PHẦN MỞ ĐẦU
Trên thế giới mỗi ngày có hàng trăm nghìn doanh nghiệp ra đời và cũng với một
số lượng doanh nghiệp như vậy thất thế, phá sản. Sự quyết liệt của thương
trường thực sự là một thách thức lớn đối với các doanh nhân. Doanh nhân là
người chủ doanh nghiệp nhạy cảm với tình thế, nắm vững những nguyên lý cơ
bản trong cạnh tranh là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của doanh
nghiệp. Vậy làm thế nào để Doanh nghiệp luôn đứng vững trên thương trường
với tư thế tự chủ?
Bằng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp thống
kê toán, phương pháp tổng hợp so sánh và phân tích số liệu đồng thời trong
phạm vi nghiên cứu có hạn là báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty trong 2 năm trở lại đây là năm 2006, 2007, bài viết này hy vọng sẽ có thể
thực hiện được các mục tiêu đã sau:
Một mặt, hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết về cạnh tranh, mặt khác đi sâu
tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Ngọc
Hoa trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh văn phòng phẩm.
Bên cạnh đó, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH
Ngọc Hoa, qua đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và nguy cơ
ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của công ty.
Cuối cùng là đề xuất giải pháp nhằm nâng cao nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty TNHH Ngọc Hoa và kiến nghị đối với các chính sách chủ quan
của Nhà nước.
1
Mặc dù có rất nhiều vấn đề trong nền kinh tế cần được chúng ta nghiên
cứu và làm sáng tỏ đặc biệt là những vấn đề liên quan tới năng lực cạnh tranh
của doanh ngiệp. Tuy nhiên với chuyên đề này, tôi chỉ xin đề cập đến đối tượng
nghiên cứu chính là năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Ngọc Hoa trong lĩnh
vực sản xuất và kinh doanh văn phòng phẩm để từ chỗ cho chúng ta cái nhìn về
một doanh nghiệp mà có thể tiến tới nghiên cứu thêm các doanh nghiệp vừa và
nhỏ khác trên lãnh thổ Việt Nam. Từ đây chúng ta sẽ dần có cái nhìn tổng quan
3
nghiệp, chủ yếu có được từ quá trình đối kháng của sức mạnh này. Cạnh tranh
trên nhiều phương diện: Thương hiệu - Chất lượng - Mẫu mã - Giá cả... Chúng ta
đã và đang tiến tới xây dựng một thương trường lành mạnh, một môi trường kinh
doanh có văn hoá - sự phát triển vững bền cho doanh nghiệp nói riêng và nền
kinh tế đất nước nói chung...
Xin trân trọng giới thiệu tới các doanh nghiệp, doanh nhân mười phương
kế hữu hiệu trong cạnh tranh giành thắng lợi.
Đây là một nguyên tắc được dùng phổ biến nhất trong đấu tranh quân sự
và chính trị, và nó cũng thích hợp trong cạnh tranh kinh tế thời hiện đại vì doanh
nghiệp là một hệ thống lớn kiểu mở cửa, luôn muốn trao đổi thông tin và trao đổi
năng lượng với môi trường toàn xã hội.
Bảo thủ là điều tối kị trong cạnh tranh, phải xem xét đánh giá tình hình,
biết trước, làm trước là "pháp bảo" của thắng lợi. Các doanh nghiệp phải biết
nhìn xa trông rộng và có sáng kiến để đối phó những thay đổi, những sự cố đột
biến, tránh tình trạng không kịp đề phòng, không kịp trở tay.
Trên thương trường, hạt nhân của "bất ngờ, đánh vào chỗ không chuẩn bị"
được thể hiện ở chữ "kỳ" Mưu lược "xuất kỳ bất ý" mà các ông chủ hiện đại
thường dùng đều dốc tâm sức vào chữ "kỳ". Nếu muốn thành công đòi hỏi bạn
phải có tư tưởng kinh doanh xuất kỳ (lạ thường), đưa ra sản phẩm lạ thường, xảo
thuật kinh doanh lạ thường, phương thức tiêu thụ và thái độ phục vụ khác lạ.
"Thời gian là vàng bạc" thực sự là kinh nghiệm cạnh tranh hiện đại bởi nó
ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của đồng tiền, đến chiếm dụng và tốc độ quay
4
vòng của đồng tiền, đến việc năm bắt cơ hội. Với một doanh nghiệp mà nói, cơ
hội thường là điểm chuyển hướng của thăng tiến, là nơi mở ra thành công, chỉ có
nắm chắc được thời cơ thì chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể
mang lại hiệu quả. Người cạnh tranh hiện đại phải rất coi trọng "cơ hội" phải
rộng, dự báo tương lai một cách chính xác, dũng cảm đối mặt với khó khăn, tỉnh
táo nhìn nhận thành tích. Vừa làm hảo hán trong hoàn cảnh thuận lợi, không quá
đắm mình trong tình thế có lợi, lại vừa làm anh hùng trong hoàn cảnh khó khăn,
không hề dao động trước nguy cơ áp lực.
Kế Vu hồi được ứng dụng trong thời gian, là lấy kéo dài thay thế tốc thắng
(thắng nhanh). Trong tình huống thời cơ và điều kiện chín muồi phải thần tốc,
quyết chiến quyết thắng. Ngược lại khi điều kiện chưa đầy đủ, thời cơ chưa chín
muồi, phải tính kế lâu dài, bảo toàn thực lực và lực lượng, đợi thời cơ chiến đấu
lâu dài.
Để thực hiện mưu lược này nhà doanh nghiệp phải mang trong trái tim chí
hướng lớn, phải tự tin vào tương lai ở phía trước; nếu thấy tự hổ thẹn, nhát gan
lùi bước, không có chí hướng lớn thì khó có thể bước qua cửa ải "long môn".
Thực hiện mưu lược "tích tiểu thành đại" còn phải có ý chí kiên trinh bất khuất
và tinh thần không ngại khó khăn gian khổ. "
6
Những người thành công đều biết vận dụng thành thạo chiến thuật tiến
thoái hợp lý hơn nữa đây còn là "pháp bảo"của thành công. Trong tình thế ở vào
bất lợi, có thể đầu hàng, có thể giảng hòa cũng có thể rút lui. Trong ba điều này
đầu hàng là thất bại hoàn toàn, giảng hoà là một nửa thất bại, rút lui có thể
chuyển bại thành thắng.
Trong cạnh tranh kinh tế, lùi bước cũng là một khái niệm rất có giá trị. Có
thể dự báo xem xét trước được hay không những thất bại hoặc tình hình xấu có
thể xẩy ra để có được kế hoạch và thu xếp chu đáo.
Vì mục đích phát triển lâu dài, người thành công thường phải hi sinh một
vài lợi ích nhỏ trước mắt, thậm chí bỏ ra một số vốn để mở rộng việc kinh doanh
buôn bán từ nay về sau và cũng từ đó để gây dựng lòng tin. Người kinh doanh
của doanh nghiệp phải thông qua hạch toán tỉ mỉ điều tra và dự tính chu đáo thị
trường, mục tiêu "thả dây dài để câu cá lớn". Vì vậy có thể chấp nhận buôn bán
lỗ vốn cũng được, chỉ cần đầu tư trên thị trường có tiềm lực phát triển thì cuối
các chỉ tiêu này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng cho mỗi doanh nghiệp để có
thể định hướng xây dựng, khai thác và phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.
Tổng hợp các trường phái lý thuyết trên, trên cơ sở quan niệm năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp và khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và
được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, năng lực cạnh
8
tranh của một doanh nghiệp có thể được xác định trên bốn nhóm yếu tố cấu
thành sau:
Một là chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các đầu
vào.
Hai là, các ngành sản xuất và dịch vụ trợ giúp cho doanh nghiệp.
Ba là, yêu cầu của khách hàng về chất lượng hàng hoá, dịch vụ.
Cuối cùng là vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.
Có thể nói, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được hiểu là
năng lực tồn tại, vươn lên trên thị trường cạnh tranh của doanh nghiệp về một
loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, nói cách khác đó là khả năng duy trì (tăng
trưởng) lợi nhuận và thị phần trong nước và quốc tế đối với một hay nhiều sản
phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
1.2.Tính tất yếu khách quan của cạnh tranh
Chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mà trong đó
các quyết định phân bổ nguồn lực, sản xuất và phân phối sản phẩm dựa trên cơ
sở các giao dịch tự nguyện trên thị trường giữa nhà sản xuất, người tiêu dùng và
chủ sở hữu đối với các yếu tố sản xuất. Việc ra quyết định trong nền kinh tế thị
trường mang tính phi tập trung, nghĩa là các quyết định được đưa ra một cách tự
phát, độc lập bởi các nhóm hay các cá nhân trong nền kinh tế thị trường chứ
không có kế hoạch hay do các nhà lập kế hoạch của bộ máy nhà nước đề ra. Một
trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường là cạnh tranh. Cạnh tranh
được coi như động lực thúc đẩy và tạo nên môi trường cho sản xuất phát triển,
tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Bên cạnh đó, đi cùng với nền kinh
10
đó, các doanh nghiệp phải tạo cho mình một năng lực cạnh tranh cần thiết và
phải cố gắng duy trì được thế mạnh của mình nếu không sẽ không thể nghĩ đến
việc đứng được trên thị trường.
Cạnh tranh là cần thiết cho nền kinh tế vì nó bảo đảm cho việc doanh
nghiệp sẽ cố gắng tạo ra được những hàng hoá, dịch vụ tốt nhất để phục vụ cuộc
sống của con người trên toàn thế giới. Điều này là hết sức rõ nét vì như chúng ta
đã thấy, chỉ trong một ngành có sự độc quyền thôi thì chúng ta sẽ chỉ nhận được
hàng hoá dịch vụ từ một nhà cung cấp duy nhất, nhà cung cấp này đôi khi tỏ ra
“hách dịch” trong việc cung cấp hàng hoá cho chúng ta. Họ có thể đưa đến cho
chúng ta những hàng hoá dịch vụ chất lượng không đảm bảo với giá thành cao
mà chúng ta với tư cách là người tiêu dùng vẫn phải chấp nhận mà không được
phàn nàn. Với cạnh tranh, thì tình trạng đó sẽ không còn, chúng ta sẽ có rất nhiều
nhà cung cấp, và nếu họ không cố gắng để làm hài lòng chúng ta_những “thượng
đế” của họ thì rất có thể họ sẽ bị đao thải khỏi thị trường. Với tư cách người mua
chắc chắn chúng ta sẽ ưa thích cạnh tranh hơn. Ngoài ra, cạnh tranh còn có nhiều
tác dụng khác đối với doanh nghiệp cũng như với nền kinh tế. Cạnh tranh chính
là bức hoạ phản ánh rõ nét thực lực của một doanh nghiệp. Chiến thắng các đối
thủ trên thị trường sẽ giúp các doanh nghiệp khẳng định được vị thế của mình.
Cạnh tranh cũng giúp nền kinh tế phát triển vì các doanh nghiệp vì sự tồn tại,
phát triển của mình sẽ không ngừng cải tiến máy móc, trang thiết bị sản xuất để
tạo ra những sản phẩm tốt nhất cho thị trường, những doanh nghiệp nào làm
không tổt sẽ tự khắc bị đào thải. Nền kinh tế -xã hội nhờ đó mà tăng trưởng và
phát triển.
Có thể nói, cạnh tranh chính là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị
trường, nó tồn tại một cách khách quan và buộc các doanh nghiệp khi tham gia
11
thị trường phải đối mặt. Chỉ có cạnh tranh thì họ mới đứng vững được trên thị
trường, do đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình các doanh nghiệp
của họ, mà lợi nhuận cao nhất này chỉ có được khi doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, thường xuyên phải đối mặt
với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp hoặc tiềm ẩn vốn hết sức đa dạng và phức
tạp, họ chính là lực lượng thường xuyên đe doạ đến vị thế và chỗ đứng của
doanh nghiệp trên thị trường. Cũng vì thế mà doanh nghiệp nào có được năng
lực cạnh tranh cao hơn thì doanh nghiệp đó mới có thể tồn tại và phát triển với tư
cách là người chiến thắng so với các đối thủ của mình.
Có thể nói không một doanh nghiệp nào khi tham gia thị trường lại muốn
mình thảm bại trước các đối thủ khác và vì không muốn thất bại nên họ luôn cố
gắng để tồn tại và đứng vững trên thị trường. Làm được điều đó là không hề đơn
giản đối với bất cứ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ. Họ phải cạnh tranh hết
sức khốc liệt với các đối thủ, giành giật khách hàng, tạo vị thế chỗ đứng. Người
ta thường nói “Thương trường như chiến trường”. Rõ ràng, việc nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vô cùng cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiêp trên thị trường.
Bên cạnh đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn là cơ sở
để phát triển sản xuất kinh doanh của bản thân doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là động lực cho sự phát
triển sản xuất kinh doanh cả về chiều rộng và chiều sâu. Doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh cao trên thị trường là doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu ngày
13
càng cao của khách hàng cũng như thị hiếu ngày càng khó chiều của họ nhưng
phải tốt hơn đối thủ của mình; sản phẩm có sức thu hút và có khả năng tiêu thụ
lớn hơn và điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp. Từ chỗ có được vị trí vững chắc trên thị trường, doanh nghiệp có
thể nghĩ đến việc mở rộng sản xuất kinh doanh và tăng được thị phần của mình
trên thị trường. Để đạt được những thành tựu đó, doanh nghiệp phải không
ngừng đổi mới mẫu mã sản phẩm, nắm bắt được thị hiếu của khách hang, thường
xuyên chú trọng tới công nghệ sản xuất tiên tiến để tạo ra những sản phẩm không
dùng sẽ có cơ hội được hưởng những hàng hoá tốt nhất với nhiều chủng loại
khác nhau, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn vô biên vô hạn của khách
hàng. Để luôn dẫn đầu và tồn tại được trên thị trường, doanh nghiệp phải không
ngừng nâng cao chất lượng, tính năng, công dụng của sản phẩm đồng thời phải
sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại và các quy trình sản xuất, quản lý tiên tiến
để cắt giảm chi phí. Vì vậy, khách hàng sẽ luôn có những sản phẩm hoàn thiện
nhất với giá cả phải chăng nhất.
Cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh
doanh nhằm chiếm được sự chấp thuận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ
thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các
quyết định về mặt hàng sản xuất, phương thức sản xuất, và sự định giá cho sản
phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh là một tiền đề của hệ thống sở hữu tự do bởi niềm
tin rằng càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng những
15
hàng hoá có chất lượng tốt hơn. Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách
hàng các giá trị tối ưu đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ.
1.3.3.Đối với nền kinh tế xã hội
Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ có ý nghĩa đối với riêng bản thân
doanh nghiệp hay chỉ với người tiêu dùng mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối
với nền kinh tế xã hội của quốc gia thậm chí là quốc tế. Trong nền kinh tế thị
trường, cuộc chạy đua của các doanh nghiệp có vai trò động lực thúc đẩy sự phát
triển đối với nền kinh tế và nâng cao năng suất lao động xã hội. Khi tham gia
một cuộc cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp đều muốn giành thắng lợi dù
rõ ràng đó không phải là việc dễ dàng. Tất yếu cho chiến thắng của mình là sự cố
gắng của họ trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường có
như vậy mới thu hút được mối quan tâm của khách hàng và thu được nhiều lợi
nhuận bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của mình. Mà cụ thể là họ sẽ cố gắng
để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ, hạ giá thành
nếu có thể, tạo lập và duy trì niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp. Và
Năng lực cạnh tranh là một trong những vấn đề cần được sự quan tâm của
tất cả các doanh nghiệp muốn cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp khác
vì sự tồn tại và phát triển của bản thân giữa nền kinh tế đang hội nhập và mở cửa
mạnh mẽ như nền kinh tế Việt Nam hoà vào xu hướng phát triển chung của thế
giới. Và vì thế việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành mục tiêu của mọi
doanh nghiệp trong chiến dịch duy trì chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Tuy
nhiên để có thể làm được điều đó là không hề dễ dàng. Có rất nhiều nhân tố có
17
thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đây có thể là những nhân tố đến từ bên ngoài hay những nhân tố xuất phát từ
ngay nội tại của doanh nghiệp mà chúng ta có thể thấy những nhân tố xuất phát
từ bên trong này luôn giữ vai trò tiên quyết đối với năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
1.4.1. Các nhân tố bên ngoài
Có rất nhiều các nhân tố từ môi trường bên ngoài có khả năng tác động
đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như các yếu tố đến từ môi trường vĩ
mô hoặc vi mô. Nhóm các nhân tố này hết sức đa dạng và phức tạp với ảnh
hưởng khá to lớn.
Với môi trường vĩ mô, các nhân tố cũng không phải ít, chúng có thể là các
nhân tố kinh tế, các nhân tố liên quan đến chính trị- luật pháp, các nhân tố về
khoa học công nghệ, văn hoá xã hội, các nhân tố tự nhiên...
Trong đó các nhân tố kinh tế được xem là quan trọng nhất bởi nó có vai
trò quyết định đối với sự hình thành của một doanh nghiệp và có ảnh hưởng tới
môi trường kinh doanh trong đó doanh nghiệp tham gia hoạt động. Không chỉ có
ảnh hưởng ngay từ bước đầu gia nhập thị trường của doanh nghiệp mà chúng còn
có tác động to lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Các
nhân tố kinh tế có thể kể ra đây là: tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, tỷ giá
hối đoái, lãi suất, các chính sách kinh tế của Nhà nước.
Nếu một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì đi cùng với nó là
với những biến đổi nhanh chóng. Để bắt kịp thời đại thì việc nắm bắt được
19
những tiến bộ khoa học công nghệ và áp dụng chúng vào hoạt động sản xuất
kinh doanh là một đòi hỏi đối với các doanh nghiệp muốn gia tăng sức cạnh
tranh của mình so với các đối thủ trên thị trường.
Ngoài các nhân tố trên thì các phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu cũng
như thói quen tiêu dùng ... hay các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên cũng có ảnh
hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào biết
khai thác các thế mạnh của mình như hiểu rõ nắm vững tâm lý khách hàng hay
lợi thế về nguồn lực tự nhiên cũng sẽ có được lợi thế so với các đối thủ cạnh
tranh của mình.
Đối với các nhân tố thuộc môi trường vi mô, mô hình 5 lực lượng cạnh
tranh của Michael Porter đã thể hiện rất rõ, đó là những áp lực mà các nhân tố
thuộc môi trường ngành đưa lại cho doanh nghiệp buộc doanh nghiệp phải nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình.
Số lượng và quy mô của nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh,
quyền lực đàm phán của họ đối với ngành, doanh nghiệp. Nếu trên thị trường chỉ
có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới
toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành.
Khả năng thay thế sản phẩm của nhà cung cấp : Trong vấn đề này ta
nghiên cứu khả năng thay thế những nguyên liệu đầu vào do các nhà cung cấp
và chi phí chuyển đổi nhà cung cấp (Switching Cost).
Thông tin về nhà cung cấp : Trong thời đại hiện tại thông tin luôn là nhân
tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh
hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp.
Hiện nay trên thị trường chỉ có 2 nhà cung cấp chip ( Bộ vi xử lý -CPU)
cho máy tính là AMD và Intel. Tất cả các máy tính bán ra trên thế giới đều sử
20
vào hệ thống phân phối của các siêu thị luôn gặp phải khó khăn và trở ngại vì
các áp lực về giá và chất lượng. Hầu hết các sản phẩm của Việt Nam như dệt
may, da giầy rất khó xâm nhập vào các thị trường lớn như Mỹ ,EU nếu không
qua hệ thống phân phối. Chính vì vậy chúng ta đã được lắng nghe những câu
chuyện về việc một đôi giầy sản xuất ở Việt Nam bán cho nhà phân phối với giá
thấp còn người dân Việt Nam khi mua hàng ở nước ngoài thì phải chịu những cái
giá cắt cổ so với sản phẩm cùng chủng loại ở trong nước.
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trên
trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai. Đối thủ tiềm ẩn
nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố
sau
Sức hấp dẫn của ngành: Yếu tố này được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỉ
suất sinh lợi, số lượng khách hàng, số lượng doanh nghiệp trong ngành.
Những rào cản gia nhập ngành : là những yếu tố làm cho việc gia nhập
vào một ngành khó khăn và tốn kém hơn: Kỹ thuật, Vốn , Các yếu tố thương
mại: Hệ thống phân phối, thương hiệu , hệ thống khách hàng ...
Các nguồn lực đặc thù: Nguyên vật liệu đầu vào ( Bị kiểm soát ), Bằng
cấp , phát minh sáng chế, Nguồn nhân lực, sự bảo hộ của chính phủ ....
Không ai có thể lường được việc Apple sẽ cho ra đời máy nghe nhạc Ipod
đánh bại người hùng về công nghệ mutilmedia như Sony. Rõ ràng sức hấp dẫn
của cầu các thiết bị nghe nhạc đã đưa Ipod trở thành sản phẩm công nghệ được
ưa chuộng nhất. Chính Sony đã tự làm các rào cản về công nghệ, thương hiệu
22
của mình giảm sút bằng việc quá chú trọng vào phát triển theo chiều rộng nhiều
ngành để người tí hon Apple thâm nhập và kiểm soát toàn bộ thị trường, biến lợi
thế cạnh tranh của Sony trở thành gánh nặng cho chính họ.
Tương tự như ví dụ trên chúng ta so sánh trong ngành công nghiệp nặng
như sản xuất máy bay. Rào cản gia nhập ngành quá lớn cả về vốn, công nghệ,
nguyên vật liệu đầu vào nên hiện tại chỉ có 2 hãng hàng không lớn cạnh tranh
Chi phí chuyển đổi: Chúng ta biết các phần mềm mã nguồn mở như
Linux hay như ở Việt Nam là Viet Key Linux giá thành rất rẻ thậm chí là miễn
phí nhưng rất ít người sử dụng vì chi phí chuyển đổi từ hệ điều hành Window và
các ứng dụng trong nó sang một hệ điều hành khác là rất cao và có thể ảnh
hưởng đến hoạt động, các công việc trên máy tính.
Các doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với
nhau tạo ra sức ép trở lại lên ngành tạo nên một cường độ cạnh tranh. Trong một
ngành các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh trên các đối thủ
Tình trạng ngành : Nhu cầu, độ tốc độ tăng trưởng ,số lượng đối thủ cạnh
tranh...
Cấu trúc của ngành : Ngành tập trung hay phân tán.
Ngành phân tán là ngành có rất nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau
nhưng không có doanh nghiệp nào có đủ khả năng chi phối các doanh nghiệp
còn lại
24
Ngành tập trung : Ngành chỉ có một hoặc một vài doanh nghiệp nắm giữ
vai trò chi phối ( Điều khiển cạnh tranh- Có thể coi là độc quyền)
Các rào cản rút lui (Exit Barries) : Giống như các rào cản gia nhập ngành,
rào cản rút lui là các yếu tố khiến cho việc rút lui khỏi ngành của doanh nghiệp
trở nên khó khăn : Rào cản về công nghệ, vốn đầu tư; Ràng buộc với người lao
động, Ràng buộc với chính phủ, các tổ chức liên quan (Stakeholder), Các ràng
buộc chiến lược, kế hoạch.
Thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông di động Việt Nam hiện nay đã có
rất nhiều nhà cung cấp nhưng quyền lực chi phối thị trường vẫn nằm trong tay 3
nhà cung cấp dịch vụ viễn thông là Vina Phone , Mobifone và Viettel.. Nhu cầu
sử dụng dịch vụ của Việt Nam tăng khoảng 5-10%/ năm, doanh thu, lợi nhuận
của các nhà cung cấp cũng tăng với con số tương đương. Mặc dù cho các rào
cản gia nhập ngành, rào cản rút lui .... là cao, áp lực từ khách hàng không đáng
kể nhưng đang có rất nhiều doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập vào thị trường . Một