1
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHOA HÀNH CHÍNH HỌC
======
TÀI LIỆU ÔN TẬP
MÔN: QUẢN LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Hà Nội, 11/2006
Câu 1: Hãy phân tích và cho ví dụ minh hoạ về vai trò chung của quản lý?
Quản lý ra đời từ rất xa xưa, nó xuất hiện từ thưở bình minh của xã hội loài
người. Con người sinh sống theo tập quán quần tụ cộng đồng, có nhiều việc nảy sinh
mà một người không thể làm được hoặc làm được nhưng hiệu quả kém, cần phải được
phối hợp liên kết với số đông để cùng thực hiện. Từ những yêu cầu khách quan đó,
dần dần hình thành tổ chức. Quản lý diễn ra trong mọi tổ chức từ đơn giản đến phức
tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Nó chính là yếu tố quyết định sự thành công hay
thất bại của mỗi tổ chức.
Theo F.W Taylor: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và
sau đó biết được rằng họ đã thực hiện công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo Henrry Fayol: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả cá khâu: lập kế
hoạch, tổ chức, phân công điều hiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và
sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề
ra”.
Theo M.P.Follet: “Quản lý là nghệ thuật đạt mục tiêu thông qua con người”.
Định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức có định hướng của chủ thể quản
lý lên các khách thể là đối tượng của quản lý nhằm thay đổi các hành vi, các quá trình
của đối tượng để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Vai trò:
- Tạo ra sự thống nhất ý chí giữa các cá nhân bộ phận trong tổ chức.
- Xây dựng định hướng ngắn hạn và dài hạn cho sự phát triển của tổ chức.
Hướng nỗ lực của các nhân, bộ phận trong tổ chức đạt đến mục tiêu chung đã đề ra.
- Tạo ra động lực cho các cá nhân, bộ phận trong tổ chức, thúc đẩy họ hành
động để đạt kết quả mong muốn.
3
thấy được toàn bộ quá trình phát triển của “cây khoa học quản lý” và qua đó nắm bắt
được yêu cầu thực tế khách quan về quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội trong từng
thời kỳ lịch sử. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ tiếp thu một cách có chọn lọc tư tưởng quản
lý của các trường phái khoa học để vận dụng có hiệu quả nhất vào quản lý các đối
tượng thuộc lĩnh vực công tác của mình.
Từ việc nghiên cứu tiến trình vận động của các tư tưởng quản lý chúng ta có
thể nhận thấy cơ sở khoa học của quản lý được xác định trên cả phương diện lý luận,
thực tiễn và pháp luật.
* Cơ sở lý luận:
Từ nguyên lý nhận thức thế giới khách quan của các nhà triết học mà đề xướng
các lý thuyết quản lý thế giới vật chất nhằm tạo dựng một trật tự thế giới mới. Các
nhà triết học duy vật biện chứng cho rằng thế giới vật chất tồn tại khách quan trong
thể vận động không ngừng. Trong quá trình vận động đó, các dạng vật chất sẽ tác
động lẫn nhau và chuyển hoá cho nhau theo các quy luật vốn có của nó. Kết quả vận
động trên đây không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích cho con người, trong khi nhu
cầu của đời sống xã hội lại không ngừng tăng lên theo cấp số nhân. Từ thực tế đó, con
người luôn luôn có nguyện vọng cải tạo thế giới vật chất để phục vụ cho nhu cầu cuộc
sống ngày càng cao của mình. Xuất phát từ ước nguyện lớn lao đó, những người tiên
phong trong xã hội đã tìm cách xếp đặt lại các yếu tố vật chất theo một trật tự nhất
định để điều khiển chúng hoạt động có hiệu quả hơn. Nguyên lý vận động này đã từng
bước tạo nền móng vững chắc cho một khoa học mới ra đời và phát triển là khoa học
quản lý.
* Cơ sở thực tiễn:
Tính tất yếu khách quan trên đây về sự ra đời và phát triển của khoa học quản
lý đã cho ta thấy tính thực tiễn của nó. Nói như vậy là vì các nấc thang phát triển của
tư tưởng quản lý hay trường phái quản lý cũng được coi là cơ sở thực tiễn của khoa
học này. Nền tảng lý luận trên đây không phải sinh ra từ duy ý chí mà được đúc kết từ
4
thực tiễn sinh động chinh phục thế giới khách quan của con người. Khi cả tập thể
Câu 3: Các yếu tố cấu thành quản lý và các dạng quản lý?
a. Các yếu tố cấu thành quản lý:
- Chủ thể quản lý: Con người là yếu tố tạo ra tác động quản lý trong mọi quá
trình hoạt động. Chủ thể có thể là cá nhân hay tổ chức tác động lên đối tượng quản lý
bằng các công cụ với những phương pháp quản lý thích hợp theo các nguyên tắc nhất
định. Đối tượng quản lý rất phong phú và đa dạng, có thể là giới vô sinh, giới sinh vật
và có thể là con người, tổ chức người.
- Khách thể quản lý: là yếu tố tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý, đó là
những hành vi thực thể (cá nhân, tổ chức sự vật hay môi trường), cũng có thể là sản
phẩm trực tiếp của đối tượng quản lý, mối quan hệ giữa các thực thể các quá trình
trong quá trình vận động của chúng.
- Mục tiêu quản lý: Là căn cứ để chủ thể phát ra các tác động quản lý cũng như
lựa chọn phương pháp quản lý thích hợp, là cái đích để cả chủ thể và khách thể quản
lý cần phải đạt được tại một thời điểm xác đinh trong tương lai do chủ thể và khách
thể định trước.
- Môi trường quản lý: Là những yếu tố bên ngoài bao gồm cả môi trường tự
nhiên và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội ảnh hưởng đến yếu tố bên trong là quá
trình quản lý cũng như mục tiêu quản lý. Trong các môi trường khác nhau, chủ thể
quản lý phải tìm kiếm, sử dụng các công cụ, phương pháp quản lý cho phù hợp. Môi
trường vừa đặt ra mục tiêu, vừa tạo ra địa bàn và động lực cho mỗi tổ chức hoạt động
vì vậy nó cũng là một yếu tố quan trong trong quản lý.
Có thể khái quát các yếu tố tham gia quá trình quản lý theo sơ đồ sau:
6
b. Các dạng quản lý:
Quản lý có mặt trong mọi quá trình hoạt động của đời sống kinh tế nên- xã hội
đối tượng của quản lý cũng rất đa dạng phong phú. Các đối tượng có thể tồn tại độc
lập hoặc kết thành thực thể. Quản lý gắn liền với quá trình vận động của thực thể, do
vậy các đối tượng thực thể khác nhau tất sẽ cần đến cá dạng quản lý khác nhau. Căn
cứ vào đó, người ta phân chia quản lý thành cá dạng sau đây:
- Quản lý giới vô sinh: Đây là những tài sản vật hoá như: ruộng đất, hầm mỏ,
+ Hoạt động quản lý xã hội bao giờ cũng diễn ra trong tổ chức và vì vậy mà nó
luôn luôn mang tính tổ chức. Tổ chức chính là nền tảng để thực hiện hành động quản
lý. Có tổ chức thì sẽ có quản lý để giúp quản lý đạt được mục tiêu. Quan hệ tổ chức
được thể hiện giữa chủ thể và khách thể, là quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa
người lãnh đạo với người bị lãnh đạo… Tính tổ chức còn thể hiện ở mối quan hệ ngay
trong quản lý, đó là sự quan hệ giữa các nhà quản lý với nhau và giữa các cá nhân
trong tổ chức với nhau.
- Quản lý xã hội phải luôn có quyền hành, Quyền hành được coi là ph. tiện để
chủ thể quản lý sử dụng tác động lên đối tượng quản lý. Nó được đối tượng quản lý
thừa nhận và tuân thủ.
Câu 4: Hãy phân tích sự tác động của các yếu tố con người, chính trị, tổ
chức đến quá trình quản lý? Cho ví dụ minh hoạ?
a. Sự tác động của yếu tố con người:
8
Thực chất là phải giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người. Con
người là chủ thể chủ động vận hành các nguồn lực vật chất trong mọi tổ chức, là chủ
thể huy động và tạo dựng các nguồn lực vật chất khác trong tổ chức và là yếu tố quyết
định mọi thành công hay thất bại của mỗi tổ chức.
Con người đóng vai trò rất quan trọng, nó tác động trực tiếp đến hoạt động
qủan lý. Nhà quản lý chính là người đánh thức những năng lực tiềm ẩn trong mối con
người, huy động tinh thần đoàn kết, đồng tâm hiệp lực trong công việc, tình tương
thân tương ái, khai thác tối đa khả năng của họ vào hoạt động vì mục tiêu chung.
Muốn làm được điều đó, nhà quản lý phải biết tạo ra điều kiện vật chất kỹ
thuật, trang thiết bị, môi trường làm việc để có thể nâng cao năng suất của người lao
động. Người quản lý phải luôn tự hoàn thiện mình để làm gương cho cấp dưới về cả
đạo đức, tác phong và trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng với địa
vị quản lý của mình.
Phải tạo ra bầu không khí tốt, tâm lý tốt cho tập thể, từ đó phát huy được tinh thần
đoàn kết, tương thân tương ái, tạo ra được sự gắn kết giữa các cá nhân với tổ chức.
Phải quan tâm đến chế độ, chính sách với người lao động như: tiền lương, tiền
lập các bộ phận theo trật tự, quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của từng bộ
phận và cá nhân trong tổ chức, quy định mối quan hệ dọc, ngang giữa các bộ phận
nhằm phối hợp hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức.
Câu 5: Hãy phân tích sự tác động của các yếu tố quyền lực, thông tin, văn
hoá tổ chức đến quá trình quản lý và cho ví dụ minh hoạ?
a. Sự tác động của yếu tố quyền lực:
Quyền lực được xem là điều kiện và phương tiện quan trọng đẻ chủ thể quản lý
tác động lên đối tượng quản lý nhằm dạt mục tiêu định trước. Quyền lực cũng là đặc
10
điểm để phân bệt chủ thể và đối tượng quản lý. C.Mác nói: “Quyền lực là sự phụ
thuộc ý chí của hệ thống này đối với 1 hệ thống khác”.
Khi nói đến quyền lực quản lý là nói đến quyền chỉ huy, lãnh đạo điều hành, là
khả năng chi phối của chủ thể đối với đối tượng quản lý. Đó là sự sai khiến, áp đặt ý
chí của một nhóm người này đói với một nhóm người khác hay là khả năng của một
cá nhân, nhóm cá nhân ảnh hưởng đến hành vi và suy nghĩ của cá nhân, 1 nhóm cá
nhân khác. Quyền lực có thể là khả năng của chủ thể quản lý ảnh hưởng đến hành vi
và suy nghĩ của đối tượng quản lý.
Quyền lực được cấu thành bởi 2 bộ phận:thẩm quyền và uy quyền.
Thẩm quyền là quyền hạn của một cá nhân trong tổ chức để lãnh đạo cá nhân
cấp dưới trên cơ sở nhiệm vụ được giao và khả năng sử dụng chế tài.
Đặc điểm của thẩm quyền là nó tương ứng với phương diện chính thức của tổ
chức, nó được bắt nguồn từ tổ chức và được tổ chức giao cho cá nhân được lựa chọn
để thực hiện
Thẩm quyền được các cá nhân cấp dưới thừa nhận, tuân thủ. Nếu không tuân
thủ sẽ bị áp dụng chế tài.
Uy quyền là khả năng của một cá nhân trong tổ chức để thu hút sự nhất trí cao
và lòng nhiệt tình của các cá nhân khác đối với niềm tin của và mục tiêu mà người đó
theo đuổi.
Uy quyền tương ứng với phương diện phi chính thức của tổ chức và được hình
thành từ uy tín, khả năng chuyên môn, từ kinh nghiệm giao tiếp, đàm phán, khả năng
cứ để chủ thể quản lý ra quyết định quản lý và tổ chức thưc hiện quyết định có hiệu
quả.
c. Sự tác động của yếu tố văn hoá tổ chức:
12
Trong quá trình hình thành tồn tại và phát triển của tổ chức thì nó dần dần hình
thành những yếu tố quy định cách xử sự của cá thành viên trong tổ chức, điều này
mang lại cho tổ chức những bản sắc riêng, đó là văn hóa tổ chức. Nói cách khác, văn
hóa tổ chức là toàn bộ những giá trị, niềm tin, truyền thống, thói quen có khả năng
quy định, điều phối hành vi của các thành viên trong tổ chức, nó được hình thành
cùng với sự hình thành của tổ chức, nó ngày càng được làm giàu thêm lên theo thời
gian, có thể thay đổi theo thời gian và tạo nên cho mỗi tổ chức 1 bản sắc riêng. Vai trò
của văn hóa tổ chức đối với quản lý rất quan trọng, nó được thể hiện ngay trong chính
khái niệm văn hóa tổ chức.
- Nó quy định hành vi của cá nhân trong tổ chức 1 cách tự nhiên, 1 cách vô
thức ở nhiều cấp độ trên nhiều lĩnh vực.
- Thông qua văn hóa tổ chức, nó tạo nên chất keo gắn kết người lao động với tổ
chức.
- Nó mang bản sắc riêng của tổ chức, nó quyết định sự tồn tại của tổ chức. Sự
tồn tại của tổ chức phụ thuộc vào sự bảo vệ bản sắc văn hóa riêng đó.
Nhà quản lý cần phải chú ý đến nhân cách và tác phong của mình bởi vì nhân
cách và tác phong của nhà quản lý góp phần quan trong hình thành nên văn hóa của tổ
chức.
Nhà quản lý cần phải tìm ra những mặt tích cực của văn hóa tổ chức cũng như
những mặt hạn chế để từ đó tìm cách phát huy, thúc đẩy các mặt tích cực, hạn chế và
đi đến triệt tiêu các mặt tiêu cực.
Câu 6: Hãy trình bày cơ sở hình thành và nội dung chủ yếu của tư tưởng
đức trị của Khổng Tử và rút ra những điểm tích cực và hạn chế của tư tưởng
quản lý này?
a. Hoàn cảnh lịch sử:
Ra đời vào thời kỳ Xuân Thu (1770 – 1403 TCN) đây là giai đoạn suy tàn của
Ông đặt ra tiêu chuẩn đối với các nhà quản lý là phải lựa chọn và đào tạo được
một tầng lớp Nho sĩ, từ đó hình thành nên một đội ngũ quan lại là những nhà quản lý
chuyên nghiệp, là những người ưu tú có sứ mệnh giáo hoá điều nhân cho mọi người,
thực hiện việc cai trị xã hội.
Ông đặt ra tiêu chuẩn cho họ là phải chính tâm, tu thân, tề gia trị quốc bình
thiên hạ. Tề gia trị quốc cần phải có chính danh. Chính danh trong quản lý là phải làm
việc xứng đáng với danh hiệu, chức vụ mà người đó được giao. Muốn chính danh thì
phải có nhân tâm, không xảo trá, lọc lừa, không lạm dụng chức quyền.
Ông đưa ra 6 phẩm chất cần phải có của nhà quản lý bao gồm : Nhân – Liêm –
Dũng – Nghĩa – Trí – Tín. Theo đó:
+ Nhân: là yêu thương con người như yêu thương chính bản thân mình và
những người thân thích của mình. Nhân không có nghĩa là nhu nhược, dung túng tội
lỗi của dân mà phải kiên quyết trừng trị những người vi phạm trật tự an ninh chung.
+ Trí: là sự sáng suốt, hiểu biết người, biết yêu những người đáng yêu và biết
ghét những kẻ đáng ghét. Biết bố trí con người theo công việc, đúng người đúng việc,
biết giúp đỡ người khác nhưng không hại người, không hại ta.
+ Dũng: là quả cảm, kiên cường, dám hy sinh thân mình vì nghĩa lớn.
+ Nghĩa: là làm những điều phù hợp với luân thường đạo lý gia phong, phải giữ
được cam kết của mình trước dân, phải trung với Vua.
+ Liêm: là thật thà, trung thực trong việc thực hiện nhiệm vụ, không được tranh
công của người khác, không được lạm dụng chức quyền để tham nhũng, áp bức bóc
lột nhân dân.
+Tín: là hệ quả của tất cả các phẩm chất trên. Khi có tín rồi thì sẽ thu phục
được nhân tâm, sẽ huy động được sức dân
15
* Chính sách quản lý nhân sự
- Nhà quản lý phải biết chọn người hiền tài, có chí có hiểu biết để bố trí đúng
người, đúng việc. Chọn lựa con người phải trên cơ sở tài-đức chứ không căn cứ vào
giai cấp, huyết thống. Quan trọng là người đó phải có Trí và phải chính trực, ngay
thẳng. “Đặt người chính trực lên kẻ cong queo thì sẽ biến kẻ cong queo thành người
Học thuyết đó đã trở thành nền tảng tư tưởng triệt đẻ trong xã hội phong kiến
Trung Quốc, nó được coi là quốc giáo trong suốt hơn 2000 năm qua, đồng thời nó còn
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều quốc gia khác ở Phương Đông như Việt Nam, Nhật
Bản, Hàn Quốc.
- Chỉ ra được phẩm chất, tiêu chuẩn cần phải có đối với nhà quản lý.
- Chỉ ra được cơ sở quản lý nhân sự tiến bộ, chọn người dựa trên cơ sở tài đức.
- Đề cao chính sách đãi ngộ để thu hút, tập hợp người hiền tài.
- Chỉ ra chính sách cai trị dân.
* Hạn chế:
- Quá đề cao đức trị, đề cao hình phạt (lạm dụng uy quyền), dễ làm giảm hiệu
quả quản lý.
- Có những điểm mang tính bảo thủ, ảo tưởng, thiếu dân chủ.
- Đòi hỏi quá cao đối với nhà quản lý, nó chỉ phù hợp với từng giai đoạn lịch sử
nhất định. Trong thời đại của ông, pháp luật còn rất hạn chế, quyền lực thực sự chỉ tập
trung vào tay nhà vua và các tầng lớp cai trị, còn người dân nghèo đói không tự bảo
vệ được mình. Trong hoàn cảnh đó, Khổng Tử muốn xây dựng một xã hội lý tưởng có
trật tự từ trên xuống dưới trong đó cần có sự gương mẫu của các nhà quản lý. Như
vậy, những hạn chế trên không làm thuyên giảm giá trị của học thuyết Khổng Tử.
17
Câu7: Trình bày cơ sở hình thành và nội dung của tư tưởng pháp trị của
Hàn Phi Tử và rút ra những điểm tích cực và hạn chế của tư tưởng quản lý này?
a. Hoàn cảnh lịch sử:
Ra đời vào thời kì Chiến quốc 403 – 224 TCN. Thời kì này chính trị bất ổn,
chiến tranh liên miên nhưng kinh tế lại khá phát triển: sắt được sử dụng làm công cụ
lao động, đất đai nông nghiệp được mở rộng. Năng xuất lao động thời kì này tăng lên
đáng kể.
Về chính trị: Đạo đức xã hội suy đồi, con người luôn tranh giành nhau quyền
lợi. Quan lại tham ô, hối lộ, ăn chơi sa đoạ, áp bức bóc lột, nhũng nhiễu nhân dân.
b. Tiểu sử:
Sinh năm 280 mất năm 223 TCN. ông vốn là một công tử nước Hán, học rộng tài
một người.
Trừ gian là cách thức loại bỏ gian thần. Ông rất đề cao thuật dùng người, lựa
chọn người không có thuật thì sẽ bại, vì người có tài chưa hẳn đã đáng tin, người có
đức chưa hẳn đã có tài. Ông đã chỉ ra phương pháp lựa chọn người là:
+ Phải biết lắng nghe bề tôi nói.
+ Phải có phương pháp để kiểm tra lời nói của họ có đúng không.
+ Phải biết bố trí công việc để kiểm tra năng lực của họ.
- Tâm thuật: Là những cái mưu mô để che mắt người khác, không cho cấp dưới
biết được suy nghĩ và tâm ý thật, tình cảm thật của mình. Như vậy mới dùng được
người, trừ được gian.
19
* Pháp: Ông ví Pháp như cái khuôn cái thước, cái trật tự, cái tiêu chuẩn để đo
lường hành vi con người. Không có nước nào luôn mạnh hay luôn yếu. Nước nào thi
hành pháp luật cương cường thì nước đó mạnh, ngược lại thì nước sẽ yếu.
Vua là người có quyền ban hành luật pháp. Nhưng việc ban hành luật pháp cần
phải được quan tâm đến nguyên tắc và phải tuân theo nguyên tắc.
- Pháp luật phải kịp thời. “Thời đã thay mà pháp luật không đổi thì nước biến,
Đời đã thay mà cấm lệnh không đổi thì đất nước bị chia cắt, cho nên thánh nhân trị
dân thì pháp luật phải theo thời mà biến”.
- Pháp luật phải dễ hiểu, dễ thực hiện. “Cái gì chỉ những kẻ sĩ có đầu óc tinh tế
mới hiểu được thì không nên ban hành vì không phải ai cũng đều có đầu óc tinh tế cả.
Điều gì chỉ những bậc thánh hiền mới làm được thì không nên ban hành làm phép tắc”.
- Pháp luật phải bảo vệ kẻ yếu, bảo vệ thiểu số. Ông đặt ra hình phạt nghiêm
“để cứu hoạ cho dân, trừ hoạ cho thiên hạ, để cho đám đông không hiếp đáp số ít, kẻ
mạnh không lấn át người yếu, người già được hưởng hết tuổi trời, trẻ em mồ côi được
nuôi lớn”.
- Pháp luật phải mang tính phổ cập, phổ biến, phải được tuyên truyền rộng rãi đến
mọi người dân để không ai có thể viện cớ vì không hiểu biết pháp luật mà vi phạm.
Ông còn đề cao việc uỷ quyền cho quan lại. Vua có rất nhiều việc lớn không
thể trực tiếp cai trị dân mà nên uỷ thác việc đó cho quan lại. Vua quản lý quan lại
quản lý theo khoa học của F.W. Taylor và rút ra những điểm tích cực và hạn chế
của tư tưởng quản lý này?
a. Hoàn cảnh ra đời:
Các học thuyết về quản lý ra đời trong thời kì cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20
khẳng định sự ra đời của khoa học quản lý.
21
Cuối TK 19 đầu TK 20, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật, nền đại công nghiệp của các nước tư bản phương Tây phát triển hết sức
mạnh mẽ, kể cả về quy mô và tổ chức hoạt động.
Các Xí nghiệp công nghiệp dưới thời tư bản được mở rộng về quy mô, sản
lượng lao động ngày càng tăng. Máy móc thiết bị ngày càng nhiều. Dẫn đến việc quản
lý theo kinh nghiệm như trước đây tỏ ra không có hiệu quả nữa. Thực tế này đặt ra
yêu cầu khách quan là cần phải có một hệ thống các lý thuyết làm cơ sở lý luận để
dẫn đường cho hoạt động quản lý.
Trước thực tế đó, có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đi sâu nghiên cứu các
hành động quản lý. Từ đó hình thành nên một hệ thống học thuyết về quản lý rất phong
phú đa dạng mà người ta gọi là một rừng học thuyết. Đây là thời đỉêm đánh dấu sự ra
đời của khoa học quản lý.
b. Tiểu sử của Fredrich Winslow Taylor:
Sinh năm 1856 mất năm 1915. Sinh ra trong một gia đình luật sư giàu có người
Mĩ. Năm 18 tuổi ông thi đỗ vào trường Đại học Harvard nhưng do thị lực giảm sút nên
ô đã phải nghỉ học. Một thời gian sau ô xin vào làm việc tại Nm Hydranlie Works với
tư cách là một người học nghề chế tạo và thiết kế mẫu. Sau đó ô chuyển sang làm việc
tại Nm thép Midval với tư cách là 1 người thợ bình thường. Tuy nhiên với sự cần cù và
trí thông minh của mình, chưa đầy 10 năm làm việc ô đã trở thành đốc công, rồi tổng
công trình sư, kĩ sư trưởng. Đồng thời trong thời gian này ô đã theo học Đại học tại
chức Toán Lý tại trường Đại học Harvard cho đến năm 1883 ô dành được học vị tiến sĩ
tại Viện kĩ thuật Steven.
Năm 1885, ông tham gia Hiệp hội các nhà kĩ sư cơ khí và trở thành chủ tịch
Hiệp hội này.
giữa chủ và thợ. Nếu thu nhập của chủ tăng lên thì thu nhập của người thợ cũng phải
tăng lên tương ứng.
Ông đã đặt ra một loạt yêu cầu đối với hoạt động quản lý:
- Phải tiêu chuẩn hoá công việc. Đây chính là sự phân chia công việc thành các
khâu, các công đoạn để định mức lao động một cách hợp lý. Kết quả của yêu cầu này
này là hoạt động dây chuyền được hình thành để chuyên môn hoá lao động.
Đối với người chủ:
+ Người chủ phải là người lập kê hoạch, xác định mục tiêu nhiệm vụ, chỉ đạo và
tổ chức thực hiện các kế hoạch, đồng thời kiểm tra việc tuân theo các thủ tục trong quá
trình thực hiện.
+ Trong quản lý phải tìm ra được những người thợ giỏi nhất để định mức lao
động một cách hợp lý và để làm gương cho những người khác noi theo.
+ Người chủ phải đào tạo thợ trở thành người lao động chuyên nghiệp.
- Phải tiêu chuẩn hoá công cụ lao động. Ngay cả người thợ giỏi nhất cũng cần
phải có công cụ lao động phù hợp, trách nhiệm này thuộc về người chủ, người quản lý.
Trên cơ sở nguyên tắc hình dáng, kích thước, trọng lượng, thể chất của con người, tính
chất của công việc, người chủ phải chuẩn hoá công cụ lao động cho phù hợp với nhân
chủng học của con người.
- Phải cải tạo điều kiện làm việc nơi làm việc, thông qua sự bố trí nơi làm việc
hợp lý, đầu tư trang thiết bị, máy móc cùng với những điều kiện khác để làm giảm các
thao tác, các động tác có ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động, gúp cho năng suất
lao động tăng lên.
- Đề ra chế độ trả lương theo sản phẩm: Nếu người lao động làm vượt định mức
thì họ sẽ được hưởng 125% lương. Ngược lai không hoàn thành định mức thì chỉ được
hưởng 80% lương.
24
e. Nhận xét đánh giá:
* Tích cực:
- Là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về quản lý phản ánh đầy đủ, chính xác hoạt
động quản lý.