CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
…………, ngày 26 tháng 7 năm 2012
BÁO CÁO THÀNH TÍCH CÁ NHÂN
Đề nghị tặng thưởng : Huân chương Lao động hạng ba
Năm 2011 – 2012
I- Sơ yếu lý lịch:
-Họ và tên : Giới tính: Nam
-Sinh ngày
-Quê quán: .
-Nơi thường trú :
-Chức vụ:
-Ngày vào Đảng:
-Đơn vị : Phòng Giáo dục và Đào tạo, .
-Quá trình công tác:
Quá trình công tác Chức vụ, nơi công tác
Từ tháng 01/1980 đến tháng 8/1981 Giáo viên trường Phổ thông cơ sở Hưng Điền 2,
xã , huyện , tỉnh
Từ tháng 9 năm 1981 đến 8/1983 Phó Hiệu trưởng trường Phổ thông cơ sở Hưng
Điền 2, xã …, huyện …, tỉnh …
Từ tháng 9/1983 đến tháng 12/1990 Hiệu trưởng trường Phổ thông cơ sở Hưng Điền
2, xã …., huyện …., tỉnh …
Từ tháng 01/1991 đến tháng 12/1996 Hiệu trưởng trường Phổ thông cấp 1,2 Tân Phước
Hưng 3, xã …., huyện …., tỉnh …
Từ 01/1997 đến tháng 8/2005 Hiệu trưởng trường THCS Tân Phước Hưng, xã
…., huyện … , tỉnh …
Từ tháng 9/2005 đến nay Phó Trưởng phòng GD&ĐT huyện …, tỉnh …
-Những khó khăn, thuận lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học:
Thuận lợi:
Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự nhiệt tình phối hợp và đóng góp của
phòng học kiên cố.
100% trường Tiểu học có phòng thư viện (trong đó có 21/38 trường có phòng
đọc sách dành cho học sinh và có 26 thư viện đạt chuẩn).
100% trường Trung học cơ sở đều có phòng thư viện, phòng thiết bị, phòng bộ
môn, phòng thí nghiệm thực hành, phòng máy vi tính. Trong đó có 78,85% số trường
có Thư viện đạt chuẩn (12/13).
c) Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia:
Được ngành quan tâm chỉ đạo và đầu tư tốt, đến nay, toàn huyện có 18/65 đạt
chuẩn quốc gia (02 trường Mầm non, 10 trường tiểu học, 6 trường THCS),
d) –Chất lượng Học sinh tốt nghiệp–lưu ban bỏ học:
Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm giảm tỷ lệ rõ rệt, Số hS tốt nghiệp ngày càng tăng, ,
cụ thể:
Năm học TSHS
Tỷ lệ HS
lưu ban bỏ
Tỷ lệ HS tốt nghiệp
TH THCS BTVH
04-05 41127 2,3% 100% 96,03 93,3
05-06 33192 1,8% 100% 99,23 89
06-07 25171 3,1% 99,5% 96% 86%
07-08 27361 1,8% 99,6% 95,2% 89%
08-09 22776 1,02% 99,8 96,3% 100%
09-10 23050 1,02% 100% 97,6% 100%
10-11
11-12
2
e) Chất lượng giáo viên-học sinh giỏi của tiểu học và THCS các năm qua:
Các phong trào Hội thi nhằm nâng cao chất lượng, các phong trào khác luôn
được ngành quan tâm chỉ đạo tốt, chất lượng và đạt kết quả cao các cấp, tỷ lệ học sinh
giỏi cấp huyện, tỉnh tăng lên theo hàng năm. Phát triển và giữ vững phong trào GV giỏi,
trong việc tra cứu thông tin và các tài nguyên đã được đăng tải. hiện nay có 8/12 trường
THCS có trang Website riêng : THCS Thạnh Hòa, THCS Tây Đô, THCS Tân Bình,
THCS Phương Phú…
2. Thành tích thi đua của Phòng từ năm học 2004 – 2005 đến năm học 2009-2010:
-Năm học 2004 – 2005:
+Ngành giáo dục huyện Phụng Hiệp được tỉnh …. công nhận và tặng cờ thi đua
xuất sắc (hạng nhất) cho ngành giáo dục huyện … , đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
năm học 2004 – 2005 (QĐ số 1814/QĐ-UBND ngày 22/8/2005 của UBND tỉnh ….
+Được công nhận hoàn thành công tác PCGDTH.Đúng độ tuối năm 2004 và
PCGD.THCS năm 2004.
3
-Năm học 2005 – 2006:
+Được thưởng (1 công trình) thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “dạy
tốt, học tốt” tỉnh …. năm học 2005-2006 (hạng ba) (QĐ số: 1693/QĐ-UBND ngày
14/8/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh ….) trị giá 30 triệu đồng.
+Được thưởng thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” tỉnh
Hậu Giang năm học 2005-2006 (hạng ba) (QĐ số: 1690/QĐ-UBND ngày 14/8/2006
của Chủ tịch UBND tỉnh ….).
+Được Công nhận Tập thể lao động xuất sắc năm học học 2005 – 2006 đã có
thành tích phấn đấu xây dựng tập thể đạt danh hiệu lao động xuất sắc năm học 2005 –
2006 (QĐ số 1696/QĐ-UBND ngày 15/8/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang).
+Tập thể Lao động tiên tiến năm học 2005 – 2006 (QĐ số 1426/QĐ-UBND
ngày 16/8/2006 của SGDĐT tỉnh Hậu Giang).
+Bằng khen UBND tỉnh đã có thành tích thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
năm học 2005 – 2006 ( QĐ số 1639/QĐ-UBND ngày 04/8/2006 của UBND tỉnh Hậu
Giang).
+Thực hiện đạt 9/9 chỉ tiêu được giao.
+Được công nhận hoàn thành công tác PCGDTH. Đúng độ tuối năm 2005 và
PCGD.THCS năm 2005.
-Năm học 2006 – 2007:
- Từ tháng 9 năm 2005: giữ chức vụ Phó Trưởng phòng chịu trách nhiệm chịu
trách nhiệm xây dựng kế hoạch, quản lý và điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ năm
học đối với ngành giáo dục Mầm non và cấp tiểu học và phong trào.
b. Thành tích đạt được của cá nhân:
-Năm học 2004 – 2005:
Với vai trò là Hiệu Trưởng Trường THCS Tân Phước Hưng, huyện Phụng Hiệp,
tỉnh Hậu Giang, tôi luôn phát huy dân chủ, đoàn kết nội bộ, tìm tòi học hỏi, nổ lực thực
hiện tốt nhiệm vụ lãnh đạo đưa nhà trường phát triển về mọi mặt. Cuối năm được công
nhận là đơn vị trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh.
-Từ tháng 9 năm 2005 đến nay
Với vai trò là Phó Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phụng Hiệp, tôi
luôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Đã cùng Ban lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo điều hành hoạt động của
ngành bằng kế hoạch, Quy chế, thi đua. Trong việc quản lý và điều hành việc thực hiện
nhiệm vụ được giao, bản thân đề cao tinh thần đoàn kết, phát huy vai trò của các thành
viên trong cơ quan, mọi công việc được kế hoạch hóa một cách sát hợp. Trong quá trình
thực hiện thường xuyên đúc rút kinh nghiệm, phát huy những ưu điểm và khắc phục kịp
thời những sai sót để hoàn thành tốt nhất mọi nhiệm vụ được giao. Tạo mối đoàn kết
trong cơ quan đơn vị, luôn luôn rèn luyện đạo đức, lối sống trong sạch và lành mạnh.
Bản thân đã cố gắng thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao là tốt công tác
tham mưu và quản lý chỉ đạo hoạt động ngành học Mầm non, Tiểu học, các phong trào
hội thi trong năm, đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ trọng tâm theo chủ đề năm
học, góp phần xứng đáng vào thành tích chung của toàn ngành. Kết quả về số lượng và
chất lượng hoạt động của các ngành học, cấp học không ngừng phát triển qua từng năm
học, các chủ trương, các công tác lớn của ngành như công tác Phổ cập giáo dục tiểu học
Đúng độ tuổi, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia …được tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả cao ở các cơ sở trường học góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, đáp
ứng ngày càng cao của Sự nghiệp giáo dục của cả nước và của địa phương.
Đảm bảo tốt công tác tham mưu với các cấp lãnh đạo, phản ảnh kịp thời tình
hình thực tế ở cơ sở cũng như đề xuất những biện pháp phù hợp cho lãnh đạo ngành có
chuẩn quốc gia so với năm học 2004 tăng 8 trường và chỉ đạo quyết liệt các trường
trong phong trào Xây dựng trường học thân thiện. học sinh tích cực giai đoạn 2008 –
2013 với kết quả từ năm học 2008 – 2009 đến năm học 2009 – 2010 đã đề nghị về tỉnh
công nhận 20 trường đạt Tiêu chuẩn ”Trường học thân thiện học sinh tích cực” so với
năm học 2008 – 2009 tăng 17 trường.
Chỉ đạo và tổ chức các Hội thi như: Hội thi “giáo viên dạy giỏi”, Hội thi “Tuyên
truyền giới thiệu sách”, “Hội khỏe Phù Đổng”…Qua đó nâng cao chất lượng dạy và
học. Tất cả các Hội thi, phong trào luôn có thành tích cao, trong đó Hội khỏe phù đổng
tỉnh Hậu Giang lần thứ IV-năm 2010 được xếp hạng ba toàn đoàn.
Tích cực ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ cho hoạt
động quản lí dạy học. Đẩy mạnh phong trào thi đua tự làm đồ dùng dạy học bằng
ƯDCNTT, khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên làm phần mềm giáo án điện tử
dạy học.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học và
quản lý từng bước được các trường thực hiện có hiệu quả: trong năm học 2005-2006 chỉ
tổ chức dạy được 102 tiết (2/13 trường thực hiện), năm học 2006-2007 thực hiện được
725 tiết (5/13 trường THCS thực hiện), năm học 2008-2009 thực hiện được 3589 tiết
(12/13 trường THCS và 3 trường Tiểu học thực hiện), năm học 2009-2010 thực hiện
được 4420 tiết (12/12 trường THCS và 7 trường tiểu học thực hiện) đã góp phần tích
cực nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
Chỉ đạo Công tác CMC-PCGD: Chống mù chữ: 99,1%; Phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi: 89,85%; phổ cập giáo dục THCS: 83,98%. Chỉ đạo tích cực trong
việc thực hiện Phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và Phổ cập Trung học cơ sở từ năm 2003
6
cho đến nay, đều được công nhận đạt chuẩn phổ cập từng năm các chỉ tiêu đều tăng ,
đảm bảo với mức độ bền vững.
c. Phát huy sáng kiến kinh nghiệm và các giải pháp đã thực hiện có hiệu quả
trong thời gian qua:
Năm học 2005 – 2006
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
đội
Tận dụng giờ sinh hoạt lớp với nội dung phong phú, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
lớ, giáo dục tầm quan trọng của công tác Đoàn - Đội trong nhà trường, có kế hoạch
cụ thể để trò chuyện với giáo viên làm công tác đội, thường xuyên gặp gỡ trao đổi với
thầy cô làm công tác kiểm tra học sinh, xây dựng tốt mối quan hệ trong sáng giữa nhà
trường, gia đình và xã hội để cùng nhau có trách nhiệm trong công tác giáo dục đạo
đức cho học sinh.
* Giải pháp thứ nhất : Thuyết phục, khuyên giải, tranh luận
Thuyết phục có tác động về mặt nhận thức giúp con người có ý thức , thái độ
tốt đẹp, tìm ra chân lý cuộc sống, chân thiện mỹ còn khuyên giải : Với những học
sinh chưa ngoan, tính hay ngông cuồng, nên có lời khuyên giải có giá trị khi ta gặp gỡ
7
riêng để tâm tìn, lý thuyết hoà với tình cảm cũng là sự cảm thông, lòng độ lượng sẽ cảm
hoá được đối tượng, giúp họ tự điều chỉnh bản thân, điều chỉnh ý thức để phù hợp. Còn
đối Tranh luận : Sự tác động khéo léo của nhà giáo dục với đối tượng bằng cách đàm
thoại phải cởi mở, tự do tư tưởng việc dùng lời lẽ của nhà sư phạm rất quan trọng,
nếu không sẽ không có kết quả khi gặp đối tượng bảo thủ và các đối tượng cho là ngang
bướn.
* Giải pháp thứ hai: Nêu gương
Bằng lời nói tình cảm, chí lý, người thầy phải làm gương để học sinh bắt chướ,
những anh hùng tài trí để gây ấn tượng tốt cho trẻ em dẻ thông cảm và nhận tấm lòng
giáo dục của thầy cô.
* Giải pháp thứ ba: tổ chức hoạt động
+ Luyện tập : Hoạt động này phải có mục đích và kế hoạch thời gian lâu dài ,
kiên trì .
+ Tham gia cuộc sống xã hội : Tổ cho các em tham gia các phong trào, các
ngày kỷ niệm đóng góp xã hội, trợ cấp lũ lụt, thăm Me Việt Nam ï Anh Hùng, giúp
đỡ bạn bè gặp khó khăn
* Giải pháp thứ tư: nắm bắt được mặt mạnh của học sinh cá biệt
Muốn thực hiện đạt như thế, người thầy phải tận tâm tận lực, thể hiện đúng vai
Học sinh yếu kém, giáo viên cần nhẹ nhàng, chậm rãi, giao những công việc
vừa sức cho các em. Nhớ lời dạy của Lê-nin "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng … " động viên học sinh giỏi để kềm kẹp, chia xẻ, hội nhập tương trợ lẫn nhau
trong lúc tự học và lúc trao đổi thảo luận trong mỗi nhóm vì "Học thầy, không tày học
bạn ".
Hơn thế là thầy chủ nhiệm gần gũi, quan tâm đến các em, khen thưởng kịp thời
đúng lúc, từ chổ học yếu nên tự ái, cảm giác mình bị bỏ rơi, tự mãn, lêu lổng, chọc phá
bạn bè cho thoả lòng … các em sẽ không còn mặc cảm, tự ti, tự giác học tập nếu giáo
viên thực hiện biện pháp trên sẽ có hiệu quả.
Trên đây là những tìm hiểu nhỏ, nghiên cứu về học sinh cá biệt ở trường tiểu học
thuộc Huyện Phụng Hiệp, Tỉnh Hậu Giang cùng những biện pháp giáo dục. Tuy nhiên
có hiệu quả tốt hay không, cũng còn tuỳ thuộc vào sự cố gắng và lòng tự tin của cả học
sinh và giáo viên. Thực hiện sáng kiến này, chúng tôi cảm thấy rất nhiều lý thú. Vì
chính chúng tôi đã tìm ra được giải pháp tốt nhất mà từ trước đến giờ chúng tôi cho là
giáo dục học sinh cá biệt là một việc không thể làm được!
Năm học 2006 – 2007
Việc chỉ đạo Giáo viên dạy lớp trong công tác duy trì sĩ số và đảm bảo chuyên
cần đối với học sinh tiểu học
1. Nội dung vấn đề:
Việc duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần ở trường tiểu học đóng một vai trò rất
quan trọng trong việc học tập của học sinh. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến
thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt. Đa số các trường thuộc huyện
Phụng Hiệp thuộc vùng nông thôn sau, kinh tế chưa phát triển, người dân sống chủ yếu
bằng nghề nôn, kinh tế gặp khó khăn, số hộ nghèo nhiều, do mãi lo cho kinh tế gia đình
một số phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của các em. Nên việc các em nghỉ học,
bỏ học ảnh hưởng đến việc tiếp thu bài và kết quả học tập là điều không tránh khỏi.
Vì thế, qua nhiều năm bản thân luôn suy nghĩ và đặt cho mình câu hỏi: “ Làm
thể nào để duy trì sĩ số và đảm bảo chuyên cần? ”. Đây cũng là một vấn đề mà giáo viên
các trường tiểu học trăn trở nhiều năm trong công tác duy trì sĩ số và đảm bảo chuyên
cần của học sinh tiểu học nhằm giúp các em tiếp thu bài đầy đủ, có kết quả tốt trong học
càng được giáo viên chủ nhiệm lớp quan tâm chăm sóc hơn, sự dịu dàng, vừa cương
vừa nhu để làm cho các em yên tâm hơn và ham thích đến trường.
-Dù cuộc sống có khó khăn, nhưng đã là giáo viên để xứng đáng là người mẹ,
người cha của trẻ ở trường, giáo viên hết sức thương yêu chăm sóc các em, vừa dạy
vừa dỗ dành giáo dục các em. Trong hoàn cảnh nào giáo viên cũng không làm cho các
em sợ sệt, không ham thích đến lớp, giáo viên luôn luôn khuyên răn các em và giúp các
em hiểu được sự sâu sắc của việc đi học. Học sinh cấp tiểu học rất dễ nghe lời nên giáo
viên phải dùng lời lẻ dịu ngọt pha trò, an ủi giáo dục hơn là dùng hình phạt đánh mắng,
sĩ nhục các em. Giúp các em phân biệt được tầm quan trọng của việc đi học và hậu quả
của việc nghỉ học, bỏ học. Để từ đó, các em hình thành trong tâm trí mình sự ham thích
đến trường, say mê học tập và là một người có ích cho xã hội.
-Giáo viên nên thường xuyên trao dồi và nâng cao kiến thức về mọi mặt, dành
nhiều công sức và tâm huyết soạn và giảng dạy tốt. Đầu tư, sáng tạo nhiều phương pháp
giảng dạy sinh động nhằm cuốn hút lòng yêu thích học tập của các em, giúp các em
ngày càng có hứng thú tìm tòi kiến thức.
Giải pháp thứ nhất : Tạo môi trường giáo dục tốt
-Trong điều kiện giảng dạy của một trường Tiểu học. Giáo viên phải tùy hoàn
cảnh cụ thể, tạo khung cảnh giáo dục tốt làm cho học sinh ngồi trong lớp học thấy vui
tươi, thích thú không nặng nề, sợ sệt. giáo viên luôn lưu ý xem tài sản lớp học, chăm
sóc lớp như nhà của mình để cùng nhau trang trí, để học sinh tiểu tự cho chọn những
tranh vui tươi treo trên tường nhưng phải đảm bảo tính giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.
-Giờ ra chơi, giáo viên tổ chức vui chơi tập thể để tạo sự gắn bó thương yêu
trong học sinh và sự gần gủi thân mật giữa học sinh với giáo viên. Trong chương trình
giảng dạy giáo viên tổ chức những buổi vui học cuối tuần trong tiết sinh hoạt với hình
thức đố vui, ôn tập, hái hoa để chuẩn bị cho các kỳ khảo sát và kiểm tra học kỳ. Trong
những năm qua, bằng hình thức này đã ôn tập cho học sinh thi đạt kết quả cao, và các
em cũng vui thích tham gia tích cực cho phong trào của lớp sôi động trong các hoạt
động ngoại khóa như thi kể chuyện, thời trang, vẽ tranh, hát….Vì vậy cứ đến ngày cuối
tuần là các em rất buồn vì sắp phải xa không khí học tập, hứng thú ấy và mong gặp
nhau trong những tuần học tới.
phép, tôi chỉ chấp nhận nghỉ học với lý do chính đáng như : bệnh, tai nạn …
Giải pháp thứ ba: Phong trào cùng bạn học giỏi
-Các em học kém, yếu có tâm trạng sợ, không ham thích đến lớp, vì vậy việc
khắc phục tình trạng học yếu kém cũng là việc hạn chế tỷ lệ bỏ học của các em. Sau
khi kiểm tra chất lượng đầu năm nắm được tình hình học tập của từng em trong lớp
mình, giáo viên phân cụ thể cho những em học giỏi hỗ trợ các em yếu kém cùng tiến bộ
tạo thành một phong trào “đôi bạn học giỏi”.
-Khi phân công làm việc này, giáo viên phải liên hệ gia đình các em để nhờ sự
hỗ trợ, kiểm soát việc học tập của các em ở nhà, giáo viên cần lập phiếu theo dõi và đưa
ra những hướng dẫn , biện pháp để các em học tập ở nhà dưới sự quản lý của nhóm
trưởng. Hàng tháng đều phải đúc kết việc phong trào “Đôi bạn học giỏi” để động viên
khen thưởng các em. giáo viên khen thưởng mỗi em đạt yêu cầu là 2 quyển tập và cờ
luân lưu cho nhóm tốt để các em vui thích mà học tập.
Giải pháp thứ tư: Phong trào “Giúp bạn vượt khó ”
Trong lớp có một vài em học sinh vi hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, thiếu điều
kiện học tập, thiếu tình yêu thương của bố mẹ, làm cho các em buồn nản, tủi thân mà
không muốn đến lớp. Cụ thể, đầu năm giáo viên cần tìm hiểu số học sinh yếu kém, có
nguy cơ bỏ học thông qua việc bàn giao lớp của giáo viên chủ nhiệm lớp dưới để năm
danh sách nhằm giúp em vơi đi nỗi buồn bỏ tự ti, mặc cảm, hòa đồng với tập thể lớp.
Giáo viên cần phát động phong trào “Giúp bạn vượt khó ”, giáo viên giáo dục các em
làm việc này để giúp bạn có điều kiện học tập tiến bộ như: Mình thương bạn như
thương chính mình, kêu gọi các em tiết kiệm tiền, quà bánh hàng ngày đóng góp lại
mua tập, bút, áo quần, sách vở v v… để giúp các bạn vượt khó. Giáo viên cùng các
bạn trong lớp luôn an ủi, động viên em để em vui vẻ và thích đi học.
11
Bên cạnh đó, trong kỳ họp phụ huynh học sinh giáo viên nên động viên những
phụ huynh có điều kiện kinh tế gây quỹ phụ huynh học sinh giúp đỡ những học sinh
nghèo, bất hạnh để các em được đến trường. Đồng thời giáo viên nên đề bạt đến Ban
Giám Hiệu, Ban chấp hành Công đoàn, Chi Đoàn, Hội Khuyến học chăm lo : quần áo,
đồ dùng học tập, quà tết ,… cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc
b. Bài học kinh nghiệm :
Muốn duy trì sĩ số, giáo viên chủ nhiệm cần phải :
-Phải nhiệt tình, năng nổ, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải tiến
phương pháp giảng dạy lôi cuốn học sinh, được sự tin tưởng của phụ huynh học sinh
-Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương, tạo
những điều kiện , môi trường giáo dục tốt.
-Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp qua các phong
trào. Tạo cho các em động cơ ham học, trong việc uốn nắn các em, giáo viên chủ nhiệm
phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không nóng vội, không dùng lời lẽ nặng nề với các em,
hòa hợp với các em, xem học sinh là con đẻ của mình, chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe
ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp .
-Học sinh tiểu học là tuổi biết tự ái, giận hờn, thích đựơc động viên khen thưởng,
giáo viên không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt không ham thích
12
đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm học tập và xem giáo viên
chủ nhiệm là người mẹ hiền.
-Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự
gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên. Trong chương trình giảng dạy nên tổ
chức những buổi vui học, học vui dưới hình thức ôn tập.
Năm học 2007 – 2008
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
thiết bị dạy học của giáo viên trường Trung học cơ sở.
- Nội dung vấn đề:
Phương pháp dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học.
Khi đã xác định được mục đích, nội dung chương trình dạy học, thì phương pháp dạy
và học của thầy và trò sẽ quyết định chất lượng của quá trình dạy học.
Trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng thiết bị dạy học là
việc rất quan trọng không thể thiếu trong quá trình giảng dạy. Nó là một mắc xích gắn
bó chặt chẽ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, chương trình, sách giáo
dụng được những thiết bị phức tạp, thực hiện thành công những bài thực hành – thí
nghiệm. Sinh hoạt những chuyên đề có liên quan đến việc sử dụng thiết bị.
Biện pháp 2: Chỉ đạo tổ chức làm, bảo quản, sử dụng thiết bị dạy học. Tăng
cường dự giờ, kiểm tra đánh giá xác định kết quả và sơ kết rút ra bài học kinh
nghiệm để mở rộng đại trà.
Chỉ đạo các trường thành lập Ban chỉ đạo về việc quản lý giáo viên sử dụng thiết
bị dạy học. Các thành viên Ban chỉ đạo gồm Ban giám hiệu, các tổ trưởng chuyên môn,
giáo viên phụ trách công tác thư viện và thiết bị và một số giáo viên giỏi có kinh
nghiệm trong việc sử dụng thiết bị
Ban chỉ đạo lên kế hoạch kiểm tra sổ theo dõi sử dụng thiết bị giáo dục để có
đánh giá chính xác về việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên, đồng thời hiểu được
ý thức bảo quản thiết bị của giáo viên học sinh.
Hàng tháng tổ chức cho cán bộ phụ trách phòng thiết bị tuyên truyền, vận động
giáo viên, học sinh làm thêm ĐDDH, những đồ dùng dạy học được giáo viên, học sinh
làm có chất lượng được biểu dương trước trường và bổ sung vào phòng thiết bị cho
thêm phong phú. Tổ chức trưng bày, giới thiệu thiết bị mới. Cuối mỗi tháng có sơ kết
tình hình sử dụng thiết bị
Có kế hoạch dự giờ cụ thể đối với các tiết trên lớp, các tiết thực hành – thí
nghiệm theo qui định của phân phối chương trình. Khi dự giờ chú ý quan sát việc vận
dụng phương pháp của giáo viên.
Qua kiểm tra đánh giá, chọn giáo viên giỏi thực hành – thí nghiệm tổ chức dạy
thử nghiệm, và sơ kết rút ra bài học kinh nghiệm để mở rộng đại trà.
Biện pháp 3: Tổ chức các hội thi nhằm khuyến khích, động viên giáo viên-
học sinh làm và sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả.
Cùng với các hoạt động phong trào khác, ban thi đua phát động phong trào giáo
viên-học sinh làm thêm đồ dùng dạy học và sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả.
Hàng tháng các tổ chuyên môn báo cáo tình hình tổ làm thêm đồ dùng dạy học
về số lượng và chất lượng. Những đồ dùng dạy học có chất lượng sẽ được xét chọn theo
tổ để trao giải. Sau đó các tổ chọn đồ dùng dạy học có chất lượng nhất dự thi toàn
trường với nội dung thuyết trình về cách sử dụng và nêu hiệu quả của đồ dùng dạy học
động một cách thuận lợi, chuẩn bị để tiếp thu tri thức khoa học trong tương lai khi vào
trường phổ thông: trong chế độ sinh hoạt hằng ngày của trẻ, các giờ học tuy chiếm ít
thời gian nhưng lại là những hình thức để trẻ học và hoạt động trong tập thể một cách
hữu hiệu nhất
Hiệu trưởng trường Mẫu giáo, là người đứng đầu đơn vị cơ sở của ngành giáo
dục mầm non, là người có trách nhiệm chủ yếu có tính chất quyết định đến kết quả,
phấn đấu của nhà trường, vậy người hiệu trưởng phải thực hiện như thế nào? phải có
biện pháp ra sao để nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Mẫu giáo, chính vì lý do
trên mà tôi chọọn đề tài : Hiệu trưởng với việc nâng cao chất lượng dạy và học trong
trường Mầm non.
*Các giải pháp thực hiện:
Giải pháp 1: Hiệu trưởng trong việc xây dựng tổ chức chuyên mônChất lượng
dạy học ở nhà trường đạt kết quả hay không là do một phần lớn ở tổ chức chuyên môn.
Hiệu trưởng là người xây dựng tổ chuyên môn để cùng với mình thực hiện
nhiệm vụ năm học do đó việc xây dựng tổ chuyên môn tốt vững mạnh là người hiệu
trưởng không thể thiếu được trong việc chỉ đạo của mình. chọn tổ trưởng chuyên môn
của trường phải là một giáo viên giỏi, có uy tín, được mọi người tin yêu đặt niềm tin
vào tổ trưởng thì người này mới có hoạt động tốt công việc của mình, mới phát huy
được phong trào dạy và học của nhà trường ngày nâng cao.
Giải pháp 2: Hiệu trưởng mở các chuyên đề để nâng cao tay nghề nghiệp vụ
chuyên môn cho giáo viên
Đầu năm học sau khi dự giờ GV để nắm rõ chất lượng qua các môn học từ đó
Ban giám hiệu cùng với Tổ chuyện môn xác định chuyên đề sẽ tổ chức theo từng học
kỳ
Học kỳ I : -Mở chuyên đề soạn giáo án.
-Chuyên đề làm quen với chữ cái.
-Chuyên đề nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với văn học và chữ viết năm
thứ tư .
Học kỳ II : -Chuyên đề phương pháp trong giáo dục MN
-Chuyên đề giáo dục luật An toàn giao thông.
0%
Năm học 2009 – 2010
Tên sáng kiến kinh nghiệm :
Làm thế nào xây dựng tổ khối chuyên môn vững mạnh cấp tiểu học
I/- Nội dung vấn đề
1-Vị trí, tầm quan trọng của giáo viên và tổ khối chuyên môn ở tiểu học:
-Từ trước đến nay người giáo viên luôn giữ vai trò quyết định trong việc làm cho
mục tiêu giáo dục trở thành hiện thực, bảo đảm hiệu quả và chất lượng giáo dục. Đối
với giáo dục tiểu học điều này càng quan trọng khi tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học
đảm bảo quyền lợi cơ bản của trẻ là được học thành công.
-Người giáo viên có một chức năng cực kì quan trọng:đó là chức năng truyền đạt
thông tin, kiến thức. Trong bối cảnh cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ khối
lượng kiến thức con người ngày một gia tăng, các phương tiện thông tin đại chúng được
phát triển mạnh mẽ,người giáo viên cần biết tổ chức hướng dẫn để học sinh tự giác, chủ
động tìm tòi, phân tích lựa chọn tri thức thông tin để nâng cao hiểu biết.
Chính vì vậy người giáo viên tiểu học là người giáo viên tổng thể. Mặt khác
cũng có thể nói rằng người giáo viên tiểu học là người đại diện cho nhà trường tiểu học,
cho xã hội tổ chức quá trình phát triển của trẻ.
- Tập thể tổ chuyên môn là tổ hợp các cá thể trong môi trường giáo dục.
Tổ chuyên môn là tổ chức cơ sở của bộ máy chính quyền nhà trường trực tiếp
quản lí giáo viên về mặt tư tưởng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kế hoạch giáo dục
và giảng dạy, kết quả đào tạo học sinh.
Là nơi tổ chức thực hiện chương trình theo nội dung, phương pháp và biên chế
đã qui định; nơi triển khai toàn bộ các hoạt động giáo dục tới học sinh.
2 - Tình hình về tổ khối chuyên môn hiện nay:
- Hiện nay ở các trường tiểu học việc phân tổ khối rất rõ ràng. Mồi trường đề có
5 tổ khối chuyên môn từ khối 1 đến khối 5.
Thực tế ở nhiều trường hiện nay số thành viên trong mỗi tổ khối không đồng
đều: có tổ nhiều thành viên, có tổ ít thành viên do phụ thuộc vào số lượng học sinh của
trường đó.
tổ chuyên môn công tác chủ nhiệm.
2- Những tiêu chuẩn của một tập thể sư phạm vững mạnh.
- Đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau trong công tác và sinh hoạt, xây dựng được
không khí ấm cúng, dư luận lành mạnh trong tập thể.
- Nắm vững và thực hiện tốt, quan điểm giáo dục của Đảng, hết lòng vì học sinh
thân yêu.
- Có tổ chức chặt chẽ, ý thức tổ chức kỉ luật cao, nghiêm chỉnh chấp hành chính
sách của nhà nước, nội qui của nhà trường.
- Luôn có ý thức phấn đấu vươn lên, đảm bảo trình độ đồng đều và ngày càng
cao của đội ngũ phấn đấu trở thành những con người mới, những tấm gương sáng cho
học sinh noi theo.
3- Thực trạng của tổ khối chuyên môn.
- Các thành viên chưa thực sự tâm huyết với nghề.
- Chưa có ý thức cao trong việc xây dựng tập thể tổ vững mạnh.
- Ý thức phấn đấu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa tốt.
17
- Một số thành viên coi trọng hoạt động của tổ khối chuyên môn thể hiện ở hoạt
động sinh hoạt chuyên môn.
III/. Đề xuất một số biện pháp xây dựng tổ khối chuyên môn vững mạnh.
1 - Tìm hiểu, nắm chắc tình hình đội ngũ giáo viên về mọi mặt.
- Nắm hoàn cảnh toàn diện của giáo viên:
Lịch sử, quá trình đào tạo, khả năng công tác trình độ chuyên môn, hoàn cảnh
gia đình, sơ trường nguyện vọng
- Biện pháp tìm hiểu:
+ Xem hồ sơ công tác, lý lịch giáo viên.
+ Qua trao đổi trực tiếp, gián tiếp.
+ Qua lắng nghe và phân tích dư luận.
+ Qua chất lượng công việc.
2 - Sắp xếp phân công việc trong tổ
- Đây la khâu hết sức quan trọng trong công tác phân công việc hơ lí sẽ tạo đieưù
c - Những biện pháp:
- Toàn thể giáo viên tiểu học đều có nhiệm vụ tham gia học tập,nghiên cứu các
chuyên đề bồi dưỡng được ghi trong kế hoạch, chương trình bồi dưỡng thường xuyên.
18
- Coi bồi dưỡng là nhiệm vụ quan trọng, xây dựng tổ chuyên môn thành đơn vị
tự học, tự bồi dưỡng.
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng trong tổ chuyên môn.
4 - Coi trọng sinh hoạt tổ khối chuyên môn :
Đảm bảo 3 nội dung chính:
a - Rút kinh nghiệm:
- Thực hiện chương trình: Tiến độ, thuận lợi, khó khăn.
Việc dự giờ, thăm lớp, tổ chức chuyên đề đã thực hiện (lưu ý việc sử dụng đồ
dùng dạy học trong các tiết, đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học )
Ưu điểm, nhược điểm, hướng khắc phục.
b - Thống nhất soạn giảng:
- Soạn 9 môn học (trừ một số môn chuyên biệt).
- Thực hiện đổi mới phương pháp, sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học.
- Thông qua trọng tâm kiểm tra về kiến thức kỹ năng.
- Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong soạn giảng.
- Thông nhất bài khó trong tuần.
c - Bồi dưỡng chuyên môn:
- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo chuyên môn của các cấp, bàn biện pháp thực
hiện.
- Thảo luận các vấn đề nổi bật về chuyên môn.
5 - Xây dựng mối quan hệ tình bạn,tình đồng chí chân thành giữa các thành
viên trong tổ
- Tăng cường việc xây dựng các mối quan hệ giữa các thành viên trong tập thể từ
nhân cách của mỗi người: lòng yêu nước, yêu mến tôn trọng đồng nghiệp - học sinh,
quan tâm hợp tác giáo dục, lo lắng công việc chung của tổ, của trường, trách nhiệm với
xã hội, ý thức tổ chức, tôn trọng lãnh đạo.
kết quả học tập của học sinh được tiến hành sau từng giai đoạn học tập, nhằm thu nhận
thông tin cho giáo viên và các cấp quản lí để chỉ đạo, điều chỉnh quá trình dạy học;
thông báo cho gia đình nhằm mục đích phối hợp động viên, giúp đỡ học sinh. Nhưng
trong thực tế cho thấy năng lực đánh giá, phân tích các hạn chế của học sinh nơi người
giáo viên còn nhiều thiếu sót. Họ chỉ căn cứ vào những điểm sai nhất thời của học sinh
mà chỉnh sửa theo kiểu thời vụ, không chịu tìm hiểu kỹ vì đâu các em hay mắc phải sai
sót đó; cũng như vẫn rất chủ quan không chịu nhìn lại chính cách giảng dạy của mình
và hay đổ lỗi cho khách quan: gia đình không quan tâm, các em lười học, trí tuệ kém
phát triển …
Như vậy người giáo viên phải đánh giá thật chính xác học sinh của mình thông
qua các bài kiểm tra định kỳ và thường xuyên. Nhưng để đạt được sự đánh giá chính
xác, mỗi thầy cô giáo cần phải có năng lực ra đề kiểm tra, năng lực thống kê, năng lực
phân tích.
Để làm được điều này, thì điều đầu tiên Ban giám hiệu và giáo viên cần thực
hiện việc soạn đề kiểm tra định kỳ như thế nào? Để từ kết quả của những bài làm của
học sinh tiến đến kết quả cuối cùng của mục tiêu giáo dục cấp lớp học. Các giải pháp
nào để thực hiện tốt vấn đề được đặt ra là “Hiệu trưởng trong công tác chỉ đạo soạn đề
kiểm tra học kỳ cấp tiểu học”?
II- Giải quyết vấn đề:
Chuẩn kiến thức kỹ năng của từng giai đoạn để áp dụng vào việc soạn đề, một
số giáo viên còn nắm hời hợt.
Kỹ năng trình bày hình thức của một đề kiểm tra, giáo viên còn tùy tiện, chưa có
sự thống nhất.
Các kỹ năng lựa hình, chèn hình ở một số giáo viên chưa thật tốt, nhiều lúng
túng (nhất là ở khối 1).
Nguồn tư liệu, hình ảnh … còn thiếu, gây khó khăn cho giáo viên khi muốn thể
hiện kênh hình trong nội dung kiểm tra.
Khi người giáo viên soạn đề thì việc bảo mật đề thi rất dễ bị “rò rỉ” ra ngoài.
Người giáo viên có thể cho học sinh làm trước và khi kiểm tra sẽ có điểm đánh giá cao
nhưng là “điểm ảo”. Điều này, khó giúp cho Ban giám hiệu nhận định được mặt bằng
chặt chẽ. Qua kiểm định sẽ giúp giáo viên điều chỉnh về hình thức, nội dung đề kiểm tra
và đáp án. Công việc này đòi hỏi chúng ta cần kiên nhẫn, cẩn thận và bám sát những
nội dung đã tập huấn cho giáo viên.
Sau khi đã thành lập Ban thẩm định đề kiểm tra (bao gồm Hiệu trưởng, Phó Hiệu
trưởng, các khối trưởng, Chủ tịch Công đoàn, Ban Thanh tra nhân dân, giáo viên giỏi),
Ban thẩm định tiến hành tổ chức thẩm định và góp ý cho từng bộ đề với từng cá nhân
giáo viên với những cách thức sau đây:
2.1. Thẩm định lần thứ nhất:
Giáo viên soạn và in đề gởi về cho Ban thẩm định để thực hiện việc thẩm định.
Sau đó, cùng bàn bạc, thống nhất với Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn. Những
điều chỉnh, tư vấn cùng giáo viên được ghi nhận bằng bút đỏ lên trên đề kiểm tra và đáp
án. Sau đó, nhân sự trong Ban thẩm định cùng trao đổi với từng cá nhân GV (theo sự
phân công) và ghi nhận lại bằng biên bản.
Việc làm này có lợi là giúp GV thấy rõ các nội dung, hình thức cần điều chỉnh và
tránh được mất thời gian khi BGH trao đổi việc thẩm định với giáo viên.
Đồng thời, giúp GV thêm kỹ năng thành thạo hơn trong làm việc với vi tính và
các phần mềm thông dụng.
21
Tuy nhiên để làm tốt khâu thẩm định (lần I) thì chúng tôi đã phải chuẩn bị duyệt
trước đề và đáp án (tất nhiên phải mang về nhà thì mới đủ thời gian) …
Trong quá trình làm việc lần I, chúng tôi đã tiến hành theo lộ trình với từng khối
và từng giáo viên. Thời gian biểu làm việc lại đã được ghi nhận như sau:
2.2. Thẩm định lần thứ hai:
Giáo viên hoàn chỉnh đề và đáp án nộp lại cho Ban thẩm định và tiến hành thẩm
định đề lần II ( đối chiếu với bản chỉnh sửa lần I) và biên soạn lại cho hoàn chỉnh. Sau
khi hoàn chỉnh bộ đề, Ban thẩm định trình Hiệu trưởng quyết định cho sử dụng hay
không. Khi thẩm định đề lần thứ II, cần lập một biên bản với từng giáo viên, trong đó
có quy định: “Việc bảo mật đề thi đối với GV là phải nghiêm túc thực hiện. Nếu có sự
phản ánh nào từ việc làm lộ đề thi (cho học sinh làm trước học sinh) lớp đó sẽ làm lại
đề kiểm tra do BGH chỉ định và nhà trường có biện pháp xử lý theo quy định
4. Giải pháp thứu tư: Rút kinh nghiệm và đề ra giải pháp điều chỉnh
phương pháp dạy học:
Mục đích chính của việc GV ra đề kiểm tra là nhằm giúp từng GV tự điều chỉnh
phương pháp dạy học của minh. Do đó, sau khi có kết quả các bài kiểm tra, người GV
cần thống kê lại và đề ra giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy học của mình sao cho
hiệu quả hơn.
Chúng tôi đã yêu cầu GV phải thống kê chính xác và phân tích kỹ lưỡng các ưu
– khuyết điểm của HS khi làm bài, nhất là kiến thức mà đại trà các em mắc phải. GV
cần ghi nhận lại rõ ràng bằng văn bản và Phó Hiệu trưởng phụ trách khối sẽ căn cứ trên
thực tế bài thi để tư vấn thêm cho GV trong việc điều chỉnh PPDH, cũng như lắng nghe
ý kiến phản hồi của GV để điều chỉnh phương pháp quản lý của chính mình.
Sau khi hoàn tất mọi công đoạn, chúng tôi tải lên hộp thư tạm của nhà trường
các đề kiểm tra và đáp án nhằm giúp GV có tư liệu tham khảo, học tập và sau này dễ
dàng thực hiện trong việc soạn đề.
III- Kết quả và bài học kinh nghiệm:
1. Kết quả:
Qua quá trình thực hiện chỉ đạo GV ra đề thi và rút kinh nghiệm điều chỉnh
phương pháp giảng dạy, đã đạt được những kết quả sau:
GV nắm vững hơn về chuẩn kiến thức kỹ năng của cả một giai đoạn giảng dạy
của GV và học tập của học sinh. Các kỹ năng soạn đề thi được nâng cao lên rõ rệt.
Sau mỗi đợt kiểm tra định kỳ, chúng ta có rất nhiều bộ đề thi của các khối lớp
với chất lượng cao, có khả năng làm công cụ để đánh giá kiến thức của HS.
Quá trình triển khai và tổ chức các hoạt động kiểm tra đã nâng cao nhận thức của
GV trong việc khách quan đánh giá xếp loại học sinh.
Bước đầu điều chỉnh được phương pháp dạy học của GV và của BGH trong
quản lý dạy – học theo chiều hướng phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết
điểm.
Qua quá trình thực hiện, hiệu quả của công việc này đã đem lại niềm tin của GV
đối với BGH nhiều hơn vì chính sự tiến bộ của từng cá nhân GV, của việc giúp họ hiểu
thêm những tồn tại trong PPDH cần thay đổi đã đem lại cái nhìn cùng một hướng trong
Trong trường học, nhà trường phải năng động biết kết hợp hài hòa giữa các tổ
chức và biết phát huy thế mạnh của các tổ chức thì trước hết người Hiệu trưởng và Chủ
tịch Công đoàn thực sự là cầu nối để cho các hoạt động trong nhà trường được xuyên
suốt.
Hoạt động thi đua trong nhà trường là góp phần thể hiện tư tưởng, ý chí phấn đấu
của tập thể và của cá nhân cũng như khắc phục dần những tư tưởng tiêu cực, chậm tiến
đồng thời còn là điều kiện lý tưởng để phát huy tài năng hoạt động sư phạm của giáo
viên.
Còn vai trò của Công đoàn trong công tác thi đua là hết sức quan trọng vì ngoài
việc là người đại diện chăm lo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho cán bộ giáo viên
trong nhà trường. Còn là tiếng nói tập thể để tuyên truyền vận động và giáo dục cán bộ
nhân viên ( CBNV) đoàn viên tham gia quản lý và thực hiện tốt kế hoạch thi đua của
nhà trường trong năm học.
Bản thân người Hiệu trưởng phải biết xây dựng bầu không khí lành mạnh trong
hội đồng sư phạm đồng thời phải biết kết nối các bộ phận, các lực lượng trong và ngoài
nhà trường để đem lại hiệu quả thi đua và các phong trào quần chúng ngày càng có chất
lượng cao hơn.
Tổ chức Công đoàn có vai trò quan trọng trong nhà trường, tạo nên sức mạnh tổng
hợp giúp Hiệu trưởng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trong nhà trường. Công đoàn
trường học là tổ chức chính trị quần chúng là trung tâm của khối đoàn kết nhất trí, tập
hợp lực lượng của toàn cơ quan tham gia quản lý mọi hoạt động trong nhà trường phát
huy tinh thần tập thể tự chủ sáng tạo trong công tác chuyên môn để hoàn thành vượt
mức các chỉ tiêu nhiệm vụ mà Hội nghị CBCC đã ký kết giữa nhà trường và Công đoàn
.
Xuất phát từ yêu cầu trên và căn cứ yêu cầu thực tế hiện nay của trường học hiện
nay việc kết hợp giữa chính quyền cùng cấp với tổ chức công đoàn là việc mag người
Hiệu trưởng cần phải làm trong gia đoạn hiện nay, nên “Hiệu trưởng phối hợp với
24
Công đoàn cơ sở để tổ chức thi đua thực hiện kế hoạch năm học và phong trào quần
chúng trong nhà trường” là việc cần thiết nhằm phối hợp cùng hành động hoặc cùng hỗ
nhất các biện pháp thực hiện có khả thi. Trong đó đã cụ thể hóa trách nhiệm của mỗi
bên về thực hiện các nội dung như sau:
-Danh hiệu thi đua cả năm học của từng cá nhân và tập thể nhà trường
-Các phong trào trong nhà trường: Xuyên suốt trong năm học là phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “xây dừng trường học sáng, xanh, sạch,
đẹp và an toàn”; Hội diễn văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; Hội thi
Vệ sinh môi trường; …
Các danh hiệu thi đua và phong trào quần chúng nêu trên đã được Ban chấp hành
Công đoàn và Hiệu trưởng xác định đúng đắn trách nhiệm của mỗi bên và cùng mục
đích là đạt hiệu quả cao nhất.
25