động ngân hàng, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người gửi tiền,
tạo điều kiện huy động tối đa nguồn lực trong nước cho đầu tư phát triển là
một trong các giải pháp hướng tới mục tiêu đó.
Hoạt động bảo hiểm tiền gửi có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới
hầu hết mọi thành viên của nền kinh tế thông qua các tác động và hiệu quả
của hoạt động này đối với người gửi tiền và hệ thống tài chính của quốc gia.
Mức độ phổ cập thông tin về bản chất, tiện ích, vai trò, cơ chế hoạt động bảo
hiểm tiền gửi v.v... đóng vai trò quan trọng và có tính quyết định tới hiệu quả
của hoạt động này. Hơn nữa, hoạt động bảo hiểm tiền gửi mới được triển khai
phổ biến ở Việt Nam được năm năm. Nhận thức và khẳng định giá trị của
hoạt động này cũng như việc thiết lập mô hình, cơ chế vận hành nó còn cần
được tiếp cận đầy đủ, toàn diện hơn để có định hướng phát triển phù hợp với
tốc độ phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam và lộ trình hội nhập của
đất nước.
Với vai trò quan trọng của BHTG như vậy, sau một thời gian thực tập
ở BHTG VN chi nhánh Hà Nội, được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
PGS.TS Hồ Sỹ Sà và sự giúp đỡ của các anh chị phòng giám sát từ xa nên
em đã chọn đề tài: "Phương hướng hoàn thiện công tác giám sát từ xa của
BHTG VN chi nhánh khu vực Hà Nội" làm nội dung nghiên cứu trong
Chuyên đề thực tập của mình.
Kính mong thầy giáo xem xét và góp ý để em hoàn thành chuyên đề
thực tập tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Tâm

- Góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng của quốc gia
phát triển.
- Góp phần thúc đẩy huy động tiết kiệm phục vụ đầu tư phát triển bền vững.
2. Sự cần thiết khách quan của BHTG.
Tín dụng là một trong những hoạt động kinh tế phát triển khá mạnh mẽ
và đem lại lợi nhuận rất cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì những rủi ro tín dụng
có thể xảy ra ở bất cứ lúc nào, gây tổn thất cho các tổ chức tín dụng như mất
mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập ... làm cho quỹ tín dụng bị thua lỗ, thậm chí
bị phá sản.
Rủi ro tín dụng xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân:
- Do môi trường kinh tế chưa ổn định làm cho một số doanh nghiệp
không đứng vững trên thị trường;
- Do quản lý Nhà nước còn sơ hở, tạo điều kiện cho một số cá nhân,
doanh nghiệp có hành vi lừa đảo;
- Do trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế.. .
Cùng với những nguyên nhân trên, khách hàng cũng góp phần tạo ra
những rủi ro tín dụng. Chẳng hạn: Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, sản
xuất kinh doanh thua lỗ; hoặc người vay cố tình không trả nợ; hoặc tài sản thế
chấp, giấy tờ pháp lý của khách hàng không đảm bảo.
Bản thân các tổ chức tín dụng cũng gây ra những rủi ro như: Không
chấp hành nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm quá trình xét duyệt cho
vay; Không kiểm tra được việc sử dụng vốn của người vay; Quá chú trọng về
lợi nhuận, đặt tiêu chuẩn lợi nhuận lên trên các nguyên tắc.
Ngoài ra còn có nguyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng như có
sự thay đổi, điều chỉnh về chính trị, chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà
nước, thay đổi địa giới hành chính của các địa phương.. .
Những rủi ro tín dụng xảy ra có thể để lại hậu quả khôn lường.
- Đối với nền kinh tế: Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có
liên quan trức tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanh
nghiệp, người gửi tiền. Nếu có rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc làm phá sản một

1/2/1994 của Bộ Tài chính). Theo quyết định này, Bảo Việt đã triển khai
nghiệp vụ BHTG, đây là sự khởi đầu hoạt động BHTG công khai ở Việt Nam.
Hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện phát triển chậm và bộc lộ
nhiều hạn chế. Tính đến năm 1995 chỉ có 162 QTDND tham gia BHTG, tiền
gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm chiếm 33,22% tổng số dư tiển gửi tại các
QTDND và chỉ chiếm 0.2% tổng số dư tiền gửi trong cả nước tại thời điểm
đó. Đến cuối năm 1996, có 300 QTDND tham gia BHTG, cuối quí I/1997 có
370 QTDND tham gia với số tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm là 322 tỷ
VND. Có thể nói, hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện mới chỉ triển khai
được với một số lượng rất nhỏ khách hàng là đơn vị có huy động tiền gửi ( chỉ
có một số QTDND tham gia, còn các loại hình có huy động tiền gửi khác
không tham gia BHTG)
Hạn chế của hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện trong thời gian
này chủ yếu là không đảm bảo các yếu tố quyết định thành công đối với hoạt
động này trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.
Sau quá trình thực hiện đổi mới, hoạt động ngân hàng ở Việt Nam đạt
được trình độ phát triển nhất định. Số lượng các đơn vị tham gia kinh doanh
ngân hàng cũng tăng lên nhiều. Hoạt động ngân hàng dần thể hiện tính thị
trường. Tính cạnh tranh trong huy động tiền gửi và cho vay là vấn đề bức bách
đối với các đối tác tham gia trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và tín dụng.
Yếu tố rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng ngày càng trở nên
phức tạp và cần có giải pháp phòng ngừa kịp thời. Cuộc khủng hoảng tài chính,
tiền tệ ở khu vực từ đầu năm 1997 phần nào đã có ảnh hưởng tới hoạt động của
hệ thống Ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư vào các dự án
liên doanh hoặc xuất nhập khẩu. Hơn nữa, xu thế hội nhập trong khu vực và
trên thế giới mang lại cơ hội cho các ngân hàng Việt Nam đồng thời cũng phát
sinh nhiều thách thức và rủi ro ở mức cao hơn. Cùng với tốc độ mở cửa ngày
càng tăng, sự tác động đối với thị trường huy động vốn và tiêu thụ vốn trong
nước cũng sẽ chịu tác động trực tiếp của những thay đổi, biến động của thị
trường tài chính và tiền tệ tại các nước trong khu vực và trên thế giới.

tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này mất khả năng thanh toán và bị cơ
quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
Tham gia BHTGVN là quy định bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng
và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt
động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi
của cá nhân. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định
của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và
sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Tính đến
cuối năm 2000 có 1033 tổ chức tham gia BHTGVN, gồm các loại hình sau:
• Ngân hàng thương mại Nhà nước
• Ngân hàng thương mại cổ phần;
• Ngân hàng liên doanh;
• Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
• Công ty tài chính;
• Công ty cho thuê tài chính;
• Quỹ tín dụng nhân dân;
Trên lãnh thổ Việt Nam có các tổ chức huy động tiền gửi cá nhân,
nhưng chưa có quy định hoặc được quy định không thuộc đối tượng bắt buộc
tham gia BHTG. Đó là tổ chức huy động tiền tiết kiệm bưu điện; tổ chức huy
động tiền gửi của các hội phụ nữ, hội nông dân v.v.. , Quỹ hỗ trợ phát triển
Việt nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam.
Theo kinh nghiệm của các nước có hoạt động BHTG, các chi nhánh
ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng thuộc đối tượng bắt buộc
tham gia BHTGVN. Một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
này đã và đang tham gia BHTG ở chính quốc.
* Đối tượng bảo hiểm.
Điều 23 của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính
phủ về BHTG quy định.
Tiền gửi được bảo hiểm là đồng Việt Nam của các cá nhân tổ chức

gửi tiền nhưng sẽ được thế quyền để được hưởng số tiền thanh lý tài sản hay
đòi nợ.
d. Giải thể tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá
sản của tổ chức tín dụng.
Tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của tổ chức tín dụng là tình trạng
tổ chức tín dụng bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn khi
đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn. Tuy nhiên, không muốn toà án can thiệp, các cổ đông của tổ chức
tín dụng chấp nhận tuyên bố giải thể. Trong trường hợp này, bảo hiểm cũng
có trách nhiệm bồi thường đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn mà tổ chức tín
dụng không thanh toán hết sau khi có quyết định giải thể.
e. Không thể thực hiện việc thanh toán cho những người gửi tiền vì
một mệnh lệnh của toà án đối với tổ chức tín dụng.
Xảy ra trong trường hợp tổ chức tín dụng cố ý không thanh toán nợ và
chủ nợ đệ đơn lên toà án để có lệnh bắt buộc quỹ phải tuyên bố phá sản hay
thanh lý để trả nợ các chủ nợ cho rằng chỉ có cách này họ mới thu được các
khoản nợ.
2.2. Các rủi ro loại trừ.
Những rủi ro loại trừ (không thuộc phạm vi bảo hiểm) là những rủi ro gây ra
sự phá sản, thanh lý hay giải thể một tổ chức tín dụng trong các trường hợp:
- Vi phạm nghiêm trọng các quy định về tiền tệ tín dụng, thanh toán đã
nêu trong pháp lệnh ngân hàng của tổ chức tín dụng .
- Giải thể tự nguyện vì nguyên nhân: Do cổ đông nhận thực thấy mục
tiêu khi thành lập tổ chức tín dụng không đạt được. Và do cổ đông muốn thu
hồi lại vốn hoặc có nhu cầu cải tổ lại cơ cấu của tổ chức tín dụng.
- Tổ chức tín dụng ngừng hoạt động vì chiến tranh, đình công, bạo loạn
dân sự, nội chiến.
Đây là những rủi ro loại trừ không thông thường, không liên quan đến
hoạt động kinh doanh tiền tệ. Khi tổ chức tín dụng bị phá sản, thanh lý, giải
thể do các rủi ro này bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm bồi thường cho

3
2
S
21
30
×
×
++
+
=
SS
S
P
Trong đó :
P: là số phí bảo hiểm tiền gửi phải nộp trong quý.
S
o
: là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm đầu tháng thứ nhất của
quý trước sát với quý thu phí BHTG.
S
1
, S
2
, S
3
: Là số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm ở cuối các tháng
thứ nhất, thứ hai, thứ ba của quý trước sát với quý thu phí BHTG
4100
15,0
×

5. Nguyên tắc và quy trình chi trả.
• Nguyên tắc:
Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng VNĐ của các cá nhân và
được thể hiện đầy đủ trên sổ sách, chứng từ kế toán của tổ chức tham gia
BHTG theo quy định của pháp luật.
- Việc chi trả tiền bảo hiểm được thực hiện căn cứ vào danh sách người
gửi tiền được hội đồng quản trị BHTGVN phê duyệt và trong giới hạn mức
tối đa do chính phủ quy định.
- Người nhận tiền bảo hiểm phải có đầy đủ các giấy tờ hợp pháp, hợp lệ và
thực hiệ đầy đủ các thủ tục được quy định. Trong đó các tổ chức tham gia
BHTG phải chuẩn bị hồ sơ đề nghị chi trả tiền bảo hiểm còn người gửi tiền phải
thực hiện đăng ký nhận tiền bảo hiểm và chuẩn bị những giấy tờ để nhận tiền.
*. Quy trình chi trả gồm các bước sau:
- Tiếp nhận hồ sơ đề nghị chi trả từ tổ chức tham gia BHTG mất khả
năng thanh toán BHTG.
- Kiểm tra thủ tục, kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ đề nghị chi trả.
- BHTG lập phướng án chi trả.
- Trình hội đồng quản trị BHTGVN phê duyệt phương án chi trả.
- Tiến hành chi trả.
II- VAI TRÒ CỦA NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT KHÁCH HÀNG THAM GIA
BHTG.
1. Các nghiệp vụ chính của BHTG.
1.1. Nghiệp vụ Kiểm tra tổ chức tham gia BHTG.
Trên cơ sở quy định tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP, BHTGVN có
quyền kiểm tra tổ chức tham gia BHTG thực hiện các quy định về BHTG và
quy định đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Nội dung kiểm tra chấp
hành các quy định BHTG bao gồm: Kiểm tra hồ sơ pháp lý đảm bảo là thành
viên tham gia BHTG, kiểm tra việc niêm yết chứng nhận BHTG, kiểm tra tính
đầy đủ trong nộp phí chấp hành thời hạn nộp phí và nộp phạt ( nếu có), kiểm
tra việc cung cấp thông tin cho tổ chức BHTG.

được công bố hoặc có thể đề nghị chuyển tiền qua ngân hàng hoặc bưu điện
đến một địa điểm khác. Qui trình và thủ tục thực hiện chi trả được qui định cụ
thể ở các văn bản do BHTGVN ban hành, đề cập đến các vấn đề: hồ sơ đề
nghị chi trả tiền bảo hiểm, trách nhiệm của tổ chức tham gia BHTG, thủ tục
đăng ký nhận tiền bảo hiểm, giấy tờ hợp pháp, hợp lệ để nhận tiền bảo hiểm,
thủ tục nhận tiền bảo hiểm, thời hạn đăng ký và nhận tiền bảo hiểm.
Công tác theo dõi thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG sau chi
trả được tiến hành dưới hình thức nắm thông tin về hoạt động của Hội đồng
thanh lý thông qua chi nhánh NHNN tỉnh để đốc thúc việc thu hồi trong thanh
lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG được chi trả, giám sát việc thực hiện
thanh toán cho các chủ nợ để đảm bảo trả nốt phần tiền gửi của người gửi tiền
trên hạn mức chi trả đã được BHTGVN thực hiện và hoàn BHTGVN tiền đã
chi trả.
1.4. Nghiệp vụ tuyên truyền, quảng cáo.
Hoạt động tuyên truyền đã được tiến hành với mục đích phổ cập thông
tin về hoạt động BHTG tới toàn thể công chúng. Các vấn đề về quyền lợi và
trách nhiệm của người gửi tiền, tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG, mực
đích, vai trò của hoạt động này đã được BHTGVN tuyên truyền tới công
chúng trên các phương tiện thông tin đại chúng, ấn phẩm, hội thảo, v.v.. . Đến
nay, tại tất cả các tỉnh và thành phố, BHTGVN đã tổ chức các hội thảo về
BHTG với thành viên tham gia là đại diện các tổ chức tham gia BHTGVN,
các cơ quan chính quyền địa phương liên quan, các cơ quan thông tấn báo chí
và chi nhánh NHNN tỉnh và thành phố. Cùng với BHTGVN, các tổ chức
tham gia BHTG cũng bắt đầu quảng cáo về hoạt động BHTG tới công chúng.
Một trang web về BHTGVN cũng được thiết lập trên mạng internet để quảng
bá về hoạt động này và trao đổi thông tin với cộng đồng được hiệu quả hơn.
2. Vị trí của nghiệp vụ giám sát từ xa khách hàng tham gia BHTG.
Giám sát từ xa là nghiệp vụ quan trọng hàng đầu của các tổ chức
BHTG, nó giúp phát hiện và cảnh báo sớm những sai phạm của các tổ chức
tham gia BHTG, buộc những tổ chức này phải khắc phục những sai phạm, từ

gia BHTG có tác dụng phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm và cảnh báo
phòng tránh vi phạm các quy định về BHTG cũng như các qui định đảm bảo
an toàn hoạt động của tổ chức tham gia BHTG.
Vai trò của tổ chức BHTG trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi
tiền và tính ổn định của hệ thống ngân hàng đạt được một phần nhờ vào tác
dụng của công tác giám sát từ xa. Nếu không có một hệ thống giám sát từ xa
hữu hiệu, BHTG và các phương thức khác của hệ thống đảm bảo an toàn hoạt
động ngân hàng và không có hiệu quả và sẽ làm tăng chi phí và nhiều tổn thất
khác cho việc giải quyết khủng hoảng tài chính.
Thực tiễn hoạt động BHTG ở nhiều quốc gia cho thấy không có hệ
thống thanh tra, giám sát từ xa ngân hàng chặt chẽ thì hệ thống BHTG cùng
với ngân hàng trung ương có thể sẽ cung cấp hỗ trợ cho các ngân hàng không
có khả năng thanh toán tham gia vào các hoạt động rủi ro. Như vậy có thể sẽ
làm nguy hại đến tính ổn định trong hoạt động của cả hệ thống tài chính của
quốc gia.
Để thực hiện có hiệu quả công tác giám sát từ xa một số vấn đề cần được
đề cập và thực hiện. Đó là cơ chế cung cấp thông tin, quyền và trách nhiệm của
tổ chức BHTG trong công tác giám sát từ xa tổ chức tham gia BHTG .
3. Nội dung hoạt động giám sát từ xa của tổ chức BHTGVN.
3.1. Nội dung hoạt động giám sát từ xa của tổ chức BHTG.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 5, Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg,
ngày 9/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ quy định BHTG Việt Nam có trách
nhiệm"theo dõi, giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị
định của Chính phủ về BHTG và các quy định về an toàn trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tham gia BHTG".
3.1.1 Giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về BHTG
Hoạt động giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về BHTG
gồm các nội dung cơ bản sau:
• Giám sát hồ sơ tham gia BHTG gồm:
Hồ sơ đăng ký tham gia BHTG gồm phiếu đăng ký tham gia BHTG; Bản

• Giám sát về góp vốn cổ phần
• Giám sát về mua sắm tài sản cố định
• Giám sát tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
• Giám sát về kết quả kinh doanh
• Giám sát về việc trích lập dự phòng rủi ro
Cho đến nay, do những thay đổi về văn bản pháp lý của NHNN liên
quan đến các chỉ tiêu về an toàn trong hoạt động NH
1
, ví dụ như Quyết định
số 457/2005/QĐ-NHNN ngày tháng 9 năm 2005 của NHNN đã được ban
hành thay thế cho Quyết định số 297/1999/QĐ- NHNN5. Tuy nhiên, cho đến
này việc thi hành quyết định còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Do vậy, chỉ
tiêu về Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đã chưa giám sát được vì thông tin về vốn
cấp 2 hiện nay khó xác định. Hơn nữa, nguồn thông tin đầu vào để thực hiện
giám sát khá nghèo nàn (chỉ dựa vào cân đối kế toán tháng), vì vậy Chi nhánh
khu vực Hà Nội chỉ giám sát được một số chỉ tiêu như vốn tự có, kết quả kinh
doanh, tỷ lệ mua sắm, đầu tư vào tài sản cố định, tỷ lệ góp vốn cổ phần.
3.1.3 Xử lý sau giám sát
Căn cứ vào kết quả giám sát, kết hợp với kết quả kiểm tra tại chỗ đối với
từng tổ chức tham gia BHTG trên địa bàn, hoặc những vấn đề qua giám sát do
Trụ sở chính BHTG Việt Nam thông báo, Giám đốc chi nhánh khu vực Hà Nội
1
Xem chi tiết tại phần 1.3.2.1
đã tổ chức chỉ đạo phòng giám sát gửi thông báo, cảnh báo nhắc nhở đơn vị hoặc
thực hiện các hình thức xử lý khác tùy theo mức độ vi phạm, cụ thể:
• Thông báo và yêu cầu tổ chức tham gia BHTG trên địa bàn khắc phục
vi phạm quy định về việc tính, nộp phí BHTG và các vi phạm an toàn trong
hoạt động;
• Kiểm tra việc khắc phục, chỉnh sửa vi phạm của tổ chức tham gia
BHTG đã được thông báo;

Nếu tỷ lệ này có xu hướng không tốt thì tất yếu sẽ không thuận lợi cho các ngân
hàng, trên cơ sở đó giúp thanh tra biết được cần thiết phải kiểm tra, tìm hiểu theo
phương hướng nào để sau đó khuyến nghị các tổ chức tín dụng kịp thời có biện
pháp điều chỉnh như thế nào cho phù hợp.
• Phương pháp phân tổ.
Đây là phương pháp quan trọng trong việc phân tích các hiện tượng và
kết quả kinh tế thường rất phong phú và đa dạng. Dựa vào việc phân chia ra
những chỉ tiêu tổng hợp thành các chỉ tiêu bộ phận và việc phân chia các chỉ
tiêu kinh tế, người thanh tra có thể nhận thức được bản chất mối quan hệ cấu
thành và quan hệ nhân quả cũng như quy luật tạo thành và phát triển của các
hiện tượng kinh tế.
Để đạt được yêu cầu trên người phân tích có thể chia các chỉ tiêu kinh
tế theo thời gian, không gian và theo yếu tố cấu thành.
• Phương pháp Dupont.
Đây là phương pháp phân tích nhằm đánh giá sự tác động tương hỗ giữa
các chỉ tiêu. Là phương pháp giúp phân tích một tỷ lệ sơ cấp thành các tỷ lệ thứ
cấp, sau đó tỷ lệ thứ cấp trở thành tỷ lệ sơ cấp cho sự phân tích tiếp theo.
PHẦN II. TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ GIÁM SÁT TỪ XA KHÁCH
HÀNG THAM GIA BHTG TẠI CHI NHÁNH HÀ NỘI.
I- VÀI NÉT VỀ TỔ CHỨC CHI NHÁNH BHTG HÀ NỘI.
Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam khu vực Hà Nội được thành
lập ngày 26 tháng 12 năm 2001 theo quyết định của Tổng giám đốc
BHTGVN và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 27/5/2002 với nhiệm vụ là
quản lý các tổ chức tham gia BHTG tại địa bàn 7 tỉnh, thành phố gồm Thành
phố Hà Nội, Hà Tây, Hòa Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Vĩnh Phúc,
Phú Thọ và thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Tổng giám đốc
BHTG Việt Nam.
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, BHTG VN khu vực Hà Nội qua
4 năm hoạt động đã không ngừng phát triển cả trên phương diện tổ chức bộ
máy, quy mô, năng lực và chất lượng hoạt động. Trong thời gian qua, BHTG

xa
P.Kế toán
P.Tổng hợp

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Chi nhánh khu vực Hà Nội
II- TỔ CHỨC GIÁM SÁT TỪ XA KHÁCH HÀNG THAM GIA BHTG TẠI
CHI NHÁNH HÀ NỘI.
1. Phân tích khách hàng tham gia BHTG tại chi nhánh Hà Nội.
Khách hàng tham gia BHTG với hình thức bắt buộc là các tổ chức tín
dụng . Hiện nay ở Việt Nam, các tổ chức tín dụng được phân làm hai loại là tổ
chức tín dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Các tổ chức tín dụng ngân hàng được phân theo các hình thức sau:
- Theo hình thức sỡ hữu:
+ Ngân hàng thương mại quốc doanh.
+ Ngân hàng thương mại.
+ Ngân hàng liên doanh.
+ Ngân hàng nước ngoài.
- Theo hình thức hoạt động có:
+ Ngân hàng công thương.
+ Ngân hàng ngoại thương.
+ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
+ Ngân hàng Đầu tư và phát triển.
+ Ngân hàng chính sách.
- Các quỹ tín dụng nhân dân gồm có:
+ Quỹ tín dụng nhân dân trung ương.
+ Quỹ tín dụng nhân dân khu vực.
+ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm có:
+ Công ty tài chính.
+ Công ty cho thuê tài chính.

+ Thông báo chưa đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
Từ đó lập báo cáo giám sát và các báo cáo khác theo quy định. Đồng
thời phối kết hợp thường xuyên với phòng, Ban, Chi nhánh của BHTG VN,
các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước và các đơn vị khác để tiếp nhận, cung
cấp các thông tin có liên quan đến các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
3. Quản lý khách hàng tham gia BHTG tại chi nhánh Hà Nội.
Đối tượng của hoạt động BHTG không chỉ là hàng nghìn tổ chức tham
gia BHTG mà còn nhiều chục triệu lượt người gửi tiền được bảo hiểm và
công chúng khác có liên quan đến hoạt động BHTG trong xã hội.
Để tiến hành hoạt động quản lý khách hàng tham gia có hiệu quả chi
nhành đã tiến hành các nội dung sau:
- Giám sát việc chấp hành thời hạn nộp phí, số phí nộp thừa hoặc thiếu
của các tổ chức tham gia BHTG .
- Giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt
động ngân hàng.
Công tác quản lý, theo dõi việc tham gia BHTG của các TCTD là rất
quan trọng đối với BHTG VN nói chung và tại chi nhánh Hà Nội nói riêng.
Bảo hiểm với ý nghĩa là các bảo đảm, phòng ngừa cho những rủi ro trong
tương lai trên nguyên tắc số đông bù số ít nên theo dõi việc tham gia BHTG
của các TCTD sẽ là cơ sở đảm bảo cho nguyên tắc này được thực thi. Do vậy,
ngày càng nhiều các TCTD sẽ đăng ký tham gia BHTG nên khối lượng công
việc của giám sát, của kiểm tra điều kiện để cấp giầy chứng nhận BHTG đối
với các tổ chức này cũng tăng lên. Khi có tổ chức mới đăng ký tham gia
BHTG, BHTGVN cần tiến hành kiểm tra điều kiện của các TCTD đó một
cách nhanh chóng và hướng dẫn đơn vị hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục cũng như bổ
sung kịp thời những thiếu sọt để trình Tổng giám đốc cấp giấy chứng nhận
BHTG cho TCTD nếu như có đủ điều kiện:
- Thông báo trao đổi thông tin với NHNN để nắm bắt kịp thời những
TCTD đang có dấu hiệu bất thường để tiến hành giám sat, kiểm tra, tìm rõ
nguyên nhân chính xác để đưa ra biện pháp xử lý kịp thời và phù hợp.

tham gia BHTG trên địa bàn chi nhánh quản lý, Cụ thể đã cấp mới cho 16 tổ
chức tham gia BHTG và thu hồi giấy chứng nhận BHTG đối với 7 đơn vị,
đồng thời tiếp nhận từ trung ương 04 NHTM Nhà nước, từ chi nhánh TP Hồ
Chí Minh 01 Công ty tài chính.
Như vậy, tính đến 31/3/2005 tổng số tổ chức tham gia BHTG trên địa
bàn là 209 đơn vị. Tăng so với ngày đầu thành lập là 14 đơn vị. Gồm:
+ Ngân hàng thương mại nhà nước: 4 đơn vị.

Trích đoạn ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH KHU VỰC HÀ NỘ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát Kiến nghị với tổ chức BHTGVN. Kiến nghị đối với quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và hệ thống quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status