Tiểu luận " Vấn đề cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa " - Pdf 10

Tiểu luận môn Kinh tế vi mô
Vấn đề cạnh tranh và nâng
cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp Việt
Nam trong điều kiện toàn
cầu hóa
Trang 1
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẠNH TRANH, CẠNH
TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA 4
1. Cạnh tranh thị trường 4
2. Khái niệm và đặc điểm của thị trường cạnh tranh hoàn hảo 5
2.1. Khái niệm 5
2.2. Đặc điểm 5
3. Cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa 6
3.1. Khái niệm về toàn cầu hóa 6
3.1.1. Toàn cầu hóa kinh tế 6
3.1.2. Những đặc trưng của toàn cầu hóa kinh tế 6
Trang 2
3.1.2. Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam 7
3.2. Cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa 8
3.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 8
3.2.2 Xu hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam 8
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT
SỐ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 9
1. Năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp công nghiệp 9
2. Năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp nông nghiệp 10
3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành dịch vụ 11
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG CẢI TIẾN NHẰM NÂNG

Trang 5
Ngày nay với xu hướng toàn cầu hoá, các nước trên thế giới đang xích lại
gần nhau, đặc biệc Việt Nam ta đã xúc tiến rất tốt công tác hội nhập; Nước
ta đã gia nhập ASEAN (1995), AFTA (1996), APEC(1998), năm 1992 đã
nối lại quan hệ với IMF, WB, ADB và đặc biệt năm 2006 chúng ta đã gia
nhập WTO. Việt Nam đã từng bước tham gia vào thể chế kinh tế khu vực
và thế giới, đã tạo cho các doanh nghiệp nhiều thuận lợi để phát triển thị
trường, huy động vốn từ nước ngoài để phát triển công nghệ, phát triển sản
phẩm. Bên cạnh thuận lợi chúng ta gặp không ít khó khăn, mà khó khăn lớn
nhất là cạnh tranh trong điều kiện không cân sức. Tuy có nhiều thách thức
và mất mát, ta không còn con đường nào khác là phải hội nhập vào kinh tế
toàn cầu. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải khẩn trương tạo thế và lực
mới cho mình để tận dụng những thuận lợi, hạn chế những khó khăn để
đứng vững và vươn lên trong cuộc cạnh tranh gay gắt hiện nay. Xu hướng
toàn cầu hóa cùng với cơ chế kinh tế thị trường bắt buộc các doanh nghiệp
phải chấp nhận cạnh tranh, để giúp các doanh nghiệp trong việc xây dựng
một tư duy, một chiến lược hành động để nâng cao vị thế cạnh tranh của
mình là vấn đề cần thiết hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thực tế tại các
doanh nghiệp tôi quyết định chọn đề tài dựa trên những kiến thức kinh tế
đặc biệt là môn kinh tế vi mô để xem xét vấn đề: “Vấn đề cạnh tranh và
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều
kiện toàn cầu hóa”.
Trong tiểu luận này chúng ta tập trung nghiên cứu mục tiêu chung của đề
tài là vấn đề cạnh tranh và dựa trên một số cơ sở lý luận đã học và tham
khảo các tài liệu liên hệ với thực trạng năng lực cạnh tranh của một số
doanh nghiệp Việt Nam, từ đó đưa ra kết luận và một số phương hướng cải
Trang 6
tiến để năng cao năng lực của các doanh nghiệp việt nam trong điều kiện
toàn cầu hóa và chúng ta chỉ xét các doanh nghiệp cạnh tranh trong thị
trường cạnh tranh hoàn hảo. Dựa vào mục tiêu nghiên cứu chúng ta giả

cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên,
bởi thế, đã bước vào kinh doanh thì bắt buộc phải chấp nhận. Thực tế cho
thấy, khi sản xuất hàng hóa càng phát triển , số người bán càng tăng thị
cạnh tranh càng quyết liệt. Trong quá trình ấy, một mặt, sản xuất hàng hóa
với quy luật cạnh tranh sẽ lần lược gạt ra khỏi thị trường những doanh
nghiệp yếu và chỉ có những doanh nghiệp có những quyết sách đúng đắn
Trang 8
mới có thể đứng vững trên thương trường theo sự phát triển của nền kinh
tế.
Cạnh tranh trên thị trường giữa các chủ doanh nghiệp được phân loại theo
nhiều cách khác nhau. Nhưng xét theo phạm vi kinh tế cạnh tranh được
chia làm hai loại. Đầu tiên là cạnh tranh giữa các ngành, nó là sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp, hay đồng minh các chủ doanh nghiệp trong các
ngành kinh tế khác nhau, nhằm giành lấy lợi nhuận cao nhất. Trong quá
trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành
đầu tư có lời nhất nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành
nhiều lợi nhuận, dẫn đến kết quả là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các
ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau.
Loại cạnh tranh thứ hai là cạnh tranh trong nội bộ ngành, nó được hiểu là
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại
hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các chủ doanh
nghiệp thôn tính nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm
vi hoạt động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ
phải thu hẹp quy mô kinh doanh, thậm chí có thể bị phá sản.
2. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CẠNH
TRANH HOÀN HẢO:
2.1. Khái niệm:
Trang 9
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà trong đó các quyết định
mua bán của từng người mua hay từng người bán riêng lẻ không ảnh hưởng

văn hóa, khoa học, kỹ thuật trên cơ sở thể chế thống nhất.
3.1.2. Những đặc trưng của toàn cầu hóa kinh tế:
-Thị trường mới: thị trường tư bản và ngoại hối đã toàn cầu hóa.
-Công cụ mạng máy tính, các thiết bị thông ti liên lạc toàn cầu đã năng cao
năng suất lao động và văn minh thị trường.
Trang 11
-Các chủ thể mới hình thành và hoạt động của họ đang có ảnh hưởng ngày
càng rộng tới sự phát triển của các nước trên thế giới.
-Nhiều quy tắc mới hình thành kèm theo cơ chế hành pháp có hiệu lực và
sức ràng buộc đối với các chính phủ các nước.
-Sự nương tựa vào nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia ngày càng
tăng.
-Toàn cầu hóa đi đôi với khu vực hóa.
-Toàn cầu hoá là chất xúc tác thúc đẩy tiến bộ của khoa học công nghệ,
bùng nổ công nghệ thông tin, tạo tiền đề cho sự hình thành nền kinh tế mới-
kinh tế tri thức.
-Thương mại trong ngành và thương mại trong công ty.
-Đầu tư quốc tế trực tiếp tăng với mức dộ nhanh.
-Toàn cầu hóa mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia.
3.1.3. Những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam:
Đối với nước ta toàn cầu hoá giúp ta nâng cao năng lực kinh tế của mình
trên cơ sở đổi mới mọi mặt như đổi mới phương pháp quản lý, đổi mới
Trang 12
công nghệ (công nghệ quản lý và công nghệ sản xuất), từ đó tạo ra năng
suất sản phẩm và chất lượng cao, giá thành hạ, tạo tiền đề cơ bản cho việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, các ngành kinh tế và
của quốc gia. Mặt khác toàn cầu hoá cũng tồn tại những mặt tiêu cực của
nó. Những hạn chế này xuất phát từ những lợi ích khác nhau giũa các nước,
đặc biệt là giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển đặc biệt là
môi trường cạnh tranh là cuộc cạnh tranh không cân sức giữa các doanh

phẩm; nâng dần tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công
nghệ cao”. Để thực hiện được yêu cầu trên các doanh nghiệp cần phải nỗ
lực hơn nữa để nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình và đặt ra
một thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam.
1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP:
Các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam đang trong quá trình thu hút vốn
đầu tư từ bên ngoài để góp phần tích cực vào việc đổi mới công nghệ và
chất lượng sản phẩm. Một số mặt hàng may mặc, giày dép, dầu thô, điện tử,
máy tính và linh kện, sản phẩm phần mềm. Giá trị sản xuất ngành công
nghiệp tăng liên tục. Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm còn kém, năng lực
Trang 15
cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp, chúng ta phải nỗ lực phấn đấu nhiều
nữa mới có thể đứng vững trong cạnh tranh. Nhìn chung, toàn ngành công
nghiệp Việt Nam còn yếu. Những ngành kinh tế được xem là mũi nhọn chỉ
mới hình thành như điện tử-tin học-viễn thông-hóa chất, cơ khí, chưa phải
là chỗ dựa phát triển cho các ngành khác như nông nghiệp, công nghiệp
nhẹ, thủy sản, v.v những ngành hàng công nghiệp nhẹ tuy có phát triển
xuất khẩu như giày-da, dệt-may, thì trang bị công nghệ chưa phải là tiên
tiến, trình độ tay nghề chưa cao, năng suất lao động thấp, giá cả chưa hấp
dẫn. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hiện nay hoặc là xuất
khẩu dưới dạng thô (dầu mỏ), hoặc hàm lượng chất xám thấp (giày da, dệt
may), chưa có tính sáng tạo cao. Sản phẩm xuất khẩu từ khâu sản xuất chứ
không phải từ khâu đầu tiên là marketting, thiết kế, chưa có thương hiệu
riêng, còn mượn danh người khác, nhiều người tiêu dùng trên thế giới chưa
biết đến sản phẩm của Việt Nam, uy tín của doanh nghiệp chưa có rất khó
cạnh tranh trên thị trường.
2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP
NÔNG NGHIỆP (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp):
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận tiện cho việc

Trang 17
hỗ trợ cho các khu vực kinh tế và cho các doanh nghiệp ngoài ngành phát
triển. Tình hình tài chính tiền tệ chưa vững chắc, chứa đựng nền móng mất
ổn định kinh tế. Tỷ lệ nợ khó đòi cao, nợ chưa thanh toán trong xây dựng
cơ bản còn khá lớn, việc sử dụng tiền gởi ngắn hạn để cho vay trung hạn và
dài hạn vượt quá giới hạn an toàn, lãi suất tín dụng quá cao so với khả năng
sinh lời của các doanh nghiệp. (Nguồn: Báo cáo của Chính phủ trên báo
Nhân dân ngày 22/10/2003).
Các dịch vụ hành chính rất trì trệ, rất chậm đổi mới, gây cản trở rất nhiều
tới sự phát triển của đất nước như phát triển đầu tư, phát triển kinh doanh
của các doanh nghiệp thương mại và các doanh nghiệp dịch vụ khác. Các
dịch vụ hành chính Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp vào
nhóm thấp.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện, nước, bưu chính viễn thông, vận
tải đều có giá cao. Giá điện Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực, chất
lượng điện không đảm bảo tốt, cắt điện thường xuyên làm ảnh hưởng tới
sản xuất khác. Dịch vụ viễn thông Việt Nam, chất lượng đường truyền
thấp, thường xuyên gián đoạn làm ảnh hưởng tới năng suất và hiệu quả
hoạt động của nhiều ngành kinh doanh khác. Giá cước vận chuyển của
nhiều loại hình vận chuyển khá đắt so với các nước. Các dịch vụ du lịch tổ
chức còn luộm thuộm, thiếu văn minh, làm giảm đi mối thiện cảm của
khách du lịch. Các dịch vụ bổ trợ như quà tặng, hàng lưu niệm quá nghèo
nàn, tính hấp dẫn kém.
Trang 18
Tóm lại, các doanh nghiệp dịch vụ thương mại, năng lực cạnh tranh của các
loại hình doanh nghiệp dịch vụ khác của Việt Nam còn yếu về tất cả các
tiêu chí như trình độ nhân lực, tổ chức quản lý và kinh doanh, tiềm lực tài
chính, công nghệ, môi trường kinh doanh
Trang 19
CHƯƠNG 3:

các doanh nghiệp phải tạo ra cầu sản phẩm cho mình, nhờ vậy có thể nâng
cao sản lượng mà không sợ hàng tồn kho, thậm chí khi mức cầu giảm
xuống. Nếu doanh nghiệp không tăng trưởng, có nghĩa là thua kém các đối
thủ cạnh tranh, để mất thị phần vào tay đối thủ, sẽ gây bất lợi cho daonh
nghiệp. Thông thường, các biện pháp để kích thích sự tăng trưởng là tăng
cầu, hoặc tìm ra các sản phẩm khác để doanh nghiệp có thể tăng trưởng,
bảo đảm công ăn việc làm cho công nhân và những người làm công khác.
* Các biện pháp tạo lập và khai thác triệt để các lợi thế cạnh tranh:
Lợi thế cạnh tranh đầu tiên được các doanh nghiệp quan tâm triệt để khai
thác là chi phí thấp. Các doanh nghiệp có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho
Trang 21
mình bằng cách đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành
sản phẩm nhờ cải tiến kỹ thuật và công nghệ. Các doanh nghiệp phải lựa
chọn sản phẩm phù hợp với từng thị trường để chiềm lĩnh thị trường cũng
là một trong những chính sách tạo lợi thế cạnh tranh.
* Các biện pháp tạo phản ứng nhanh nhạy đối với những thay đổi trong
chiến lược chiến thuật của đối thủ cạnh tranh:
Việc phản ứng đối với các đối thủ cạnh tranh phải đáp ứng hai yêu cầu: làm
ra sản phẩm tốt hơn; còn nếu khi không thể làm tốt hơn thì phải làm khác
đi. Trong cuộc đua tranh giành thương trường các doanh nghiệp thường
không bỏ sót một biến đổi nào trong chiến lược, chiến thuật của đối thủ
cạnh tranh mà không có những phản ứng bằng cách này hay cách khác.
* Các chính sách quản lý và lao động của các doanh nghiệp:
Một trong những yếu tố quan trọng, thường được coi là một trong những vũ
khí tạo ra sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là chính sách nhân sự phù
hợp. Các chính sách này cũng có nhiều dạng biểu hiện khác nhau, tùy thuộc
vào từng doanh nghiệp, từng thới điểm. Nhìn chung đó là các biện pháp
giúp doanh nghiệp tập trung được lực lượng lao động trong thời điểm kinh
doanh khó khăn, chính sách đào tạo đa năng, trả lương theo thâm niên, các
biện pháp kích thích người lao động gắn bó với quyền lợi của bản thân và

với nền kinh tế thị trường thế giới là một xu thế tất yếu và ở đó đang và sẽ
diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt. Các doanh nghiệp Việt Nam không những
phải cạnh tranh không cân sức ở các thị trường ngoài nước mà còn phải
cạnh tranh ở thị trường trong nước với các doanh nghiệp của nước mình và
của nước ngoài. Hiện tại năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của Việt
Nam, của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Trong tương lai chắc chắn
năng lực đó sẽ được nâng cao bằng cách các doanh nghiệp Việt Nam cần
tận dụng các lợi thế so sánh về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, môi
trường phong phú, đa dạng để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trước hết phải thể hiện ở nguồn nhân lực được đào tạo có
trình độ cao, lành nghề; Trình độ quản lý giỏi; đạo đức kinh doanh lành
mạnh, đặt đạo lý và luật pháp lên hàng đầu; có uy tín trong cộng động, làm
tròn nghĩa vụ công dân, có thương hiệu nổi tiếng, thu nhập của người lao
động ngày một tăng; sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao, giá rẻ, tạo được
sự khác biệt trong chất lượng hoặc giá cả, hoặc dịch vụ đi kèm. Các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này nên chuẩn bị cho mình những hướng
đi mới bằng cách phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của mình và
trong những tình huống và điều kiện cụ thể có thể áp dụng những giải pháp
Trang 24
chiến lược để nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình trong điều kiện toàn cầu
hóa./.
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status