lý luận chung về báo cáo tài chính và phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp - Pdf 28

Ch ơng 1
Lý luận chung về báo cáo tài chính và phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp
1.1. Lý luận chung về báo cáo tài chính.
1.1.1.Khái niệm, phân loại báo cáo tài chính
1.1.1.1.Khái niệm
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản,nguồn vốn
chủ sở hữu và công nợ cũng nh tình hình tài chính, kết qủa kinh doanh trong kì của
doanh nghiệp. Hay nói cách khác, báo cáo tài chính cũng là phơng tiện trình bày khả
năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những ngời quan tâm nh:
chủ doanh nghiệp, nhà đầu t, ngời cho vay, cơ quan thuế, và các cơ quan chức
năng ..
1.1.1.2. Phân loại báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính có nhiều loại, tuy nhiên để cho việc lập, quản lý và sử dụng báo
cáo tài chính đợc thuận tiện và mang tính khoa học có thể chia thành 2 loại:
-Báo cáo tài chính bắt buộc: Báo cáo bắt buộc là những báo cáo mà mọi doanh
nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu va quy mô doanh nghiệp đều phải lập và gửi
theo định kì. -Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp phải lập 3 báo cáo bắt buộc
sau:
+Bảng cân đối kế toán.
+Báo cáo kết quả kinh doanh
+Thuyết minh báo cáo tài chính
-Báo cáo hớng dẫn: Báo cáo hớng dẫn là những báo cáo không mang tính bắt
buộc mà chỉ mang tính hớng dẫn. Theo quy định hiện hành các doanh nghiệp có lập
một báo cáo mang tính hớng dẫn là Báo cáo lu chuyển tiền tệ. Từng doanh nghiệp
tuỳ thuộc vào nhu cầu thông tin, trình độ quản lý và trình độ kế toán của mình để
quyết định việc lập hay không lập những báo cáo này.
1.1.2. ý nghĩa, mục đích của việc lập báo cáo tài chính
1.1.2.1.ý nghĩa của việc lập báo cáo tài chính
Hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của công cụ quản lý kinh
tế tài chính, đồng thời có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm tra các hoạt

1.1.2.2.Mục đích của việc lập báo cáo tài chính, thời hạn lập báo cáo tài chính.
a) Mục đích của việc lập báo cáo tài chính:
- Tổng hợp và trình bày 1 cách tổng quát toàn diện tình hình tài sản nguồn vốn,
công nợ, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong
một kì kế toán.
- Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và
kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp
trong kì hoạt động đã qua và dự đoán trong tơng lai. Thông tin của báo cáo tài chính
là căn cứ quan trọng trong việc ra quyết định về quản lý điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh hoặc đầu t vào doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu,
các nhà đầu t, các chủ nợ hiện tại và tơng lai của doanh nghiệp.
b) Thời hạn lập báo cáo tài chính:
Để giúp các cơ quan chức năng Nhà nớc quản lý sự hoạt động của doanh nghiệp
hiệu quản hơn, Bộ tài chính đã ra quyết định về thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải lập vào cuối quý cuối năm tài chính
cho các cơ quan quản lý Nhà nớc và cho doanh nghiệp cấp trên theo quy định. Trờng
hợp có công ty con thì phải gửi kèm theo bản sao tài chính cùng quý, cùng năm của
công ty con. Thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính giữa các doanh nghiệp hạch toán
độc lập, các công ty con thuộc tổng công ty và các tổng công ty có sự khác biệt
nhau. Chẳng hạn, đối với báo cáo tài chính quý thì thời hạn gửi chậm nhất là 20 ngày
áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nớc hạch toán độc lập và các công ty con thuộc
tổng công ty, là 45 ngày đối với tổng công ty kể từ ngày kết thúc quý. Đối với báo
cáo tài chính năm thì thời hạn gửi chậm nhất áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nớc
hạch toán độc lập và các công ty con thuộc tổng công ty, các daonh nghiệp t nhân và
các công ty hợp danh là 30 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính và thời hạn 90 ngày
đợc áp dụng cho các công ty TNHH, các công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài, các loại hình hợp tác xã và các tổng công ty.
Trong trờng hợp các doanh nghiệp có năm tài chính không kết thúc vào ngày 31/12
hàng năm thì phải gửi báo cáo tài chính quý kết thúc vào ngày 31/12 và số luỹ kế từ
đầu năm tài chính đến hết ngày 31/12.

tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí sự nghiệp đã chi nhng cha
quyết toán. Cụ thể:
I. Tiền: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ số tiền hiện có của doanh nghiệp bao
gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. Số liệu để ghi vào các chỉ tiêu
này là số d của các tài sản tơng ứng( Tk: 111, 112, 113) trên Sổ cái.
II. Các khoản đầu t tài chính ngắn hạn: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị các
khoản đầu t tài chính ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá) bao gồm đầu t
chứng khoán, cho vay ngắn hạn và đầu t ngắn hạn khác. Các khoản đầu t ngắn hạn đ-
ợc phản ánh trong mục này là các khoản đầu t có thời hạn thu hồi vốn dới 1 năm
hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh. Số liệu để ghi vào các chỉ tiêu này là số d nợ của các
tài khoản 121, 128 trên Sổ cái. Riêng chỉ tiêu dự phong giảm giá đầu t ngắn hạn đợc
lấy từ số d có của Tài khoản 129 trên sổ cái và đợc ghi bằng số âm dới hình thức ghi
trong dấu ngoặc đơn.
III. Các khoản phải thu: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các
khoản phải thu từ khách hàng,các khoản trả trớc cho ngời bán, thuế GTGT đợc khấu
trừ, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác và dự phòng các khoản phải thu khó đòi.
Số liệu để ghi vào các chỉ tiêu này lần lợt là số d Nợ của các tài khoản 131(mở theo
từng khách hàng trên sổ kế toán chi tiết Tk 131), 331(chi tiết theo từng đối tợng),
133, 1361, 1368, 338( mở chi tiết theo từng đối tợng phải thu trên sổ kế toán). Riêng
số liệu của chỉ tiêu dự phòng các khoản phải thu khó đòi đợc lấy từ số d Có của Tk
139 trên sổ cái và đợc ghi bằng số âm.
IV. Hàng tồn kho: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị các loại hàng tồn
kho dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp(sau khi đã trừ dự
phòng giảm giá hàng tồn kho) đến thời điểm báo cáo. Số liệu ghi vào các chỉ tiêu
trong mục hàng tồn kho căn cứ vào số d Nợ của các tài khoản: 151, 152, 153, 154,
155, 156, 157 trên các Sổ cái tơng ứng. Riêng số liệu chỉ tiêu dự phòng giảm giá hàng
tồn kho đợc lấy từ số d Có tài khoản 159 trên Sổ cái và đợc ghi dới dạng số âm.
V.Tài sản lu động khác: Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị các loại TSLĐ khác
cha đợc phản ánh ở các chỉ tiêu trên, bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trích trớc,
chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các tài khoản cầm cố, ký quỹ, ký c-

Phần nguồn vốn:
Phản ánh nguồn hình thành vốn tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu này phản ánh
trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp.
A. Nợ phải trả:
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh nguồn hình thành vốn hiện có của doanh nghiệp tại
thời điểm lập báo cáo.
I.Nợ ngắn hạn:
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ phải trả có thời hạn trả dới
một năm hoặc 1 chu kỳ kinh doanh tại thời điểm báo cáo, bao gồm các chỉ tiêu: Vay
ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả ngời bán, ngời mua ứng trớc, thuế và các
khoản phải nộp nhà nớc, phải trả công nhân viên, phải trả các đơn vị nội bộ và các
khoản phải trả phải nộp khác. Số liệu ghi vào chỉ tiêu trong mục này là số d của các
tài khoản sau: 311, 315, 331(mở chi tiết theo từng ngời bán trên sổ chi tiết tài khoản
311), 131( mở chi tiết theo từng đối tợng), 333, 334, 336, 338, 3387, 138(mở chi tiết
theo từng khoản phải trả, phải nộp trên các tài khoản thanh toán).
II.Nợ dài hạn:
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp tại
thời điểm báo cáo. Số liệu để ghi vào các chỉ tiêu trong mục này là số d Có của tài
khoản 341 "vay dài hạn", 342 "nợ dài hạn" trên các Sổ cái của từng tài khoản.
B. Nguồn vốn chủ sở hữu.
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ nguồn vốn chủ sở hữu của chủ doanh
nghiệp, các quỹ của doanh nghiệp và phần kinh phí sự nghiệp đợc ngân sách Nhà n-
ớc, kinh phí quản lý do các đơn vị phụ thuộc nộp lên.
I.Nguồn vốn, quỹ:
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ nguồn vốn thuộc chủ sở hữu của chủ doanh
nghiệp và các quỹ của doanh nghiệp, bao gồm nguồn vốn kinh doanh, quỹ đầu t phát
triển, quỹ dự phòng tài chính....Số liệu để ghi vào các chỉ tiêu này đợc lấy từ số d Có
của các tài khoản 411 "Nguồn vốn kinh doanh", 415 "Quỹ dự phòng tài chính", 441
"Nguồn vốn đầu t XDCB" trên Sổ cái. Riêng chỉ tiêu chênh lệch đánh giá lại tài sản
và lợi nhuận cha phân phối đợc bằng số âm nếu các tài khoản tơng ứng trên Sổ cái

Phần I: Lãi, Lỗ:
Số liệu ghi vào cột 4 (kỳ trớc) của phần I "Lãi, Lỗ" của báo cáo kỳ này đợc căn cứ
vào số liệu ghi ở cột 3 "kỳ này" của báo cáo này kỳ trớc theo từng chỉ tiêu thích hợp.
Số liệu ghi vào cột 5 (luỹ kế từ đầu năm) của phần I "Lãi, lỗ" của báo cáo kết quả
kinh doanh kỳ này đợc căn cứ vào số liệu ghi ở cột 5(luỹ kế từ đầu năm) của báo cáo
này kỳ trớc cộng(+) với số liệu ở cột 3 (kỳ này), kết quả tình hình tài chính doanh
nghiệp đợc ghi vào cột 5 của báo cáo này kỳ này theo từng chỉ tiêu phù hợp.
Nội dung và Phơng pháp lập các chỉ tiêu ghi vào cột 3 ( kỳ này) của Phần I "Lãi,
lỗ" của báo cáo kết quả kinh doanh kỳ này nh sau:
Phần 1- Lãi, Lỗ
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ( Mã số 01):
Chỉ tiêu này phản ánh tổng doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm và cung cấp dịch
vụ trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là luỹ kế số phát sinh Có của Tài khoản 511 "Doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ" và tài khoản 512 "Doanh thu nội bộ" trong kỳ báo
cáo.
Các khoản giảm trừ( Mã số 03):
Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản đợc ghi giảm trừ vào tổng doanh thu
trong kỳ bao gồm:
Chiết khấu thơng mại( Mã số 04):
Chỉ tiêu này phản ánh tổng số chiết khấu thơng mại cho ngời mua hang của doanh
nghiệp cho 1 số hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã phát sinh trong kỳ báo cáo.
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này đợc căn cứ vào số phát sinh bên Có của tài khoản
521.
Giảm giá hàng bán( Mã số 05):
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này đợc căn cứ vào số phát sinh bên Có của tài khoản
532 "Giảm giá hàng bán " trong kỳ báo cáo.
Hàng bán bị trả lại( Mã số 06):
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là luỹ kế sô phát sinh bên Có của tài khoản 531
"Hang bán bị trả lại" trong kỳ báo cáo.

Chỉ tiêu này dùng để phản ánh chi phí lãi vay phải trả đợc tính vào chi phí tài chính
trong kỳ báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này căn cứ vào sổ kế toán chi tiết tài
khoản 635.
Chi phí bán hàng( Mã số 24):
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng cộng số phát sinh bên Có của Tài khoản 641
"Chi phí bán hàng" và số phát sinh Có của Tài khoản 1422 "Chi phí chờ kết
chuyển"( chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp), đối ứng với bên Nợ của Tài khoản
911 "Xác định kết quả kinh doanh" trong kỳ báo cáo.
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh ( Mã số 30):
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo
cáo. Chỉ tiêu này đợc tính toán trên cơ sở lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch
vụ cộng(+) với doanh thu hoạt động tài chính trừ(-) chi phí tài chính, chi phí bán hàng
và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán
trong kỳ báo cáo.
Mã số 30 = Mã số 20 + Mã số 21 - (Mã số 22 + Mã số 24 + Mã số 25).
Thu nhập khác (Mã số 31):
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này đợc căn cứ vào số phát sinh bên Nợ của Tài khoản
711 "Thu nhập khác" đối ứng với bên Có của Tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh
doanh " trong kỳ báo cáo.
Chi phí khác( Mã số 32):
Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này đợc căn cứ vào số phát sinh bên Có của Tài khoản
811 "Chi phí khác" đối ứng với bên Nợ của tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh
doanh " trong kỳ báo cáo.
Lợi nhuân khác ( Mã số 40):
Chỉ tiêu này phản ánh số chênh lệch giữa số thu nhập khác (đã trừ thuế GTGT phải
nộp tính theo phơng pháp trực tiêp) với chi phí khác trong kỳ báo cáo.
Mã số 40 = Mã số31- Mã số 32.
Tổng lợi nhuận trớc thuế (Mã số 50):
Chỉ tiêu này phản ánh tổng số lợi nhuận thực hiện trong kỳ báo cáo của doanh
nghiệp trớc khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh, hoạt động

Còn số liệu ghi ở cột 3 ( kỳ này) của các chỉ tiêu đợc căn cứ vào các tài khoản tơng
ứng trên các sổ kế toán kỳ này hoặc căn cứ vào các số liệu trên báo cáo này của kỳ tr-
ớc. Chẳng hạn, số liệu ghi vào chỉ tiêu Số thuế GTGT đã hoàn lạiđợc lấy từ số d Có
của Tk 133, đối ứng với bên Nợ của Tk 111, 112 hoặc căn cứ vào Sổ kế toán chi tiết
thuế GTGT đợc hoàn lại. Hoặc để lập chỉ tiêu thuế GTGT đợc giảm đầu kỳ phải
dựa vào sổ kế toán chi tiết thuê GTGT đợc giảm hoặc lấy từ số liệu ghi ơ chỉ tiêu có
mã 33 (số thuế GTGT còn đợc giảm cuối kỳ) của báo cáo này kỳ trớc.
Số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cung cấp những
thông tin tổng hợp về phơng thức kinh doanh, về việc sử dụng các tiềm năng vốn, lao
động kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của các doanh nghiệp và chỉ ra các hoạt động sản
xuất kinh doanh đó đem lại lợi nhuận hay gây ra tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp.
Đây là một bản báo cáo tài chính đợc các nhà kế hoạch tài chính rất quan tâm, vì nó
cung cấp các số liệu về hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiện trong
kỳ, đồng thời là bản hớng dẫn để dự tính trong doanh nghiệp sẽ hoạt động ra sao
trong tơng lai.
1.1.3.3. Báo cáo lu chuyển tiền tệ
Báo cáo lu chuyển tiền tệ là một báo chí tài chính phản ánh các thu và chi tiền
của doanh nghiệp theo từng hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động
đầu t, mục đích của báo cáo lu chuyển tiền tệ là nhằm trình bày cho ngời sử dụng biết
tiền sinh ra bằng cách nào và doanh nghiệp đã sử dụgn chúng nh thế nào trong kỳ báo
cáo. Qua đó họ tiến hành phân tích, đánh giá và dự đoán các mặt sau:
- Dự đoán lợng tiền mang lại từ các hoạt động trong tơng lai của doanh nhiệp
thông qua việc xem xét tình hình thu, chi trong quá khứ.
- Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- Chỉ ra mối quan hệ giữa lợi nhuận (lỗ) ròng và luồng tiền bởi vì doanh nghiệp
sẽ không thu đợc nếu hoạt động kinh doanh của họ bị thiếu tiền.
- Xác định nhu cầu tài chính trong tơng lai của doanh nghiệp nh nhu cầu đầu t
tài sản cố định, đầu t nghiên cứu sản phẩmmới, đánh giá khả năng sinh lời,...
Báo cáo lu chuyển tiền tệ gồm ba phần:
Phần I: Lu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

thuế, điều chỉnh các khoản mục thuộc vốn lu động.
Theo phơng pháp trực tiếp thì báo cáo lu chuyển tiền tệ đợc lập bằng cách xác
định và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, thực chi bằng tiền các sổ kế toán vốn
bằng tiền theo các khoản hoạt động và theo nội dung chi.
Hai phơng pháp này chỉ khác nhau ở điểm xuất phát và căn cứ để xác đinh lu
chuyển tiền của hoạt động kinh doanh, còn lu chuyển tiền từ hoạt động đầu t và hoạt
động tài chính của hai phơng pháp đều lập giống nhau. Hiện nay báo cáo lu chuyển
tiền tệ tạm thời cha quy định là báo cáo bắt buộc nhng khuyến khích các doanh
nghiệp lập và sử dụng báo cáo lu chuyển tiền tệ trong hoạt động kinh doanh của
mình.
1.1.3.4. Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài
chính của doanh nghiệp, đợc lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà
báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết.
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của
doanh nghiệp; nội dung một số chế độ kế toán đợc doanh nghiệp áp dụng: tình hình
và lý do biến động của một số đối tợng tài sản và nguồn vố quan trọng; phân tích một
số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải
trình bày đầy đủ các chỉ tiêu theo nội dung đã quy định trong thuyết minh báo cáo tài
chính, ngoài doanh nghiệp cũng có thể trình bày theo các nội dung khác nhằm giải
thích chi tiết hơn tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Để có thuyết minh báo cáo tài chính mang tính khoa học, có sức thuyết phục
những ngời quan tâm thì ngời lập cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Phần trình bày bằng lời văn phải rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu. Phần trình bày
bằng số liệu phải thống nhất với số liệu trên các báo cáo khác.
- Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải trình
bày rõ ràng lý do thay đổi.

Thật vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là mối quan tâm
hàng đầu của nhiều nhóm ngời khác nhau nh Ban giám đốc (hay Hội đồng quản trị),
các nhà đầu t, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay, các ngân hàng, các nhà quản
lý, các nhà bảo hiểm, cơ quan Nhà nớc và ngời lao động. Mỗi nhóm ngời này có
những nhu cầu thông tin khác nhau và do vậy mỗi nhóm có xu hớng tập trung vào
những khía cạnh trong toàn cảnh hoạt động tài chính của một doanh nghiệp. Cụ thể:
*Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp:
Mối quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Ngoài
ra, các nhà quản trị còn quan tâm đến nhiều mục tiêu khác nh tạo công ăn việc làm,
nâng cao chất lợng hàng hoá dịch vụ với chi phí thấp... Tuy nhiên, một doanh nghiệp
chỉ có thể thực hiện đợc các mục tiêu này nếu đáp ứng đựơc hai thử thách sống còn và
là hai mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp, đó là: Kinh doanh có lãi và trả đợc nợ. Một
doanh nghiệp thua lỗ liên tục sẽ cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa. Mặt
khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng bị
buộc phải ngừng hoạt động và đóng cửa. Việc phân tích hoạt dộng tài chính sẽ giúp
các nhà lãnh đạo và bộ phận tài chính doanh nghiệp thấy đợc thực trạng tài chính
cũng nh hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình và căn cứ vào đó để lập kế
hoạch cho tơng lai cũng nh đa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời phục vụ cho nhu
cầu quản lý.
Đối với chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng:
Mối quan tâm của họ chủ yếu lại hớng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy,
họ đặc biệt chú ý đến số lợng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền
nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết khả năng thanh toán của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lợng vốn của chủ sở hữu bởi vì vốn
chủ sở hữu là khoản bảo hiểm cho họ trong trờng hợp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn
sàng cho vay nếu nh các thông tin cho thấy ngời vay không đảm bảo chắc chắn rằng
khoản vay có thể đợc và sẽ đợc thanh toán ngay khi đến hạn. Vì vậy, phân tích hoạt
động tài chính sẽ giúp các nhà cho vay ra quyết định có nên cho doanh nghiệp đó cho
vay hay không.
Đối với nhà cung cấp vật t, hàng hoá, dịch vụ...

Từ đó đa ra những biện pháp hiệu quả, khả thi để khắc phục những yếu kém, phát huy
triệt để năng lực tài chính của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt
động tài chính nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung.
1.2.2. Nguồn số liệu, phơng pháp phân tích và các bớc phân tích hoạt động tài
chính của doanh nghiệp
1.2.2.1.Nguồn số liệu để phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính sử dụng chủ yếu các tài liệu sau:
- Các chỉ tiêu kế hoạch tài chính do doanh nghiệp xây dựng nh: kế hoạch huy
động các nguồn vốn, kế hoạch phân phối sử dụng vốn và các chỉ tiêu tài chính
khác.
- Bảng cân đối kế toán (B01-DN)
- Báo cáo kết quả kinh doanh (B02-DN)
- Báo cáo lu chuyển tiền tệ (nếu có )
- Báo cáo chi tiết về tình hình tăng, giảm tài sản, nguồn vốn, công nợ phải thu,
phải trả
- Báo cáo về tình hình tài sản thiếu thừa chờ xử lý
- Các chế độ, chính sách quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nớc, của ngành và
doanh nghiệp
1.2.2.2. Phơng pháp phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phân tích hoạt động tài chính và thể hiện rõ nét ý nghĩa
của nó thì phơng pháp phân tích đóng vai trò vô cùng quan trọng. Về mặt lý luận thì
phơng pháp phân tích sẽ quyết định đến kết quả đánh giá, bởi lẽ nó không chỉ giúp
kết quả phân tích đợc chính xác mà còn giúp nhà phân tích lựa chọn chỉ tiêu phù hợp
để đạt đợc kết quả mong muốn. Mặt khác, các giai đoạn của quá trình phân tích sẽ
giúp cho nhà phân tích rút ra một cách có hệ thống kết quả của mình, từ đó sẽ đa ra
đợc giải pháp rõ ràng. Cụ thể, với từng khâu phân tích phải áp dụng phơng pháp phân
tích cho phù hợp. Những phơng pháp phân tích tài chính đợc sử dụng phổ biến là: ph-
ơng pháp chi tiết ,phơng pháp so sánh, loại trừ, liên hệ, phơng pháp tỷ lệ hay phơng
pháp hồi quy tơng quan.
- Phơng pháp chi tiết: là phơng pháp chia nhỏ sự kiện kinh tế thành các yếu tố

ảnh hởng nhiều đến chất lợng, thời gian và tác dụng của phân tích tài chính. Trong b-
ớc này cần xác định đợc mục tiêu phân tích và xây dựng chơng trình phân tích. Kế
hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích, phạm vi phân tích, thời gian tiến
hành phân tích và những thông tin cần thu thập, tìm hiểu. Để các giai đoạn sau của
quá trình phân tích tiến hành có kết quả tốt thì giai đoạn lập kế hoạch phải chu đáo và
chuẩn xác.
- Giai đoạn tiến hành phân tích: là giai đoạn triển khai thực hiện các công việc đã
lập ra trong kế hoạch. Trong giai đoạn này cần phải làm các công việc sau:
+ Su tầm tài liệu và kiểm tra tài liệu: tài liệu làm căn cứ phân tích gồm các nghị
quyết, chỉ thị của Bộ tài chính có liên quan đến hoạt động tài chính, các tài liệu kế
hoạch, dự toán, định mức và các báo cáo tài chính. Sau đó phải xem xét tính hợp pháp
của tài liệu nh trình tự lập, ngời lập, cấp có thẩm quyền ký duyệt...
+Tính toán các chỉ tiêu phân tích
+Xác định nguyên nhân và tính toán cụ thể mức độ ảnh hởng của các nhân tố đến
chỉ tiêu phân tích
+Xác định và dự đoán những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến tình hình tài
chính và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp
+Tổng hợp kết quả rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của doanh
nghiệp
- Giai đoạn kết thúc: là giai đoạn cuối cùng của việc phân tích. Trong giai đoạn
này phải tiến hành lập báo cáo phân tích và hoàn chỉnh hồ sơ phân tích. Báo cáo phân
tích là bản tổng hợp những đánh giá cơ bản cùng những tài liệu chọn lọc để minh hoạ
rút ra từ quá trình phân tích. Đánh gía cùng minh hoạ cần nêu rõ cả thực trạng và
tiềm năng cần khai thác. Từ đó nêu đợc phơng hớng và biện pháp phấn đấu trong kỳ
tới. Báo cáo phân tích cần đợc trình bày trong hội nghị phân tích để thu thập ý kiến
đóng góp và cuôí cùng là lập hồ sơ phân tích.
1.2.3. Nội dung phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp
Trên cơng vị quản lý doanh nghiệp, để có cơ sở định hớng kinh doanh cho kỳ
tới, các nhà quản lý phải biết đợc tình hình biến động tài sản, mức thừa thiếu vốn
kinh doanh, tình hình công nợ và thu hồi nợ, tình hình thanh toán và khả năng thanh

nói cách khác là trớc hết ta phân tích tổng quát hoạt động tài chính của doanh nghiệp
sau đó mới đi vào phân tích, đánh giá khả năng tài chính của doanh nghiệp qua các
chỉ số tài chính cụ thể hơn.
1.2.3.1. Phân tích tổng quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định về tình hình
tài chính của doanh nghiệp. Công việc này sẽ cung cấp thông tin cho ngời sử dụng

Trích đoạn Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp qua các chỉ tiêu tài chính đặc trng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status