Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần sách và thiết bị giáo dục Miền Bắc - Pdf 28

1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI
SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Khái niệm tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.1.
Tài sản ngắn hạn là giá trị của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp
huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh, là điều kiện tiên quyết doanh nghiệp phải
có để thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình. Do đó, đặt ra vấn đề là phải
làm rõ thế nào là tài sản ngắn hạn. Hiện nay, có nhiều tác giả khác nhau đưa ra khái
niệm về TSNH như:
PGS.TS.Trần Ngọc Thơ, Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại,
Nhà xuất bản thống kê, năm 2009: “Tài sản ngắn hạn hay còn gọi là tài sản lưu động
là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ
dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải
thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có
tính thanh khoản khác”.
PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Đại
học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển thường là dưới
một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm: vốn bằng tiền, đầu
tư ngắn hạn, các khoản phải thu, vật tư hàng hóa tồn kho, tạm ứng,…”
PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, Nhà xuất
bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011: “Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời
gian thu hồi vốn ngắn, trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá
trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khau.”
Như vậy, có khá nhiều khái niệm của các tác giả khác nhau được đưa ra định
nghĩa về tài sản ngắn hạn, mặc dù ngôn từ thể hiện có thể khác nhau song ta có thể
hiểu: Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà
thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển ngắn thƣờng dƣới 1 năm, tài sản ngắn

tại dưới nhiều hình thái từ tiền, nguyên vật liệu đầu vào cho tới thành phẩm, hàng hóa
và các khoản phải thu. Do vậy mà tài sản ngắn hạn luôn xuất hiện trong các công đoạn
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh
lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh
toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.
Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.3.
Là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Hoạt
động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể thiếu tài sản ngắn hạn. Do tài sản
ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản và ảnh hưởng tới quá trình sản xuất
kinh doanh, tồn tại dưới các hình thái như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho… là
những khoản mục luôn tồn tại trong cơ cấu kế toán. Do vậy, dù đó là doanh nghiệp sản
3
xuất hay doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực thương mại dịch vụ thì tài sản ngắn hạn
luôn đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp.
Là điều kiện để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Để
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài tài sản dài hạn như máy móc, nhà
xưởng, doanh nghiệp còn phải có tài sản ngắn hạn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh
doanh. Tài sản ngắn hạn là điều kiện để doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh. Do đó, tài sản ngắn hạn là yêu cầu không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp.
Đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra
một cách thƣờng xuyên. Tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt,
đảm bảo quy trình, công đoạn sản xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự
trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ ổn định và thuận
lợi, dễ dàng.
Là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tƣ. Tài sản
ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản phải
thu, là những khoản mục liên quan đến việc mua bán nguyên vật liệu, cung cấp hàng
hóa, là những chỉ tiêu thể hiện quá trình vận động của vật tư, cũng tức là phản ánh và
kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.4.

trong doanh nghiệp, chính vì vậy doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lý, không quá
nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán nhưng cũng không quá lớn dẫn đến lãng phí, ứ
đọng vốn của doanh nghiệp.
Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn:
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các
khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản vừa
có tính thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền
không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này.
Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả
nhất. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền
mặt, vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả
năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt
một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do đó trong tài chính người ta sử dụng chứng
khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn.
Các khoản phải thu (tín dụng thƣơng mại):
Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu. Các
doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán mà nhận
sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành nên các khoản phải thu
của doanh nghiệp.
Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng thương
mại. Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở
nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
5
Hàng tồn kho:
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh
thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá
trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Hàng hoá tồn kho có ba loại: Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất,
kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp không thể tiến hành

6
rất quan trọng, đó là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Từ các đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn theo lượng và chất nói trên,
ta có thể hiểu: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt đƣợc cao nhất với
mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra. Nghĩa là phải làm sao có đƣợc nhiều lợi
nhuận từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh 1.2.2.
nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề
sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Quá trình hoạt động kinh doanh
của một doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Đặc biệt, tài
sản ngắn hạn là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử
dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường. Cụ thể, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có các vai trò quan
trọng sau:
Giúp gia tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Vì
tài sản ngắn hạn được hình thành từ vốn lưu động nên có thể luân chuyển trong thời
gian ngắn và bổ sung cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Nên nếu nâng cao được
hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thì có thể tăng tốc độ luân chuyển vốn, dẫn tới tài
trợ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giúp gia tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn tồn tại
dưới nhiều hình thái khác nhau, trong đó hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu
tài sản ngắn hạn. Nếu nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thì lượng hàng tồn
kho có khả năng được bán ra nhiều hơn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ được
cải thiện.
Giúp gia tăng khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Ngoài hàng tồn kho, tài
sản ngắn hạn còn thể hiện dưới hình thái các khoản phải thu, đem lại khả năng thu hồi
vốn và các khoản nợ từ khách hàng, giúp tăng lượng tiền và đảm bảo vốn cũng như
nguyên vật liệu cho các chu kỳ kinh doanh. Do vậy, khi hiệu quả sử dụng tài sản ngắn

cần được quản lý chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến dư thừa và làm tăng chi phí cho
doanh nghiệp. Ngược lại, nếu quy mô tài sản ngắn hạn giảm khiến cho doanh nghiệp
không đủ nguyên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm… sẽ làm giảm vòng quay cũng như
khả năng luân chuyển tài sản ngắn hạn, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn
hạn trong doanh nghiệp.
Cơ cấu tài sản ngắn hạn: Thể hiện tỷ trọng tương đối qua từng năm của từng
khoản mục tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ngắn hạn như: Tiền và các khoản tương
đương tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Nếu tỷ
trọng các khoản mục trong tài sản ngắn hạn tăng qua từng năm, thể hiện khả năng phát
triển và thuận lợi trong doanh nghiệp. Nhưng cần phải duy trì tỷ trọng để có cơ cấu tài
sản ngắn hạn hợp lý, vì nếu quá chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, dẫn tới tăng quá
nhiều nguyên vật liệu và hàng tồn kho sẽ làm tăng chi phí. Nếu có sự biến động bất lợi
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, vốn lưu động sẽ không luân chuyển được, tài sản
ngắn hạn không chuyển được thành tiền, dẫn tới ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
Thang Long University Library
8
và mang lại rủi ro cho doanh nghiệp, thậm chí phá sản. Ngược lại, nếu không duy trì
cơ cấu nguyên vật liệu và các yêu cầu thiết yếu cho quá trình sản xuất một cách hợp lý,
cũng sẽ làm ảnh hưởng tới doanh nghiệp và có thể dẫn tới phá sản. Điều đó cho thấy
doanh nghiệp sử dụng không hiệu quả tài sản ngắn hạn.
Nhu cầu về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là khác nhau. Cơ cấu tài sản ngắn
hạn trong tổng tài sản phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ như đối với doanh
nghiệp thương mại thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản dài hạn
nhưng trong một doanh nghiệp sản xuất thì điều này ngược lại. Cơ cấu tài sản ngắn
hạn còn cho biết tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, về khả năng thanh toán
và các rủi ro tài chính của doanh nghiệp.
Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn 1.2.3.2.
(1) Chính sách quản lý tiền mặt:
Tiền mặt của công ty bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền trên tài khoản của ngân
hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền

(M*) như sau:
M* =
i
xCxM
bn
2

Trong đó:
 M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
 M : Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
 Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
 i : Lãi suất.
(Nguồn: PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại
học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011)
Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ số
dư bình quân tiền mặt thấp hơn và do đó làm cho doanh số bán chứng khoán nhỏ hơn
nhưng với tần suất bán nhiều hơn (nghĩa là M* thấp hơn). Nếu giá phải trả cho mỗi lần
bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên nắm giữ một số tiền mặt lớn hơn.
Mô hình Baumol giúp chúng ta hiểu được tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ
lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể. Trong khi đối với các công ty lớn, các chi phí giao
dịch mua bán chứng khoán lại trở nên quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi do giữ một số
lượng tiền mặt nhàn rỗi.
Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr
Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi mà
lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được, từ đó tác động
đến mức dự trữ cũng không thể đều đặn như tính toán. Bằng việc nghiên cứu và phân
tích thực tiễn, Miller Orr đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một
khoảng tức là lượng tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng tức là lượng tiền dự
trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất. Nếu lượng tiền mặt ở dưới
mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến,

theo thiết kế
=
Mức tiền mặt
giới hạn dưới
+
Khoảng dao động tiền mặt
3
Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng
mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu.
Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế cửa
một quỹ trước đó để tính toán.
Xác định lƣợng tiền mặt cần thiết dựa vào kinh nghiệm
Phương pháp này dựa vào số liệu thống kê của các năm trước để xây dựng kế
hoạch tài chính cho từng giai đoạn trong mỗi niên độ sản xuất kinh doanh của doanh
11
nghiệp. Thông thường, người ta sử dụng tỷ lệ % doanh số bán trong một giai đoạn để
xác định lượng tiền cần thiết. Nếu doanh số bán tăng thì lượng tiền cần thiết tương ứng
giảm với một tỷ lệ % doanh số nhất định do giảm chi phí bán hàng và chi phí sản xuất.
Phương pháp này thường áp dụng trong điều kiện tình hình sản xuất kinh doanh tương
đối ổn định hoặc mang tính chu kỳ. Như vậy, nếu quản lý tốt tiền mặt sẽ giúp đảm bảo
khả năng thanh toán, đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời, tránh lãng phí vốn, từ đó
góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
(2) Chính sách quản lý các khoản phải thu:
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay, để thắng lợi trong cạnh
tranh, chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối
với các doanh nghiệp. Tín dụng thương mại như con dao 2 lưỡi, có thể đem đến cho
doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh. Do
vậy, nếu quản lý tốt chính sách bán chịu, doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi vốn
lưu động để phục vụ các chu kỳ kinh doanh tiếp theo, làm tăng hiệu quả sử dụng tài
sản ngắn hạn. Ngược lại, nếu không nhanh chóng thu hồi được các khoản phải thu, sẽ

khách hàng trong hiện tại và tương lai.
Phân tích các khoản tín dụng đƣợc đề nghị: Sau khi phân tích năng lực tín
dụng của khách hàng, doanh nghiệp tiến hành việc phân tích đánh giá các khoản tín
dụng thương mại được đề nghị. Việc đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề
nghị để quyết định có nên cấp hay không được dựa vào việc tính NPV của luồng tiền.
 
 
 
R1
P'.Q'.r-1
C.P'.Q'Q'-QV.P.Q-NPV



Trong đó:
 NPV: Giá trị hiện tại ròng của việc chuyển từ chính sách bán trả ngay sang
chính sách bán chịu.
 Q, P: Sản lượng hàng bán được trong một tháng và giá bán đơn vị nếu khách
hàng trả tiền ngay.
 Q’, P’: Sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán chịu.
 C: Chi phí cho việc đòi nợ và tài trợ bù đắp cho khoản phải thu.
 V: Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm.
 R: Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng.
 r: Tỷ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền.
(Nguồn: PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại
học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011)
Nếu NPV > 0: doanh nghiệp sẽ cấp tín dụng thương mại cho khách hàng
Nếu NPV < 0: doanh nghiệp sẽ không cấp tín dụng thương mại cho khách hàng
Nếu NPV = 0: doanh nghiệp sẽ xem xét kèm theo các điều kiện khác rồi sẽ quyết
định có nên cấp tín dụng thương mại hay không.

hóa, chi phí do giảm giá trị hàng hóa, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản…
Chi phí tài chính: bao gồm chi phí sử dụng vốn, trả tiền lãi vay cho nguồn kinh
phí vay mượn để mua hàng dự trữ, chi phí về thuế, khấu hao…
Chi phí đặt hàng: Bao gồm chi phí quản lý, giao dịch và vận chuyển hàng hóa.
Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường rất ổn định, không phụ thuộc vào số
lượng hàng cần mua. Trong nhiều trường hợp, chi phí đặt hàng thường tỷ lệ thuận với
số lần đặt hàng trong năm.
Thang Long University Library
14
Chi phí cơ hội: Nếu một doanh nghiệp không thực hiện được đơn đặt hàng khi
có nhu cầu, sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và có thể không kịp thời hạn giao
hàng cho khách hàng. Sự thiệt hại do để lỡ cơ hội này được gọi là chi phí cơ hội.
Chi phí khác: Các chi phí khác thuộc quản lý hàng tồn kho bao gồm chi phí
thành lập kho (chi phí lắp đặt thiết bị kho và các chi phí hoạt động), chi phí trả lương
làm thêm giờ,…
Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Mô hình EOQ (Economic Odering Quantity) là một mô hình quản trị tồn kho
mang tính định lượng, có thể sử dụng mô hình để tìm mức tồn kho tối ưu cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên khi sử dụng mô hình EOQ doanh nghiệp cần phải tuân theo một số
quy tắc sau:
 Nhu cầu trong một năm được biết trước và ổn định
 Thời gian chờ hàng không thay đổi và phải được biết trước
 Sự thiếu hụt dữ trữ hoàn toàn không xảy ra nếu đơn hàng được thực hiện
 Toàn bộ số hàng đặt mua được về cùng một lúc
 Không có chiết khấu theo số lượng
Mục tiêu chính của mô hình là dùng để tối thiểu hóa chi phí đặt hàng và chi phí
bảo quản hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
Ta có thể miêu tả mối quan hệ của hai loại chi phí trên bằng mô hinh.
Hình 1.2. Mô hình EOQ


Để khắc phục sự thiệt hại trong những trường hợp như vậy, hầu hết các doanh nghiệp
sử dụng cách thức bổ sung một lượng hàng tồn kho an toàn để sẵn sàng đáp ứng trước
những biến động bất thường đó.
Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc là một phần của quá trình quản lý sản
xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại
bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí. Hệ thống cung ứng đúng thời
điểm được dựa trên những ý tưởng cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được
cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác
cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua
tồn kho.
Mô hình tồn kho bằng 0 tỏ ra có hiệu quả nhất đối với những doanh nghiệp có
hoạt động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại. Một phần quan trọng của phương pháp
cung cấp đúng thời điểm là thay thế việc sản xuất từng lô hàng với một số lượng lớn
sản phẩm bằng cách sản xuất theo một dòng liên tục các sản phẩm được sản xuất ra
với số lượng nhỏ. Việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ giữa
nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung
ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà sản xuất vì phải gánh chịu các chi phí phát sinh
do ngừng sản xuất hay mất doanh số bán hàng.
Xác định thời điểm đặt hàng mới: Về mặt lý thuyết doanh nghiệp chỉ đặt hàng
mới khi đã sử dụng hết số hàng cũ từ kỳ trước nhưng thực tế thì không phải như vậy.
Sẽ xảy ra rủi ro nếu khi số hàng mới chưa kịp về kho mà số hàng cũ của doanh nghiệp
đã hoàn toàn cạn kiệt, điều đó gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp.
Thang Long University Library
16
Xác định thời điểm đặt hàng mới: Về mặt lý thuyết doanh nghiệp chỉ đặt hàng
mới khi đã sử dụng hết số hàng cũ từ kỳ trước nhưng thực tế thì không phải như vậy.
Sẽ xảy ra rủi ro khi số hàng mới chưa kịp về kho mà số hàng cũ của doanh nghiệp đã
hoàn toàn cạn kiệt, điều đó gây ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Do vậy, các doanh nghiệp thường xác định thời điểm đặt hàng mới theo công thức:

Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số này cho ta biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao
nhiêu đồng tài sản ngắn hạn nhưng không bao gồm hàng tồn kho. Chính ví lý do đó
mà hàng tồn kho không được tính vào hệ số này bởi hàng tồn kho của doanh nghiệp ít
Tài sản ngắn hạn
Tổng số nợ ngắn hạn
17
nhất phải qua quá trình tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền, chưa nói là không tiêu
thụ được, hàng ứ đọng, vì vậy tính thanh khoản của nó thấp.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh có trị số cao, thường lớn hơn hoặc bằng 1, cho
thấy doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không
nhất thiết phải bán lượng hàng tồn kho, cho thấy doanh nghiệp đang dự trữ tiền mặt,
các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn lớn, có khả năng bù đắp rủi ro
từ nguồn nợ phát sinh, từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Khi trị số của
chỉ tiêu này < 1, doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán nhanh, cho thấy tài
sản ngắn hạn cho khả năng sinh lời thấp, thu nhập giảm, rủi ro đang tồn tại trong
doanh nghiệp lớn hơn lợi nhuận thu về từ việc tiêu thụ sản phẩm, cho thấy việc sử
dụng tài sản ngắn hạn là không tốt.
Khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số thanh toán
tức thời
=
Tiền và các khoản tương đương tiền
Tổng số nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp có
đủ khả năng trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn đến hạn hay không. Trong đó các
khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc
đáo hạn không quá 3 tháng, dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định mà
không có rủi ro khi chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời

Tài sản ngắn hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao
nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là tốt.
Hoặc cho biết 1 đồng giá trị tài sản ngắn hạn đầu tư trong kỳ thu được bao nhiêu đồng
doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ, chỉ
tiêu càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh, thể hiện hiệu quả sử dụng tài
sản ngắn hạn càng lớn.
Trong đó:
Tài sản ngắn hạn
bình quân
=
TSNH đầu kỳ + TSNH cuối kỳ
2
Vòng quay tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh số lần quay vòng của tài sản
ngắn hạn trong một chu kỳ nhất định. Nói cách khác chỉ tiêu này cho chúng ta thấy
được bình quân một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Nếu chỉ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp đã có những đầu tư hợp lý vào hàng hóa,
thành phẩm, tốc độ thu hồi nợ nhanh,… cho thấy khả năng sử dụng tài sản ngắn hạn
tại doanh nghiệp đang vận hành tốt và hợp lý. Ngược lại nếu chỉ số này thấp chứng tỏ
doanh nghiệp chưa có những chính sách hợp lý để sử dụng tài sản ngắn hạn như chính
sách hàng tồn kho chưa hợp lý, tồn quỹ tiền mặt nhiều, nợ phải thu lớn…. thể hiện khả
năng sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp kém và còn nhiều sai sót.
Thời gian luân
chuyển TSNH
=
365
Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của tài sản ngắn hạn hết bao nhiêu ngày.
Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ các tài sản ngắn hạn vận động nhanh, góp phần nâng
cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời cho thấy doanh nghiệp đang

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng
quay hàng tồn kho
=
365
Số vòng quay hàng tồn kho
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho cho biết một vòng quay của hàng tồn kho
hết mất bao nhiêu ngày. Nếu chỉ số này càng nhỏ chứng tỏ vòng quay của hàng tồn
kho càng nhanh, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc tăng
tốc độ luân chuyển hàng tồn kho cũng đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian dự trữ
thành phẩm ở các khâu sản xuất khác, điều này giúp cho doanh nghiệp giảm đi được
một số chi phí bảo quản, giảm được giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp dễ dàng
Thang Long University Library
20
cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, số ngày một vòng quay hàng tồn kho nhỏ còn
thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp cao và ngược lại, nếu số
vòng quay hàng tồn kho lớn cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp thấp.
Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản
phải thu
=
Doanh thu thuần
Các khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích báo cáo các khoản phải thu quay được
bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp
thời, ít bị chiếm dụng vốn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao có thể phương thức thanh toán tiền của doanh
nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng hàng hóa tiêu thụ, từ đó sẽ
làm giảm thu nhập và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.

nghiệp
Các nhân tố khách quan 1.2.4.1.
Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp, có những lúc thúc đẩy doanh
nghiệp phát triển nhưng có lúc kìm hãm sự phát triển của nó. Sự tác động đó không
thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp do vậy khi gặp những nhân tố này các doanh
nghiệp luôn phải tự điều chỉnh mình cho phù hợp với tác động đó.
Sự quản lý của Nhà nước
Sự quản lý của Nhà nước ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh
nghiệp. Bất kì một sự thay đổi nào trong chính sách hiện hành đều có thể ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các
chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và chính sách tín dụng có thể ảnh hưởng tới tiền
và các khoản tương đương tiền và các khoản phải thu. Bên cạnh đó, chính sách thuế
đối với từng mặt hàng có thể ảnh hưởng tới lượng tiêu thụ hàng tồn kho của doanh
nghiệp theo từng mặt hàng tương ứng. Vì vậy, nếu Nhà nước có các chính sách hợp lý
thì có thể thúc đẩy và mang lại hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp
theo từng mặt hàng và từng ngành nghề kinh doanh.
Khoa học – Công nghệ
Sự tiến bộ của Khoa học - Công nghệ sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng
cao năng lực sản xuất, giảm bớt chi phí. Nhờ những thiết bị khoa học hiện đại mà
người lao động sẽ được giải phóng sức lao động kéo theo năng suất sẽ tăng lên rất
nhiều trong cùng một khoảng thời gian. Đối với nước ta, do có xuất phát điểm về Khoa
hoc- Công nghệ chưa cao thì việc áp dụng các thành tựu lớn của thế giới vào công việc
kinh doanh sản xuất còn gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, các doanh nghiệp vẫn luôn phải
theo dõi sự cập nhật, phát triển của Khoa học - Công nghệ để có thể áp dụng những
thành tựu đó vào công việc và đạt được hiệu quả cao nhất trong việc sử dụng các máy
móc, trang thiết bị của mình.
Sự thay đổi, nâng cấp trang thiết bị sẽ giúp cho các thành phẩm, hàng hóa của
doanh nghiệp có chất lượng tốt hơn và số lượng nhiều hơn. Đồng thời, các sản phẩm
được cải tiến tốt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh trên thị trường, đem lại nguồn thu lớn
cho doanh nghiệp sau một chu kỳ kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản

Các nhân tố chủ quan 1.2.4.2.
Cơ sở vật chất hạ tầng của doanh nghiệp
Ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt doanh nghiệp
cần có hệ thống cơ sở hạ tầng (trụ sở làm việc, chi nhánh, cơ sở sản xuất, hệ thống bán
hàng…) được bố trí hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạn một
cách hiệu quả hơn, làm cho quá trình sản xuất được diễn ra nhanh chóng. Ngược lại
với hệ thống máy móc không tốt sẽ không tận dụng được hết giá trị của nguyên vật
liệu thậm chí còn sản xuất ra những sản phẩm kém chất lượng, làm ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
23
Từ những phân tích trên, có thể thấy cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng tới hiệu quả sử
dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Nếu cơ sở hạ tầng tốt, máy móc thiết bị vận
hành tốt, các kho chứa đảm bảo chất lượng, sẽ nâng cao chất lượng hàng hóa, thành
phẩm và đem lại nguồn thu cũng như sự cạnh tranh cho doanh nghiệp. Từ đó nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Mục đích lựa chọn dự án đầu tư
Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy khả năng
không chắc chắn giá trị trong tương lai. Mỗi doanh nghiệp có những lĩnh vực ngành
nghề kinh doanh khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh
doanh dài, có những doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn, điều đó ảnh
hưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn.
Việc thực hiện dự án đầu tư của mỗi doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến lượng tài sản
ngắn hạn, mức dự trữ dành cho các chu kỳ, và lượng tiền mặt doanh nghiệp cần giữ
cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài
thì thời gian thu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ
kinh doanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản cũng được rút ngắn lại. Vòng quay tài
sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanh thu
cũng tăng lên, làm cho lợi nhuận doanh nghiệp tăng, điều đó thể hiện hiệu quả sử dụng
tài sản ngắn hạn tăng.
Năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh

ngắn hạn của doanh nghiệp không cao.
25
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN
HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH VÀ THIẾT BỊ
GIÁO DỤC MIỀN BẮC
2.1. Khái quát chung về Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục miền Bắc
Lịch sử ra đời và phát triển của Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục 2.1.1.
miền Bắc.
Tên đơn vị (Tiếng Việt): Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục miền Bắc
Tên đơn vị (Tiếng Anh): North Books and Educational Equipment Joint Stock
Company
Tên viết tắt: NBEE., JSC
Mã số thuế: 0104546308
Trụ sở chính: 187B Giảng Võ, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: (04) 35121933
Fax: (04) 35123581
Email:
Website: www.stbmienbac.vn
Chủ tịch HĐQT: Ông Huỳnh Bá Vân
Tổng giám đốc: Ông Đinh Khắc Cao
Phó TGĐ: Bà Nguyễn Thị Mơ
Kế toán trưởng: Bà Hoàng Thị Thanh Tâm
Vốn điều lệ tính đến 31/12/2013: 50.000.000.000 đồng
Quy mô tài sản tính đến 31/12/2013: 69.966.976.733 đồng
Cơ quan chủ quản: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục miền Bắc là đơn vị thành viên của
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, được tách từ Nhà xuất bản Giáo dục tại Hà Nội.
Công ty bắt đầu hoạt động từ tháng 4 năm 2010 với vốn điều lệ là 50 tỷ đồng. Công ty
có nhiệm vụ tổ chức in ấn, phát hành, cung ứng SGK, STK, thiết bị giáo dục cho nhà
trường và cung cấp cho thư viện trường học các tỉnh, thành phố phía Bắc từ Hà Tĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status