Tiểu luận chủ nghĩa Mác LêNin. Đề 2 - Pdf 28

Tiểu luận triết học
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
2
Phần I- Các phép biện chứng trớc triết học Mác
3
1. Phép biện chứng tự phát ngây thơ thời cổ đại
3
1.1 Triết học Trung hoa cổ đại
3
1.2 Triết học ấn Độ cổ đại
5
1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại
6
2. Phép biện chứng Tây Âu thế kỷ XIV - XVIII
9
3. Phép biện chứng cổ điển Đức
10
Phần II. Phép biện chứng duy vật hay phép biện chứng Mác xit 11
1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của phép duy vật biện
chứng
11
2. Nội dung chính của phép biện chứng duy vật
12
Phần III. Phép biện chứng duy vật trong sự vận động và phát triển của
nền kinh tế nớc ta hiện nay
13
Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
1

nặng tính trực quan đợc hình thành trên cơ sở quan sát tự nhiên, xã hội hoặc
thông qua kinh nghiệm của bản thân. Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy
giờ là: Triết học Trung Hoa cổ đại, triết học ấn Độ cổ đại và triết học Hy Lạp
cổ đại. Bên cạnh những đặc điểm chung, do đặc điểm văn hoá cũng nh hoàn
cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện t tởng biện chứng trong học thuyết triết
học mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau.
1.1 Triết học Trung Hoa cổ đại
Triết học Trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại, có tới 103
trờng phái triết học. Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Hoa lúc đó là xã
hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đồi nên triết học Trung
hoa cổ đại tập trung vào giải quyết các vấn đề về chính trị - xã hội. Những t t-
ởng biện chứng thời này chỉ thể hiện khi các nhà triết học kiến giải những vấn
đề về vũ trụ quan.
Một trong những học thuyết triết học mang t tởng biện chứng sâu sắc là
Học thuyết Âm - Dơng. Đây là một học thuyết triết học đợc phát triển trên cơ
sở một bộ sách có tên là Kinh Dịch. Một trong những nguyên lý triết học cơ
bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối,
mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tơng đồng. Trái lại tất
cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập - đó là Âm và Dơng. Âm -
Dơng không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm nhau, liên hệ tơng tác lẫn
nhau, chế ớc lẫn nhau. Kinh dịch viết: "Cơng nhu tơng thôi nhi sinh biến hoá",
"Sinh sinh chi vi dịch". Sự tơng tác lẫn nhau giữa Âm và Dơng, các mặt đối
lập, làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng. Đây là quan điểm thể hiện t tởng
biện chứng sâu sắc. Học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến
dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất
nh: Thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lỡng nghi (âm - dơng), sau đó âm
3
Tiểu luận triết học
- dơng lại tiến hành phân thành tứ tợng (thái âm - thiếu âm, thái dơng - thiếu d-
ơng), tứ tợng lại sinh ra bát quái, và từ đó bát quái sinh ra vạn vật.

Sắc bao gồm 4 đại (đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong). Chính nhờ t tởng
nêu trên mà Phật giáo đợc coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại thứ tôn
giáo thần học đơng thời. Đồng thời Phật giáo đa ra t tởng "nhất thiết duy tâm
tao", "vô thờng", "vô ngã". "Vô ngã" nghĩa là "không có cái ta, cái tôi bất
biến", theo đó không có cái gì là trờng tồn là bất biến, là vĩnh hằng, không có
cái gì tồn tại biệt lập. Đây là t tởng biện chứng chống lại đạo Bàlamôn về sự
tồn tại của cái tôi - átman bất biến. "Vô thờng" tức là biến, biến ở đây đợc hiểu
nh là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ: Sinh - Trụ - Dị - Diệt (đối với sinh
vật); Thành - Trụ - Hoại - Không (con ngời). Phật giáo cũng cho rằng sự tơng
tác của hai mặt đối lập Nhân và Duyên chính là động lực cho làm cho thế giới
vận động chứ không phải là một thế lực siêu nhiên nào đó nằm ngoài con ngời,
thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói cách khác một vật tồn tại đợc là
nhờ hội đủ Nhân, Duyên.
1.3 Triết học Hy Lạp cổ đại
Mặc dù hãy còn nhiều tính "cắt khúc", nhng triết học Hy Lạp cổ đại đã có
những phát hiện mới đối với phép biện chứng. Chính trong thời kỳ này thuật
ngữ "biện chứng" đã hình thành. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế
thời kỳ chiếm hữu nô lệ, Hy Lạp cổ đại đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn về
văn hoá, nghệ thuật, mà trớc hết là các thành tựu trong khoa học tự nhiên nh:
Thiên văn học, vật lý học, toán học đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của
triết học trong thời kỳ này. Triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển hết sức rực
rỡ, trở thành nền tảng cho sự phát triển của triết học phơng Tây sau này.
Một trong những nhà triết học điển hình có t tởng biện chứng là Heraclit
(540 - 480 TCN). Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác - Lênin thì
Heraclit là ngời sáng lập ra phép biện chứng. Ông cũng là ngời đầu tiên xây
dựng phép biện chứng dựa trên lập trờng duy vật.
Phép biện chứng của Heraclit cha đợc trình bày dới dạng một hệ thống các
luận điểm khoa học mà hầu nh các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đợc
đề cập dới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. T tởng biện
chứng của Heraclit đợc thể hiện nh sau:

Heraclit sau này đã đợc các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà
sáng lập triết học Macxít đánh giá cao. C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh gía một
cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit và coi ông là đại biểu xuất sắc nhất
6
Tiểu luận triết học
của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại: "Quan niệm về thế giới một cách nguyên
thuỷ, ngây thơ nhng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà Hy Lạp thời
cổ và ngời đầu tiên diễn đạt đợc rõ ràng quan niệm ấy là Heraclit".
(
1
)

Trong học thuyết về nguyên tử của mình, Đêmôcrit (460 - 370 TCN) đã kế
thừa quan điểm của Heraclit về vận động. Ông cho rằng vận động của nguyên
tử là vĩnh cửu và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên
tử là ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân. Ông cho rằng còn khoảng trống
hay còn "chân không" trong nguyên tử là điều kiện vận động của nó. Tuy
nhiên Đêmôcrit đã không lý giải đợc nguồn gốc của vận động.
Sau Đêmôcrit là Arixtốt (384 - 322 TCN) ông cho rằngvận động gắn liền
với các vật thể với mọi sự vật, hiện tợng của giới tự nhiên. Ông cũng khẳng
định vận động là không thể bị tiêu diệt "Đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận
động". Arixtốt là ngời đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành
6 dạng: Phát sinh, tiêu diệt, thay đổi trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí .
Tuy nhiên Arixtốt lại dơi vào duy tâm vì cho rằng thần thánh là nguồn gốc
của mọi vận động.
Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhng chủ yếu mới
dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự phát
thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động, liên hệ
của các mặt đối lập, song cha đi sâu vào chi tiết của bức tranh. Vì vậy, nó
không tránh khỏi bị phủ định bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại.

rời và bất biến. Từ khi Ph.Bêcơn và Lốccơ đem phơng pháp trong khoa học tự
nhiên áp dụng vào triết học thì phơng pháp siêu hình trở thành phơng pháp
thống trị trong triết học.
Phơng pháp siêu hình đó đóng một vai trò tích cực nhất định trong quá
trình nhận thức giới tự nhiên, phơng pháp đó chỉ thích ứng với trình độ su tập,
mô tả giới tự nhiên. Do đó khi khoa học chuyển sang nghiên cứu các quá trình
phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tợng thì nó bộc lộ rõ những hạn chế. Vì
vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng của triết học cổ điển
Đức với đỉnh cao là phép biện chứng Hêghen.
3. Phép biện chứng cổ điển Đức
Nh Lênin đã từng đánh giá: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhng phép biện
chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học
8
Tiểu luận triết học
và lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trớc C. Mác thì triết học cổ điển
Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tợng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt
chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác.
Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy
tàn ở triết học Phoiơbắc.
Kantơ (1724 - 1804) là ngời sáng lập ra trờng phái triết học cổ điển Đức.
Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ lý tính thì mới có mâu thuẫn mà cha
thấy đợc rằng mâu thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan. Mâu thuẫn cha
phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề, cha có sự thống nhất
và chuyển hoá lẫn nhau. Mặc dù còn nhiều hạn chế nhng trong vấn đề này
Kantơ đã tiến gần đến phép biện chứng.
Hêghen (1770 -1831) là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện chứng của ông là
một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của ông có ảnh
hởng rất mạnh đến t tởng của nớc Đức và cả Châu Âu đơng thời, triết học của
ông đợc gọi là "tinh thần Phổ". Phép biện chứng của Hêghen là phép biện
chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các

lên. Quá trình phát triển của lịch sử có tính kế thừa. Lịch sử là tính thống nhất
giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động của con ngời. Hêghen đã có
công xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện chứng nh
là những công cụ của t duy biện chứng.
Trong khi hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng những t tởng biện
chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể
hiện ở: Sự vận động của xã hội là do sự vận động của t duy (ý niệm tuyệt đối)
sinh ra. Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: "Phép biện
chứng đi lộn đầu xuống đất". Vì vậy, cần phải đặt nó đứng bằng hai chân trên
mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên quan điểm duy vật.
II. Phép biện chứng duy vật hay phép biện chứng Mác - xit
1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời của phép biện
chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật ra đời trong điều kiện phơng thức sản xuất t bản
chủ nghĩa đang phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và t sản đã cung
cấp thực tiễn cho C.Mác và Ph.Ănghen để đúc kết và kiểm nghiệm lý luận về
phép biện chứng. Dựa trên cơ sở thành tựu khoa học tự nhiên (cuối thế kỷ
XVIII, đầu thế kỷ XIX) đi vào hệ thống hoá tài liệu khoa học thực nghiệm.
Đây là hai tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng
duy vật.
Tiền đề lý luận của phép biện chứng duy vật chính là phép biện chứng duy
tâm của Hêghen. Các ông đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn có của nó là phép
biện chứng và vứt bỏ cách giải thích hiện tợng tự nhiên xã hội và t duy một
cách thần thánh hoá t duy, nói cách khác các ông đã cải tạo một cách duy vật
phép biện chứng duy tâm Hêghen.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép
biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết học trớc đây duy vật nhng siêu
10
Tiểu luận triết học
hình (Triết học cận đại) hoặc biện chứng nhng duy tâm (cổ điển Đức). Phép

Những nội dung chính của phép biện chứng đợc C.Mác và Ph.Ănghen luận
chứng trong tác phẩm: "Biện chứng của tự nhiên" (1873 - 1883),
"Chống Đuy -rinh" (1876 -1878), "Lút-vich Phoiơ Bắc và sự cáo chung của
triết học cổ điển Đức" và một số tác phẩm do V.I.Lênin viết nh: "Chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán" (1908 -1909), "Bút ký triết học".
Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác - xít là kết quả của sự chín muồi về
mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó
đáp ứng nhu cầu về mặt lý luận của giai cấp công nhân. Giai đoạn mới trong
sự phát triển của phép biện chứng gắn với tên tuổi của V.I.Lênin đã vận dụng
thành công phép biện chứng Mác-xít trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
tháng Mời Nga năm 1917. Sự phát triển của V.I.Lênin về phép biện chứng duy
vật thể hiện trong lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa nh là một công cụ sắc
bén để cải tạo thế giới một cách cách mạng nhất.
Iii. phép biện chứng duy vật trong sự vận động và phát triển của nền kinh tế nớc ta hiện
nay.
Phép biện chứng là một phơng pháp nghiên cứu xem xét các sự vật hiện t-
ợng trong mối liên hệ giữa các mặt và giữa các sự vật hiện tợng đó và trong sự
đứng im tơng đối.
Việt Nam quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) bỏ qua sự phát triển của
CNTB, xuất phát từ một nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển. Đó là con đờng
quá độ lâu dài, mà có thể nói mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ này là mâu thuẫn
giữa xu hớng tự phát lên chủ nghĩa t bản với xu hớng tự giác lên chủ nghĩa xã
hội. Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn cơ bản trên đây của cách mạng
nớc ta là quá trình vừa phải kế thừa những mặt cần thiết hợp lý của chủ nghĩa
t bản để phát triển lực lợng sản xuất lại vừa phải đấu tranh loại bỏ những mặt
tiêu cực, mất nhân tính của chủ nghĩa t bản. Con đờng quá độ lên CNXH ở nớc
ta đòi hỏi phải chủ động và tự giác phát triển và sử dụng CNTB làm khâu trung
gian, làm phơng tiện để đi lên CNXH, nhất là hớng t bản đi vào con đờng t bản
Nhà nớc. Đó chính là sự thống nhất của các mặt đối lập thông qua các biện
pháp trung gian và quá độ.

cụ của mình để tiến hành điều tiết lợi ích giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo
mọi thành viên trong xã hội đợc hởng thành quả trong phát triển kinh tế. Nhà
nớc có thể sử dụng các công cụ nh thuế thu nhập cao, trợ cấp, bảo hiểm để
tiến hành phân phối lại thu nhập xã hội; xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế
đi liền với xây dựng kế hoạch phát triển xã hội. Đây chính là công cụ, phơng
1
)
Văn kiện Đại hội lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 1997, tr25
13
Tiểu luận triết học
tiện quan trọng để tác động giải quyết mâu thuẫn trên làm cho nền kinh tế Việt
Nam phát triển theo định hớng XHCN.
Kết luận
Bằng việc trình bày lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học,
có thể khẳng định: Xuyên suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ hình thành và
phát triển từ phép biện chứng tự phát, thô sơ cổ đại cho đến phép biện
chứng duy tâm Hêghen của triết học cổ điển Đức và đạt đến đỉnh cao là
phép biện chứng duy vật mác - xít thì phép biện chứng luôn là công cụ sắc
bén, là chìa khoá giúp con ngời nhận thức và cải tạo thế giới để phục vụ
nhu cầu chính bản thân con ngời.
14
Tiểu luận triết học
Hiện nay, đất nớc ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành
công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thì việc nghiên cứu phép biện chứng một cách
có hệ thống, nhất là việc nắm vững các nguyên tắc và vận dụng những nguyên
tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật là một yêu cầu bức thiết để đổi mới t
duy, là định hớng t tởng và mang lại cho chúng ta công cụ t duy sắc bén để
đấu tranh chống lại t duy siêu hình, bảo thủ lạc hậu và thực hiện thắng lợi mục
tiêu XHCN của cách mạng nớc ta.
Phép biện chứng là một phát hiện lớn của nhân loại trong quá trình nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status