Phần I
giới thiệu chuyên đề
đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế đang chuyển dịch từ
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Kết quả của sự đổi mới đã mang lại
cho nền kinh tế nước ta những thay đổi đáng kể, đó là tổng thu nhập quốc dân
không ngừng tăng, nền kinh tế tăng trưởng rõ rệt, đời sống của người dân theo
đó cũng không ngừng được nâng cao. Nhưng sự chuyển dịch nền kinh tế từ
nông nghiệp sang công nghiệp cũng kéo theo những bất cập, một trong số đó là
diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do nhu cầu đất phục vụ cho công nghiệp
tăng cao. Diện tích đất ngày càng bị thu hẹp để xây dựng khu công nghiệp, khu
đô thị, dùng làm đất thổ cư… thực trạng này đã làm cho giá đất tăng cao, có thời
kỳ thị trường bất động sản lên “cơn sốt” trầm trọng, cũng từ đó làm phát sinh
nạn tham ô đất công, tranh chấp khiếu kiện về đất đai ngày một nhiều.
Văn Giang là một huyện giáp Hà Nội với dự án xây dựng khu đô thị ven đô
nên vấn đề về đất đai có nhiều bức xúc đã và đang được các cấp chính quyền địa
phương giải quyết theo trình tự thủ tục luật định. Trong nội dung chuyên đề em
có nêu ra thực trạng về giải quyết tranh chấp đất đai tại địa phương và một số
nhận xét kiến nghị nhằm làm cho người dân hiểu biết rõ hơn những quy định
của luật đất đai năm 2003 và BLTTDS năm 2004, từ đó làm giảm bớt tranh
chấp, khiếu kiện của người dân. với lượng kiến thức có hạn nên chuyên đề còn
nhiều thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của quý thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Phần II
Quá trình tìm hiểu, thu thập thông tin
1. quá trình tìm hiểu, thu thập thông tin.
Quá trình tìm hiểu thu thập thông tin để phục vụ cho chuyên đề của em bắt
đầu ngay từ ngày đầu về thực tập tại TAND huyện Văn Giang. Với sự giúp đỡ,
chỉ bảo nhiệt tình của Chánh án và cán bộ TAND Huyện Văn Giang em đã tiến
hành thu thập các thông tin số liệu từ sổ thụ lý các vụ án dân sự, hồ sơ các vụ án
dân sự, báo cáo năm của Toà án, cộng với kiến thức thu thập được qua đài, báo,
nghiệp có sự chuyển dịch đáng kể từ 2004 – 2006. nhưng từ năm 2006 sang năm
2007 có sự chuyển dịch rõ rệt, năm 2007 đất phi nông nghiệp tăng hơn so với
năm 2006 là 488,85 ha. Có sự chuyển dịch này là do Huyện Văn Giang thực
hiện xây dựng dự án Khu thương mại dịch vụ Văn Giang và Khu tổ hợp dịch vụ
thương mại Văn Giang theo Quyết định số 1505/2007/QĐ - UBND ngày
31/8/2007 của UBND Tỉnh Hưng Yên về việc phê duyệt qui hoạch chi tiết tỷ lệ
1/2000 Khu thương mại dịch vụ Văn Giang và Khu tổ hợp dịch vụ thương mại
Văn Giang. Dự án xây dựng khu tổ hợp dịch vụ thương mại Văn Giang được
xây dựng trên 2 xã Long Hưng và Nghĩa Trụ với tổng diện tích 180 ha, dự án
xây dựng Khu thương mại dịch vụ Văn Giang được xây dựng trên 3 xã Xuân
Quan, Phụng Công, Cửu Cao với diện tích 250 ha. Dự án này đã gặp phải nhiều
khó khăn trong quá trình tiến hành đền bù đất và giải phóng mặt bằng. hầu hết
diện tích của dự án nằm trên đắt trồng lúa và hoa màu của người dân, với tâm lý
không muốn thu hẹp diện tích sản xuất lương thực vì đây là nguồn thu chính
cộng với giá đất đền bù mà UBND đưa ra là quá thấp so với giá thị trường nên
người không đồng ý giao đất. đầu năm 2007 người dân 2 xã Cửu Cao và Phụng
Công đã kéo đến biểu tình và đập phá UBND Huyện và xúc phạm danh dự của
cán bộ Huyện. Vụ việc này nhiều tháng sau mới giải quyết xong. Nhưng sang
3
đầu năm 2008 người dân xã Cửu Cao lại kéo nhau lên UBND xã biểu tình với lý
do không được thông báo trước về dự án. Cho đến nay dự án vẫn chưa tiến hành
khởi công, vẫn đang còn nằm trên quy hoạch.
Đây cũng là bài học trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Đất đai cũng như Luật khiếu nại, tố cáo tới người dân cho các cấp lãnh đạo
huyện Văn Giang. lẽ ra trước khi tiến hành thu hồi, đền bù đất UBND Huyện
Văn Giang phải tiến hành phổ biến nội dung dự án tới người dân, giải thích cho
người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình đồng thời thương lượng trước về
giá đền bù đất…bởi đất đai là thuộc sở hữu toàn dân nhưng do Nhà nước quản
lý.
3. thực tiễn thụ lý, lập hồ sơ, hoà giải, xét xử vụ án tranh chấp đất đai của
quyền thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 162 NĐ 181 thì đương sự có
quyền khiếu nại theo thủ tục hành chính. Đối với trường hợp hoà giải thành khác
pháp luật chưa có quy định cơ quan nào có thẩm quyền ra quyết định công nhận,
trình tự công nhận, hiệu lực bắt buộc các bên thực hiện biên bản hoà giải thành
đó. Nếu sau khi UBND hoà giải thành mà 1 hoặc 2 bên đương sự đã đổi ý thì coi
như việc hoà giải không thành và không bắt buộc UBND phải hoà giải lại, việc
giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của Toà án. Tất cả các tranh chấp QSD
đất mà TAND Huyện Văn Giang đã thụ lý và giải quyết hàng năm đều đã qua
hoà giải ở cơ sở. Trước khi vào sổ thụ lý TAND đã xác định rõ thẩm quyền theo
quy định từ Điều 25 đến Điều 36 BLTTDS 2004. về thẩm quyền theo cấp
TAND Huyện Văn Giang là 1 trong 4 Toà Huyện của Tỉnh Hưng Yên đã được
tăng thẩm quyền theo quy định tại NQ số 293A/2007/UBTVQH12 về việc giao
thẩm quyền xét xử vụ án hình sự quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm
2003 và thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 BLTTDS
năm 2004 cho các TAND Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tuy đã
được tăng thẩm quyền nhưng đối với các trường hợp sau TAND Huyện Văn
Giang vẫn không có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33
BLTTDS, đó là:
5
+ có đương sự ở nước ngoài.
+ Có tài sản đang tranh chấp ở nước ngoài.
+ Phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.
Sau khi thụ lý Toà án lại tiến hành hoà giải theo quy định tại Điều 180, Điều 185
BLTTDS. Nhưng do tính chất phức tạp của tranh chấp QSD đất nên hầu hết các
tranh chấp mà Toà án hoà giải đều không thành và đã được đưa ra xét xử.
Ví dụ 1: Vụ án kiện chia thừa kế QSD đất được TAND Huyện Văn Giang
vào sổ thụ lý ngày 18/4/2005.
1. nguyên đơn: - Nguyễn Thị Hồng. SN 1961.
Trú tại: Đa Ngưu – Tân Tiến – Văn Giang
- Nguyễn Thị Hợi. SN 1959.
năm 1998 anh Tiến chị Thuý và 2 con vẫn tiếp tục ở trên nhà đất của cụ Đoài, cụ
Đoài chưa làm thủ tục sang tên nhà đất cho chị Thuý. Trong quá trình sử dụng
chị Thuý được cấp GCNQSD đất. Do phát sinh mâu thuẫn các nguyên đơn kiện
yêu cầu chia di sản thừa kế là QSD đất do ông Đoài bà Lệ để lại cho em dâu là
chị Thuý. Chị Thuý được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất trong đó có
227m² đất thổ cư và 144m² đất vườn. Qua quá trình xác minh điều tra và xét xử,
tại Bản án số 25 ngày 10/10/2006 của TAND Huyện Văn Giang quyết định:
- Định giá 227m² đất thổ cư = 210.700.000 đồng (giá chuyển nhượng là
900.000/m²)
- Vợ chồng chị Thuý được chia 1/2 kỷ phần thừa kế. Di sản thừa kế được chia
thành 5,5 phần, mỗi phần trị giá 38.309.000 đồng.
- Chia 227m² đất thổ cư như sau:
+ Chia cho bà Nguyễn Thị Vạn, Nguyễn Thị Hồng mỗi người được
82,6m²=74.340.000 đồng.
+ Chia cho chị Thuý quản lý và sử dụng phần còn lại 62m². trong phạm vi
đất được chia các bên có quyền sử dụng tài sản trên đất và có trách nhiệm mở
lối đi trên phần đất của mình.
- Kiến nghị huỷ GCNQSD đất mang tên Tạ Thị Thuý.
- Về án phí: + Nguyễn Thị Vạn, Nguyễn Thị Hồng phải nộp 3.717.000
đồng.
+ Tạ Thị Thuý phải nộp 2.790.000 đồng.
7